nghiên cứu hành vi ứng xử của nông hộ đối với rủi ro trong chăn nuôi tại xã an bình, huyện thuận thành, tỉnh bắc ninh - Pdf 14

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học hàm, học vị nào.
Tôi cam đoan rằng: Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.
Hà nội, ngày 18 tháng 05 năm 2008
Người cam đoan
Nguyễn Thị Tâm
1
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này ngoài sự cố gắng nỗ lực của
bản là sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo cũng như sự động viên giúp
đỡ của các tổ chức tập thể, gia đình, bạn bè.
Qua đây tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo
Trường ĐHNN Hà Nội nói chung, Ban chủ nhiệm và các thầy cô giáo khoa
Kinh tế và Phát triển nông thôn nói riêng đã giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi
trong quá trình học tập tại trường. Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn thầy
giáo Nguyễn Hữu Khánh, người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn tôi hoàn
thành luận văn.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới UBND xã An Bình đã tạo điều kiện cho
tôi nghiên cứu thực hiện đề tài.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và những
người than đã động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi hoàn thành khoá học và thực
hiện đề tài.
Do thời gian nghiên cứu hạn chế và bản thân còn ít kinh nghiệm nên
không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự động viên, đóng góp ý
kiến của thầy cô, gia đình, bạn bè.
Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2008.
Sinh viên
Nguyễn Thị Tâm

Bảng 4.9: Giá trị TB, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất của thu
nhập các hộ gặp rủi ro Error: Reference source not found
DANH MỤC HÌNH
4
Hình 2.1: Các quyết định sản xuất trong điều kiện có rủi ro Error: Reference
source not found
Hình 2.2: Sự lựa chọn liên quan đến rủi ro Error: Reference source not found
Hình 2.3: Các đường bàng quan về rủi ro và thu nhập kỳ vọng Error:
Reference source not found
Hình 4.1: Rủi ro xuất hiện trên địa bàn Error: Reference source not found
5
v
DANH MỤC VIẾT TẮT
TB : trung bình
UBND : Uỷ ban nhân dân
CC : Cơ cấu
BQ : Bình quân
SL : Số lượng
GTSX : Giá trị sản xuất
CN- TTCN : Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp
TM- DV : Thương mại dịch vụ
LĐ : Lao động
NN : Nông nghiệp
ĐVT : Đơn vị tính
TĂ : Thức ăn
Tr.đ : Triệu đồng
NXB : Nhà xuất bản
6
v
PHẦN I

tài: “Nghiên cứu hành vi ứng xử của nông hộ đối với rủi ro trong chăn
nuôi tại xã An Bình, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu hành vi ứng xử của nông hộ đối với rủi ro trong chăn nuôi
tại xã An Bình, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
• Hệ thống hoá cơ sở lí luận về rủi ro và quản lý rủi ro trong sản xuất
nông nghiệp.
• Tìm hiểu thực trạng rủi ro trong chăn nuôi xảy ra trên địa bàn xã.
• Phân tích các biện pháp để thích ứng, đối phó với rủi ro trong chăn
nuôi của nông hộ trên địa bàn xã.
• Đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong chăn nuôi ở các nông
hộ.
1.3 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: Từ 10/1/2008 đến 10/5/2008.
Không gian: Điạ bàn xã An Bình- huyện Thuận Thành- tỉnh Bắc Ninh.
8
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ LÝ LUẬN
2.1.1 Cơ sở lý luận về rủi ro
2.1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Một trong những thách thức lớn nhất đối với các hộ nông dân là thường
xuyên gặp rủi ro trong sản xuất cũng như trong đời sống. Rủi ro sẽ tác động
trực tiếp đến quyết định của người nông dân, nó ảnh hưởng đến lợi ích của
người nông dân. Vì thế, vấn đề rủi ro ngày càng trở thành một vấn đề đáng
quan tâm của tất cả các ngành và phần lớn nông hộ. Từ rủi ro trong phân tích
kinh tế được dùng để đề cập tới tình trạng một quyết định có thể có nhiều kết
quả với các khả năng khác nhau. Nhưng trước tiên cần phân biệt hai khái

đối với các nước chậm phát triển, nơi có thị trường không hoàn thiện và thiếu
thông tin. Với thời gian như vậy đủ để tác động đến các yếu tố quyết định
cung và cầu của sản phẩm này trên thị trường. Ảnh hưởng này đến nông hộ
thể hiện qua việc giá cả sản phẩm khi bán trên thị trường với giá cả được kỳ
vọng trước khi sản xuất là rất khác biệt.
Hậu quả của nó có thể được mùa nhưng doanh thu từ sản phẩm thấp do
sản lượng tăng nhưng giá giảm lớn hơn mức tăng của sản lượng, hoặc sản
lượng thấp nhưng giá cả lại cao đủ để làm cho doanh thu tăng lên. Điều đặc
biệt quan trọng thể hiện đa số thị trường nông sản là thị trường cạnh tranh
hoàn hảo, giá cả là một biến ngoại sinh trong việc ra quyết định của nông hộ.
Chính vì điều này, sự can thiệp của Nhà nước thông qua lượng cầu, can thiệp
giá đối với thị trường nông sản khi có sự biến động quá lớn là cần thiết nhằm
ổn định đời sống và sản xuất đối với ngành này.
10
Sự không chắc chắn về xã hội
Sự không chắc chắn về xã hội liên quan đến việc kiểm soát các nguồn
lực sản xuất và sự lệ thuộc của một số nông dân vào những người khác. Điều
này xảy ra khi không có sự công bằng trong quyền sở hữu đất đai và các
nguồn lực khác. Sự không chắc chắn về xã hội do tính chất của xã hội quyết
định nên nó có mức độ khác nhau giữa các vùng hoặc các nước khác nhau.
Sự không chắc chắn về con người
Không ai có thể biết trước được sức khoẻ của mình cũng như các thành
viên trong gia đình trong tương lai. Vì vậy, điều này cũng được coi là sự
không chắc chắn về con người.
Những sự không chắc chắn như trên dẫn đến người nông dân không
tình nguyện chấp nhận sự đổi mới kỹ thuật, ngại đầu tư cho sản xuất hoặc tiếp
nhận một cách chậm chạp để tăng sự thích nghi với những điều không chắc
chắn. Điều đó cũng làm tăng thêm sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội nông
thôn.
 Rủi ro (risk)

Xã hội càng phát triển, hoạt động con người ngày càng đa dạng, phong
phú và phức tạp thì rủi ro ngày càng nhiều và đa dạng, mỗi ngày lại xuất hiện
những rủi ro mới, chưa từng có trong quá khứ. Con người cũng quan tâm đến
việc nghiên cứu rủi ro và quá trình nghiên cứu đó nhận thức về rủi ro đã thay
đổi và trở nên trung hoà hơn.
Đào Thế Tuấn (1997) đã nhận định về rủi ro theo cách trung hòa hơn.
Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, nó liên quan đến việc xuất hiện
những biến cố không mong đợi. Đó là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả.
Rủi ro có thể xuất hiện trong hầu hết mọi hoạt động của con người. Khi có rủi
ro, người ta không thể dự đoán được chính xác kết quả. Sự hiện diện của rủi
12
ro gây nên sự bất định. Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào một hành động
dẫn đến khả năng được hoặc mất không thể dự đoán trước.
Phạm Văn Minh (2007) đã đưa ra định nghĩa về rủi ro đó là một tình
huống trong đó một quyết định có thể có nhiều hơn một kết quả, người ra
quyết định biết tất cả các kết quả và xác suất xảy ra các kết quả đó.
Như vậy theo các quan điểm này thì rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được.
Từ các quan điểm trên cho thấy có sự khác nhau khi nhìn nhận về rủi ro, điều
này có thể hiểu là do cách đánh giá ở từng khía cạnh, từng lĩnh vực của sản
xuất và đời sống ở mỗi thời điểm xảy ra rủi ro. Bên cạnh đó, do rủi ro xảy ra
nhiều lần trong đời sống của con người cho nên những bất trắc xảy ra thì có
thể đo lường được chúng.
Rủi ro xảy ra do nhiều nguyên nhân nhưng bất kể nguyên nhân gì, khi
xảy ra rủi ro thường gây cho con người những khó khăn trong cuộc sống như
mất hoặc giảm thu nhập, phá hoại nhiều tài sản, làm ngừng trệ sản xuất và ảnh
hưởng đến đời sống kinh tế xã hội nói chung. Trong nghiên cứu của chúng tôi
chủ yếu là nhìn nhận rủi ro theo trường phái truyền thống, bởi vì với nông hộ thì
họ quan niệm rủi ro tức là sự không may, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của họ.
Hơn nữa với nông dân cũng không có những ghi chép liên tục về các sự kiện đã
xảy ra nên khó có thể tính ra xác suất chính xác.

cộng thêm sự bấp bênh trong đời sống mà có nhiều nguyên nhân gây ra rủi
ro cho người nông dân.
Phạm Thị Mỹ Dung (2002) nhìn nhận rủi ro trong sản xuất nông
nghiệp ở các khía cạnh, bao gồm:
Rủi ro xảy ra do thiên nhiên: Các nguyên nhân có nguồn gốc thiên nhiên
bao gồm các yếu tố liên quan đến thời tiết khí hậu như hạn hán, lũ lụt; các loại
dịch bệnh, sâu bệnh Nhóm nguyên nhân này gây ra do tự nhiên tạo ra là chủ
yếu. Do sự tác động của điều kiện tự nhiên đã gây ra sự biến động về sản
14
lượng của các hộ nông dân. Sự biến động về sản lượng là nguyên nhân chủ
yếu dẫn đến sự không ổn định trong thu nhập của người nông dân.
Rủi ro do thị trường tiêu thụ sản phẩm: Nguyên nhân của tình trạng rủi ro này
chủ yếu do sự biến động của giá cả. Sản xuất nông nghiệp có đặc thù là tính thời vụ
nên giá cả thường có xu hướng biến động. Giá cả nông sản vào vụ thu hoạch rộ
thường giảm làm cho thu nhập của người sản xuất giảm theo, hay những năm
được mùa thì giá lại thấp đi, hoặc có một dạng khác là sản xuất quá nhiều làm
cung vượt quá cầu. Giá cả thay đổi cũng làm cho người nông dân gặp nhiều
rủi ro. Trước khi họ bắt đầu sản xuất thì người nông dân thường kỳ vọng sản
phẩm sản xuất ra sẽ bán được với mức giá cao nhưng do nhiều yếu tố tác
động như chu kỳ của sản phẩm nông nghiệp kéo dài, cung sản phẩm có tính
chậm muộn hay các vấn đề về chất lượng sản phẩm không đảm bảo , từ đó
làm giá sản phẩm có xu hướng giảm so với dự kiến. Điều đó gây ra cho các
hộ tâm lý chung là rất sợ đầu tư lớn vào nông nghiệp, bởi ngoài rủi ro do thiên
nhiên thì loại rủi ro này mang đến cho các hộ không ít những khó khăn về mặt
tài chính.
Rủi ro do chính sách của nhà nước: Nguyên nhân này xuất phát từ việc
thay đổi quy hoạch xây dựng vùng, diện tích đất của nông hộ bị chuyển đổi
mục đích sử dụng để xây dựng nhà máy, khu đô thị làm cho nhiều nông dân
mất đất nông nghiệp, nên nhiều vùng dân phải thu non sản phẩm hoặc có khi
không được thu hoạch. Rủi ro trong trường hợp này nếu không có sự quản lý,

nghiệp có nhiều đặc điểm khác hẳn so với các ngành kinh tế khác. Sự khác
nhau ở đây xuất phát từ những đặc điểm riêng có của sản xuất nông nghiệp và
nông dân. Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất quan trọng, cung cấp
lương thực và thực phẩm cho con người, nguyên liệu cho ngành công nghiệp
chế biến và là hàng hoá để xuất khẩu. Nông nghiệp cũng là ngành thu hút
nhiều lao động xã hội, góp phần giải quyết công ăn việc làm và đồng thời còn
16
là một ngành đóng góp không nhỏ vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Một
trong những khó khăn, thách thức lớn nhất đối với sản phẩm nông nghiệp là
vấn đề rủi ro. Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp nên đã làm cho mức độ
rủi ro trong nông nghiệp thường cao hơn so với các hoạt động trong các lĩnh
vực khác. Bao gồm những đặc điểm sau:
+ Sản xuất nông nghiệp thường trải trên một phạm vi rộng lớn và hầu
hết lại tiến hành ngoài trời, vì thế nó chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tự
nhiên. Mặc dù trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng tiên tiến và hiện đại, con
người ngày càng chế ngự được nhiều những ảnh hưởng xấu của tự nhiên
nhưng mâu thuẫn giữa con người với lực lượng tự nhiên vẫn tồn tại trong sản
xuất nông nghiệp. Hàng năm điều kiện tự nhiên vẫn luôn đe doạ và gây tổn
thất lớn cho quá trình sản xuất nông nghiệp.
+ Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những cơ thể sống như cây
trồng, vật nuôi. Chúng không chỉ chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, mà
còn chịu sự tác động của các quy luật sinh học. Đó là các quy luật: Đồng hoá,
dị hoá, biến dị, di truyền, quy luật về thời gian sinh trưởng và cho sản phẩm.
Vì vậy, xác suất rủi ro trong nông nghiệp đã lớn lại càng lớn hơn so với nhiều
ngành sản xuất khác.
+ Chu kỳ sản xuất của nông nghiệp thường kéo dài, thời gian lao động
và thời gian sản xuất lại không trùng nhau, do đó việc đánh giá, kiểm soát
việc phòng ngừa và quản lý rủi ro là khó thực hiện.
+ Trong nông nghiệp có nhiều loại cây trồng vật nuôi khác nhau, mỗi
loại thường gặp những rủi ro khác nhau. Thậm chí có những loại rủi ro mà

ra. Những rủi ro này thường dẫn đến những thiệt hại to lớn về người và của.
Nó có thể tác động đến năng suất mùa màng (rủi ro trong sản xuất) và cả sản
phẩm cất trữ trong kho (rủi ro trong bảo quản).
18
+ Rủi ro xã hội: Sự thay đổi các chuẩn mực giá trị, hành vi con người,
cấu trúc xã hội, các định chế là một nguồn rủi ro rất lớn. Nếu không nắm
được điều này sẽ có thể gánh chịu những thiệt hại nặng nề.
+ Rủi ro kinh tế: Là những rủi ro do môi trường kinh tế gây ra như: Tốc
độ phát triển kinh tế, khủng hoảng, suy thoái kinh tế, lạm phát
Phân loại theo mức độ rủi ro
+ Rủi ro cá nhân: Rủi ro chỉ ảnh hưởng đến một cá nhân nào đó
+ Rủi ro cộng đồng: Rủi ro ảnh hưởng đến cả cộng đồng
Phân loại theo mức độ xuất hiện của rủi ro:
+ Rủi ro riêng rẽ: Chỉ xuất hiện một rủi ro.
+ Rủi ro dây chuyền: Rủi ro này xuất hiện kéo theo những rủi ro khác.
+ Rủi ro kết hợp: Đó là sự kểt hợp nhiều loại rủi ro với nhau.
Phạm Sỹ An (2005) chia rủi ro trong nông nghiệp gồm 2 loại đó là:
+ Rủi ro công nghệ: Rủi ro này xảy ra khi triển khai áp dụng thất bại
giống mới hay kỹ thuật mới vào sản xuất. Loại rủi ro này thường làm giảm
sản lượng trong nông nghiệp thậm chí gây mất trắng.
+ Rủi ro giá cả: Do giá cả thay đổi thất thường trên thị trường quốc tế.
Giá cả được quyết định bởi cung và cầu trên thị trường.
2.1.1.4Ứng xử của nông dân với rủi ro
Trước tiên cần hiểu ứng xử là gì? để từ đó thấy được sự cần thiết đối
với người nông dân là phải ứng xử với những rủi ro xảy ra. Theo từ điển
Tiếng Việt (2000) ứng xử là có thái độ, hành động, lời nói thích hợp trong
việc xử sự. Còn trong từ điển tâm lý, các soạn giả lại cho rằng hai từ ứng xử
và hành vi thường thay thế cho nhau. Từ ứng xử chỉ mọi phản ứng của con
người khi một yếu tố nào đó trong môi trường kích thích các yếu tố bên ngoài
và tình trạng bên trong gộp thành một tình huống và tiến trình ứng xử để kích

hộ đầu tư như thế nào và lãi lỗ ra sao khi mà rủi ro xảy ra và khi không có rủi
ro. Ở mức đầu vào X
1
, giả định nông hộ sản xuất gặp điều kiện thuận lợi, họ
thu được sản lượng cao coi như được mùa khi đó phần lãi thu được tương ứng
20
khoảng (ab), phần lỗ do rủi ro tương ứng khoảng (bj). Trong trường hợp này
nông hộ đưa ra quyết định chấp nhận rủi ro để thu được phần lãi nhiều hơn.
Ở mức đầu vào X
2
, nông hộ sản xuất trong điều kiện có rủi ro và không
có rủi ro đều thu được lãi tương ứng hai khoảng đó là (ce) và (de) và không bị
lỗ. Nhưng trong trường hợp này tổng doanh thu hộ thu được thấp nhất, do vậy
nông hộ có hướng ứng xử chống lại rủi ro để tăng doanh thu.
Ở mức đầu vào X
E
, nông hộ sản xuất với tổng chi phí TC, trong điều
kiện không có rủi ro, hộ thu được phần lãi tương ứng khoảng (fh), khoảng này
thấp hơn khoảng lãi (ab) ở mức đầu vào X
1
. Trong điều kiện có rủi ro, hộ sản
xuất chịu khoản lỗ (hi) thấp hơn phần lỗ (bj). Trường hợp này nông hộ có thái
độ bàng quan với rủi ro.
Các ứng xử của nông hộ
Đầu vào Không rủi ro Có rủi ro Loại ứng xử
X
1
Lãi = ab Lỗ= bj Chịu rủi ro
X
2

Đầu vào (X)X
1
X
E
X
2
0
Nguồn: Đặng Văn Tiến (2006)
22
a
f
c g
d
e
h
i
b
j
TR
1
E(TR)
TC
TR
2
Đầu vào (X)X
1
X
E
X
2

U(I
B
)
U(I
2
)
Ích lợi U
I
2
I
A
I I
B
I
1
Thu nhập I
D
A
E
B
C
Chống rủi ro
Trung lập với rủi ro
Chấp nhận rủi ro
1 1 2 2
1 1 2 2
( ) ( ) ( )
( )
E U P U I P U I
E U P I P I

24
EMV bằng tổng của các tích của các kết quả và xác suất xảy ra của
chúng và tất cả các kết quả có thể xảy ra đều được tính đến:
EMV
=

PiVi
Trong đó :
P
i
- Xác suất của kết quả thứ i
V
i
- Giá trị của kết quả thứ i
Việc sử dụng giá trị kỳ vọng tồn tại những hạn chế: Nếu giá trị bằng
tiền kỳ vọng sử dụng làm tiêu thức ra quyết định thì người ra quyết định hợp
lý luôn luôn chọn được hành động đem lại giá trị dự kiến cao nhất. Mặc dù về
mặt cảm tính ta có thể thấy đây là một cách có ý nghĩa để ra quyết định nhưng
việc vận dụng nó có kết luận vô nghĩa.
2.1.2.2 Ích lợi và thái độ với rủi ro
Nếu thay tiêu thức giá trị kỳ vọng bằng ích lợi kỳ vọng( EU), lúc đó
mgười ra quyết định sẽ chọn hành động nào đem lại EU cao nhất.
EU
=
ii
Up

Trong đó :
p
i


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status