Nghiên cứu một số chỉ số sinh học và hoạt động thần kinh cấp cao của học sinh tiểu học và trung học cơ sở xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh - Pdf 29

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

LÊ THỊ NHỊ

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ SỐ
SINH HỌC VÀ HOẠT ĐỘNG THẦN KINH
CẤP CAO CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC VÀ
TRUNG HỌC CƠ SỞ XÃ ĐÌNH TỔ,
HUYỆN THUẬN THÀNH,
TỈNH BẮC NINH

Chuyên ngành : Sinh học thực nghiệm
Mã số : 60 42 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS TRẦN THỊ LOAN

Lê Th Nh

3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và kết quả
nêu trong luận văn là chân thực và chưa từng được công bố trong bất cứ một công
trình khoa học nào.

Tác giả
Lê Thị Nhị
4

MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu viết
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, đồ thị

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

5
CHỮ VIẾT TẮT
TƯ : Trung ương
BMI : Chỉ số khối cơ thể (Body mass index)
cs : Cộng sự
HSSH : Hằng số sinh học
IQ : Intelligence Quotient (Chỉ số thông minh)
Nxb : Nhà xuất bản
SD : Standard Diviation (Độ lệch chuẩn)
THCS : Trung học cơ sở
MA : Tuổi trí tuệ
CA : Tuổi thực
WHO : Tổ chức Y tế thế giới
6
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
Bảng 2.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi và giới tính
Bảng 2.2. Phân loại theo chỉ số pignet
Bảng 2.3. Bảng phân loại theo chỉ số BMI
Bảng 2.4. Phân loại theo mức trí tuệ
Bảng 3.1. Chiều cao (cm) của học sinh nam
Bảng 3.2. Chiều cao (cm) của học sinh nữ
Bảng 3.3. Chiều cao (cm) của học sinh theo giới tính
Bảng 3.4. Cân nặng (kg) của học sinh nam
Bảng 3.5. Cân nặng (kg) của học sinh nữ
7 8
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ TRONG LUẬN VĂN
Hình 3.1. Chiều cao (cm) của học sinh nam
Hình 3.2. Chiều cao (cm) của học sinh nữ
Hình 3.3. Chiều cao (cm) của học sinh theo giới tính
Hình 3.4. Mức tăng chiều cao (cm) của học sinh theo giới tính
Hình 3.5. Cân nặng (kg) của học sinh nam
Hình 3.6. Cân nặng (kg) của học sinh nữ
Hình 3.7. Cân nặng (kg) của học sinh theo giới tính
Hình 3.8. Mức tăng cân nặng (kg) của học sinh theo giới tính
Hình 3.9. Vòng ngực trung bình (cm) của học sinh nam
Hình 3.10. Vòng ngực trung bình (cm) của học sinh nữ
Hình 3.11. Vòng ngực trung bình (cm) của học sinh theo giới tính
Hình 3.12. Mức tăng vòng ngực trung bình (cm) của học sinh
theo giới tính
Hình 3.13. Chỉ số pignet của học sinh theo giới tính

hiện đại hoá đất nước. Chính vì vậy, trong các văn kiện đại hội VIII và nghị quyết
TƯ II của Đảng về giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ đã khẳng định “Giáo
dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách
hàng đầu”. Muốn xây dựng đất nước giàu mạnh văn minh phải có những con người
phát triển toàn diện về mặt trí tuệ, đạo đức, lối sống mà còn phải cường tráng về thể
chất. Hơn thế nữa, soạn giả Đông Các Đại Học Sỹ Thân Nhân Trung đã từng viết:
“Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Nguyên khí vững thế nước mạnh và thịnh.
Nguyên khí kém thế nước yếu và suy”, (Trích trong bia văn miếu Quốc tử giám).
Vì vậy, việc nâng cao chất lượng giáo dục là một nhu cầu thiết yếu của mỗi
quốc gia, mỗi dân tộc và ở mọi thời đại. Các biện pháp nâng cao chất lượng giáo
dục và đào tạo chỉ được đưa ra một cách đúng đắn và phù hợp với thực tế của từng
địa phương trên cơ sở có các kết quả điều tra cơ bản về sự phát triển thể lực và trí
lực của học sinh.
Bắc Ninh là tỉnh nằm ở phía Bắc của thủ đô Hà Nội và đang trên đà đô thị
hoá, công nghiệp hóa rất mạnh. Do vậy, nhu cầu về nguồn lao động có sức khoẻ có
trình độ khoa học kỹ thuật là rất lớn. Với truyền thống hiếu học của đất Kinh Bắc
xưa, trong những năm gần đây nền giáo dục Bắc Ninh đang hoà chung cùng với sự
phát triển của công tác giáo dục và đào tạo trong toàn quốc. Để có phương pháp tác
động tối ưu nhất đến sự phát triển toàn diện của con người ở Bắc Ninh chúng tôi
chọn đề tài: “Nghiên cứu một số chỉ số sinh học và hoạt động thần kinh cấp cao
của học sinh tiểu học và trung học cơ sở xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh
Bắc Ninh.”
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được các chỉ số thể lực của học sinh tiểu học và trung học cơ sở
10
- Xác định được các chỉ số trí tuệ của học sinh tiểu học và trung học cơ sở.
- Xác định được các chỉ số trí nhớ của học sinh tiểu học và trung học cơ sở.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu được các chỉ số thể lực của học sinh như chiều cao, cân nặng,
vòng ngực, chỉ số pignet và chỉ số BMI.

cách khác, thể lực con người là một chỉ tiêu phức hợp. Thể lực của con người được
phản ánh qua những số đo kích thước cơ bản của cơ thể như chiều cao, cân nặng,
vòng ngực, chỉ số pignet, chỉ số BMI. Các chỉ số này, phản ánh sự tăng trưởng của
cơ thể con người từ lức mới sinh đến lúc chết đồng thời mang tính di truyền của
mỗi dân tộc và từng cá thể [70].
Trong các chỉ số trên, chiều cao là dấu hiệu được nhận biết sớm hơn cả, nó là
một trong những kích thước được sử dụng trong hầu hết các lĩnh vực của nhân trắc
học. Chiều cao phản ánh quá trình phát triển của các xương (xương đầu, xương
12
thân, xương chi), chiều cao nói lên tầm vóc của một người. Chiều cao mang đặc
tính của từng chủng tộc, giới tính và chịu ảnh hưởng của môi trường sống.
Trọng lượng cơ thể cũng là một số đo thường được sử dụng trong tất cả các
công tác điều tra cơ bản cũng như hàng ngày. “Trọng lượng là biểu hiện thực chất
của thể lực” [14]. Trọng lượng cơ thể gồm có 2 phần: là phần cố định và phần thay
đổi. Phần cố định bao gồm: xương, da, các tạng và thần kinh chiếm 1/3 tổng số cân
nặng của cơ thể. Phần còn lại chiếm 2/3 tổng số cân nặng là phần thay đổi, trong đó
trọng lượng cơ chiếm 3/4 còn 1/4 là mỡ và nước. Như vậy, khi tăng trọng lượng thì
phần thay đổi chủ yếu là cơ. Trọng lượng cơ thể liên quan chặt chẽ tới dinh dưỡng
ít phụ thuộc vào di truyền. Mặc dù trọng lượng cơ thể không nói nên tầm vóc của
con người nhưng sự phát triển của nó liên quan đến nhiều kích thước khác nên
thường được khảo sát để đánh giá thể lực [14].
Một đặc trưng tiêu biểu khác của thể lực là vòng ngực. Một người có vòng
ngực rộng thì có thể lực tốt [46].
Việc nghiên cứu thể lực đã có từ rất lâu đời nhưng sang đến đầu thế kỷ 20
nhà nhân trắc học R.Martin được coi là người đặt nền móng cho nhân trắc học hiện
đại với hai cuốn sách nổi tiếng của mình là “Giáo trình về nhân học” và “Chỉ nam
đo đạc cơ thể và xử lý thống kê”. Ông đã đưa ra các phương pháp đo đạc cơ thể, có
những phương pháp được sử dụng cho đến ngày nay (theo [51]).
Năm 1962, tác giả P.N. Baskirop đã xuất bản cuốn sách “Học thuyết về sự
phát triển cơ thể người”. Từ đó, ông nhận thấy rằng sự phát triển của cơ thể con

Tác giả Trịnh Văn Minh và cs [60] đã nghiên cứu các chỉ tiêu nhân trắc hình
thái thể lực người miền Bắc Việt Nam trưởng thành trong thập niên 90. Kết quả
nghiên cứu của các tác giả này cho thấy, sau tuổi dậy thì ở lứa tuổi thanh niên các
kích thước hình thái thể lực của cơ thể vẫn tiếp tục tăng và đạt đỉnh cao vào lúc 20
– 21 tuổi ở nữ và 22 tuổi ở nam. Trong giai đoạn này, chiều cao, cân nặng và các
kích thước liên quan đến thể lực của nam giới luôn cao hơn so với nữ giới, còn các
14
chỉ số hình thái khác liên quan đến dinh dưỡng, khối mỡ thì ở nữ lại cao hơn so với
nam.
Trong đề tài KX – 07 – 07, Lê Nam Trà và cs nhận thấy, không chỉ ở trẻ em
mà ngay cả ở thanh niên trong giai đoạn từ 18 – 25 tuổi cơ thể vẫn tiếp tục tăng
trưởng. Tuy nhiên, mức độ tăng trưởng không nhiều như ở những giai đoạn trước
đó. Đến tuổi 25, ở cả hai giới các chỉ số thể lực ổn định như ở tuổi trưởng thành
[70].
Khi nghiên cứu các chỉ số nhân trắc trên 8000 người Việt Nam từ 1 – 55
tuổi trên toàn quốc, Thẩm Thị Hoàng Điêp và cs [19] đã thu được kết quả: Chiều
cao trung bình của nam trưởng thành là 163 cm và ở nữ là 158 cm. Chiều cao của
nam tăng nhanh đến 18 tuổi, còn của nữ tăng nhanh đến 14 tuổi. Vòng ngực trung
bình của nam trưởng thành là 78 cm và của nữ là 79 cm.
Đào Huy Khuê [33] nghiên cứu các đặc điểm về kích thước hình thái, về sự
tăng trưởng và sự phát triển cơ thể của học sinh phổ thông 6 – 17 tuổi ở thị xã Hà
Đông cũng nhận thấy, các chỉ số hình thái của học sinh tăng dần theo tuổi, nhưng
tốc độ tăng không đồng đều giữa các năm.
Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng [66] đã tiến hành nghiên cứu 17 chỉ số hình
thái của người Việt Nam từ 1 – 25 tuổi ở tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Kết quả nghiên
cứu cho thấy, các chỉ số về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu… của cư dân
Nghệ Tĩnh phần lớn thấp hơn so với các chỉ số này của dân cư vùng đồng bằng Bắc
Bộ. Tác giả còn nhận thấy, có sự khác biệt về các chỉ số hình thái thể lực theo giới
tính. Ở tất cả các độ tuổi, chiều cao của nam luôn lớn hơn của nữ. Theo tác giả,
điều kiện sống đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển các chỉ số hình thái

khác nhau.
1.2. Các chỉ số hoạt động thần kinh cấp cao
1.2.1. Đặc điểm về trí tuệ
16
Theo tiếng Latinh, trí tuệ (Intellectus) có nghĩa là hiểu biết, thông tuệ. Theo
“Từ điển tiếng Việt” [64], trí tuệ là khả năng nhận thức lý tính đạt đến một trình độ
nhất định. Trí tuệ là khả năng hoạt động trí óc của con người. Vì vậy, việc nghiên
cứu trí tuệ là một trong số những vấn đề liên ngành được nhiều người quan tâm.
Các nhà khoa học đã dùng thuật ngữ “năng lực trí tuệ” để biểu thị cho năng lực
hoạt động của chủ thể. Xung quanh vấn đề này, có rất nhiều quan điểm khác nhau.
Muốn nghiên cứu và đánh giá trí tuệ thì trước tiên phải hiểu khái niệm về trí tuệ, có
rất nhiều quan điểm về trí tuệ.
Theo F.Raynal, A.Rieunier (theo [35]), trí tuệ là khả năng xử lý thông tin để
giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng, thích nghi với tình huống mới.
Còn N.Sillamy (theo [35]), thì cho rằng trí tuệ là khả năng hiểu các quan hệ
sẵn có giữa các yếu tố của tình huống và thích nghi để thực hiện lợi ích của bản
thân.
Đa số các nhà tâm lý học (theo [35]) thì cho rằng, trí tuệ là khả năng giải đáp
các vấn đề mới bằng cách thích nghi kinh nghiệm và tri thức riêng với tình huống
cụ thể và thoát khỏi các khó khăn gặp phải ngoài các phương thức đã học.
Tác giả nguyễn Khắc Viện (theo [35]), thì gọi intelligent là “Trí” mang nhiều
nghĩa về khả năng hiểu biết, suy luận, sáng tạo. Ông cho rằng, hành động thích
nghi với biến động của hoàn cảnh thiên về hành động thì gọi là trí khôn, thiên về tư
duy trừu tượng thì gọi là trí tuệ.
Tác giả E.Thordike (theo [68]) thì cho rằng, có ít nhất 3 kiểu trí tuệ. Đó là trí
tuệ trừu tượng, trí tuệ thực tiễn và trí tuệ sáng tạo.
Dearben thì coi trọng năng lực luyện tập, L.Terman nhấn mạnh vào năng lực
tư duy trừu tượng (theo [68]). Stern (1952) lại cho rằng, trí tuệ là năng lực thích
ứng với ngoại cảnh, A.Binet (theo [68]) lại xem năng lực trí tuệ gồm nhiều năng
lực riêng rẽ, còn N.X.Laytex cho rằng: “Năng lực trí tuệ trước hết phản ánh bản

khả năng hoạt động trí óc của con người. Tuy nhiên, các thuật ngữ trên không đồng
18
nhất với nhau. “Trí khôn”, “trí thông minh”, “trí lực” là các phạm trù hẹp hơn nằm
trong nội hàm trí tuệ.
Đánh giá năng lực trí tuệ của con người là một vấn đề rất phức tạp. Có nhiều
phương pháp đo lường trí tuệ khác nhau như quan sát, điều tra, thực nghiệm, trắc
nghiệm …Tuy nhiên, phương pháp được sử dụng phổ biến hơn cả là phương pháp
trắc nghiệm (test). Mục đích của trắc nghiệm trí tuệ là xác định được năng lực trí
tuệ của con người qua các chỉ số cơ bản như chỉ số IQ và mức trí tuệ.
Năm 1905, A.Binet và T.Simon đã dùng test nghiên cứu trí tuệ để phân biệt
trẻ em học kém bình thường với trẻ em học kém do trí tuệ phát triển chậm (theo
[69]). Sau đó, test nghiên cứu trí tuệ của A.Binet và T.Simon đã được cải tiến nhiều
lần để dùng cho trẻ em và người lớn.
Năm 1912, V.Stern đã đưa ra cách tính chỉ số thông minh để đánh giá trình
độ phát triển trí tuệ của trẻ em ở từng độ tuổi (theo [69]). Theo ông, chỉ số IQ là
thương số giữa tuổi trí tuệ (MA) và tuổi thực tính theo ngày tháng năm sinh (CA).
R. Meili đã dùng test trí tuệ vào công việc tư vấn học đường và tư vấn nghề
nghiệp (theo [69]).
Để nghiên cứu trình độ phát triển trí tuệ của trẻ em, người ta còn sử dụng
nhiều loại test đo lường trí tuệ khác như test phân tích nghiên cứu trí tuệ của Meili
(1828), test khuôn hình tiếp diễn của Raven (1936), test trí tuệ đa dạng của Gille
(1944), test trí thông minh của người lớn WAIS (1955) của D. Wechslerr, test cấu
trúc trí tuệ của Anthauer (1953) (theo [69]).
Như vậy, test đã trở thành phương pháp cơ bản của khoa học chẩn đoán trí
tuệ từ cuối thế kỷ XIX đến nay.
Việc nghiên cứu trí tuệ ở Việt Nam được tiến hành chậm hơn so với thế giới.
Trước năm 1975, việc nghiên cứu trí tuệ của con người chưa được quan tâm nhiều.
Chỉ có rất ít công trình được thực hiện trong nghành Y tế với mục đích chẩn đoán
trí tuệ của bệnh tâm thần ở một số bệnh viện [68]. Từ cuối thập niên 80 cho đến
nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu trí tuệ của người Việt Nam.

BMI nhưng mối tương quan này không chặt chẽ. Chỉ số thông minh (IQ) của học
sinh có mối tương quan thuận với trí nhớ và năng lực học tập của các em [51].
1.2. Đặc điểm về trí nhớ
Trí nhớ là hình thức hoạt động liên quan đến toàn bộ đời sống tâm lý của con
người và là thành phần quan trọng của trí tuệ. Trí nhớ là sự tiếp nhận, sự tái tạo
những sự vật những hiện tượng mà con người đã cảm giác, đã suy nghĩ, đã hành
động. Trí nhớ của con người có bản chất là sự hình thành các đường liên hệ thần
kinh tạm thời, lưu giữ và tái hiện chung các cảm giác đơn lẻ được tạo ra khi các sự
vật, hiện tượng trong thế giới khách quan tác động vào cơ thể. Trên cơ sở các cảm
giác đơn lẻ, não đã phân tích, tổng hợp để cho tri giác trọn vẹn các sự vật hiện
tượng và để lại dấu vết của chúng trên vỏ não [67].
Các nhà khoa học đã chia trí nhớ thành hai nhóm chính là trí nhớ dài hạn và
trí nhớ ngắn hạn. Trong đó, trí nhớ dài hạn là sự lưu giữ thông tin trong một khoảng
thời gian dài, như trong vài ngày, vài tuần hoặc lâu hơn. Nó liên quan đến sự thay
đổi bền vững về mặt vi thể hình thành các protein hoạt hoá. Còn trí nhớ ngắn hạn,
là sự lưu giữ thông tin trong khoảng thời gian ngắn, có khi chỉ đến vài giây. Nó liên
quan đến sự lưu thông hưng phấn trong các vùng noron [37], [38]. Có nhiều quan
điểm khác nhau để lí giải cơ chế ghi nhớ.
Hyden thì cho rằng, cơ sở của trí nhớ là sự thay đổi trong cấu trúc của phân
tử axit ribonucleic (theo [52]). Để giải thích cơ sở sinh lý học của trí nhớ, Tạ Thúy
Lan cho rằng, khi một kích thích nào đó tác động nhiều lần vào vùng noron sẽ làm
xuất hiện các điện thế hoạt động đặc trưng cho nó và làm thay đổi sự cân bằng ion
trong sinh chất của tế bào thần kinh liên hợp, Từ đó, hoạt hoá axit deoxyribonucleic
(AND) trong nhân tế bào, làm thay đổi cấu trúc của nó theo một cách nhất định
nhằm tạo ra axit ribonucleic (ARN), ARN trung gian đặc biệt sẽ tham gia vào quá
trình hình thành protein trong sinh chất đặc trưng cho từng cá thể. Protein đặc biệt
xuất hiện dưới tác động của các xung điện với tần số thay đổi theo một cách nhất
định có thể tồn tại trong một khoảng thời gian dài và có thể tái hiện lại. Việc cải tổ
21
ARN và hình thành protein đặc trưng xảy ra ngay từ lần kích thích đầu tiên và tồn

huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh với độ tuổi từ 7 – 15. Tất cả các đối tượng
nghiên cứu có sức khoẻ và trạng thái tâm lý bình thường. Tổng số đối tượng nghiên
cứu là 987 học sinh, trong đó có 520 nam và 467 nữ. Trong tổng số 987 học sinh
có 528 học sinh tiểu học và 459 học sinh trung học cơ sở. Sự phân bố đối tượng
theo tuổi và giới tính được trình bày trong bảng 2.1.
Bảng 2.1. Phân bố đối tượng theo tuổi và giới tính
Tuổi Nam Nữ Chung
7 44 50 94
8 56 47 103
9 49 61 110
10 60 48 108
11 53 60 113
12 67 49 116
13 62 52 114
14 61 54 115
15 68 46 114
Tổng số 520 467 987

23
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Các chỉ số được nghiên cứu
- Chỉ số về hình thái thể lực gồm 5 chỉ số:
+ Chiều cao đứng
+ Cân nặng (trọng lượng cơ thể)
+ Vòng ngực trung bình
+ Chỉ số pignet
+ Chỉ số BMI.
- Các chỉ số hoạt động thần kinh cấp cao gồm 4 chỉ số:
+ Chỉ số IQ
+ Sự phân bố học sinh theo các mức trí tuệ

3 29,0 – 34,9 Khỏe
4 35,0 – 41,0 Trung bình
5 41,1 – 47,0 Yếu
6 47,1 – 53,0 Rất yếu
7 > 53,0 Cực yếu

- Chỉ số BMI được tính theo công thức sau:

BMI =

Chỉ số BMI được đánh giá theo tiêu chuẩn của Tổ Chức Y tế thế giới (WHO)
(theo [70]).
Bảng 2.3. Phân loại chỉ số BMI
Cân nặng (kg)
[Chiều cao (m)]
2

25
Số TT Chỉ số BMI Loại
1 < 18,5 Gầy
2 18,5 – 22,9 Bình thường
3 ≥ 23,0 Béo
4 + 23,0 – 24,9 Có nguy cơ
5 + 25,0 – 29,9 Béo độ 1
6 + ≥ 30,0 Béo độ 2

2.2.2.2. Phương pháp nghiên cứu các chỉ số hoạt động thần kinh cấp cao
- Trí tuệ: Được xác định bằng phương pháp trắc nghiệm và sử dụng test
“Khuôn hình tiếp diễn” của Raven loại A, B, C, D và E (dùng cho người từ 6 tuổi
trở lên).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status