ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN VĂN HAI
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN TIÊU CHÍ VỀ BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG TRONG ĐỀ ÁN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI
XÃ AN BÌNH, HUYỆN THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
Hà Nội, Năm 2016
ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN VĂN HAI
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN TIÊU CHÍ VỀ BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG TRONG ĐỀ ÁN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI
XÃ AN BÌNH, HUYỆN THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
Ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Mã ngành: D850101
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS. Nguyễn Thị Hoài Thương
Hà Nội, Năm 2016
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC BẢNG
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Trong tình hình đất nước đang phát triển một cách nhanh chóng để trở thành
một nước phát triển trong khu vực thì sự chênh lệch về đời sống kinh tế, xã hội giữa
thành thị và nông thôn càng gia tăng. Trong những năm qua, nước ta có tốc độ đô
thị hóa khá nhanh, tuy nhiên cho đến nay có khoảng 66,9% dân số sống ở vùng
nông thôn. Chính vì thế cuộc sống và tổ chức nông thôn ảnh hưởng rất mạnh mẽ
đến toàn xã hội. Trong những năm gần đây, cơ sở hạ tầng nông thôn được nâng cấp,
xây dựng mới đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn truyền thống. Đời sống vật chất
của đại bộ phận cư dân nông thôn đã được cải thiện, nâng cao. Bên cạnh mặt tích
cực cũng đã xuất hiện những biến đổi tiêu cực gây bức xúc trong xã hội. Nông thôn
hiện nay được xây dựng một cách tự phát, thiếu quy hoạch. Môi trường làng quê
luôn trong tình trạng bị ô nhiễm nếu thiếu sự quản lý sát sao của cán bộ môi trường
và ý thức của người dân về vấn đề bảo vệ môi trường chưa thực sự cao.
Trong hội nghị lần thứ 7 của ban chấp hành Trung ương khóa 10 về nông
nghiệp, nông dân, nông thôn số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 đã chỉ ra mục tiêu tổng
quát về xây dựng nông thôn mới là: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức hợp lý, gắn nông
nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch, xã hội
nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, dân trí được nâng cao, môi trường
sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn được tăng cường.
Là một trong 8 địa phương được UBND tỉnh Bắc Ninh chọn làm xã điểm xây
dựng nông thôn mới. Sau hơn 3 năm triển khai, An Bình đã đạt được tất cả 19/19
tiêu chí theo Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng NTM, trong đó nhiều tiêu chí đã đạt
từ năm 2011. Bộ mặt nông thôn của An Bình đã khởi sắc trên nhiều lĩnh vực Tổng
thu nhập toàn xã năm 2013 đạt gần 250 tỷ đồng, 6/6 đơn vị đạt danh hiệu làng văn
hóa, tỷ lệ hộ nghèo giảm dưới 3%. Các giá trị đầu tư xây dựng NTM được nhân
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một sô khái niệm cơ bản
Nông thôn
Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông
nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Nông thôn có thể được xem xét trên nhiều góc độ: kinh
tế, chính trị, văn hoá, xã hội... Kinh tế nông thôn là một khu vực của nền kinh tế gắn
liền với địa bàn nông thôn. Kinh tế nông thôn vừa mang những đặc trưng chung của
nền kinh tế về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, về cơ chế kinh tế... vừa có
những đặc điểm riêng gắn liền với nông nghiệp, nông thôn.
Xét về mặt kinh tế - kỹ thuật, kinh tế nông thôn có thể bao gồm nhiều ngành
kinh tế như: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp, dịch vụ...
trong đó nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu. Xét về mặt
kinh tế - xã hội, kinh tế nông thôn cũng bao gồm nhiều thành phần kinh tế: kinh tế
nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể... Xét về không gian và lãnh thổ, kinh tế
nông thôn bao gồm các vùng như: vùng chuyên canh lúa, vùng chuyên canh cây
màu, vùng trồng cây ăn quả... [9]
Nông thôn mới
Xây dựng NTM là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư
ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp;
phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn
hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất,
tinh thần của người dân được nâng cao.
Xây dựng NTM là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ
thống chính trị. NTM không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế chính trị tổng hợp.
Xây dựng NTM giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ,
đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh.
Theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/T.Ư của Trung ương, NTM là khu vực nông
thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các
hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công
nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông
Khái niệm môi trường hiện nay vẫn chưa được đưa ra chuẩn xác nhất, vẫn còn
nhiều quan điểm khác nhau và chưa đi đến thông nhất chung. Theo luật bảo vệ môi
trường năm 2014 thì “ môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân
tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.” [5]
Hoạt động bảo vệ môi trường
Là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường;
ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi
trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong
lành. [5]
9
10
Ô nhiễm môi trường
Là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn
kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và
sinh vật. [5]
Suy thoái môi trường
Là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh
hưởng xấu đến con người và sinh vật. [5]
1.1.2. Nguyên tắc và nội dung bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM
Nguyên tắc xây dựng NTM
- Xây dựng Nông thôn mới theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của
cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban
hành các tiêu chí, quy chuẩn, đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ, hướng dẫn. Các
hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết
định và tổ chức thực hiện.
theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp
Tiêu chí 2: Giao thông
Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp
kỹ thuật của Bộ GTVT
Tỷ lệ km đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ
GTVT
Tỷ lệ km đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa
Tỷ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện
Tiêu chí 3: Thủy lợi
Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh
Tỷ lệ km kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa
Tiêu chí 4: Điện
Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện
Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn
Tiêu chí 5: Trường học
Tỷ lệ trường học các cấp: mầm non, mẫu giáo, tiểu học, THCS có cơ sở vật chất đạt
chuẩn quốc gia
Tiêu chí 6: Cơ sở vật chất văn hóa
Nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ VH-TT-DL
Tỷ lệ thôn có nhà văn hóa và khu thể thao thôn đạt quy định của Bộ VH-TT-DL
Tiêu chí 7: Chợ nông thôn
Chợ đạt chuẩn của Bộ Xây dựng
Tiêu chí 8: Bưu điện
Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông
Có Internet đến thôn
Tiêu chí 9: Nhà ở dân cư
Nhà tạm, dột nát
Tỷ lệ hộ có nhà ở đạt tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng
Tiêu chí 10: Thu nhập
Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch
Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định
Tiêu chí 18: Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh
Cán bộ xã đạt chuẩn
Có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định
Đản bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn "trong sạch, vững mạnh"
Các tổ chức đoàn thể chính trị của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên
Tiêu chí 19: An ninh, trật tự xã hội được giữ vững
An ninh, trật tự xã hội được giữ vững
Nội dung tiêu chí 17 về môi trường ( gồm có 5 chỉ tiêu)
Tiêu chí số 17 là tiêu chí về môi trường trong bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng
NTM theo Quyết định số 491/2009/QĐ – TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng
Chính phủ ban hành bộ tiêu chí quốc gia về NTM.
Vai trò và ý nghĩa của tiêu chí môi trường: xây dựng, củng cố, bảo vệ môi
trường, du lịch sinh thái. Bảo vệ rùng đầu nguồn, chống ô nhiễm nguồn nước, môi
trường không khí và chất thải từ các khu công nghiệp để nông thôn phát triển bền
vững.
Xã để được công nhận là NTM thì cần phải đạt được 5 chỉ tiêu sau đây:
Chỉ tiêu sô 1: tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy định đạt
mức quy định của vùng:
13
-
-
-
Chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh là chuồng trại đáp ứng các yêu cầu: nằm cách
biệt với nhà ở; chất thải chăn nuôi (phân, nước tiểu) được thu gom xử lý; không xả,
chảy tràn trên bề mặt đất; không gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường xung
quanh.
Chỉ tiêu số 3: Đường làng, ngõ xóm, cảnh quan từng hộ xanh – sạch – đẹp,
không có hoạt động làm suy giảm ô nhiễm môi trường:
Đạt tiêu chí đường làng, ngõ xóm, cảnh quan từng hộ xanh – sạch – đẹp,
không có hoạt động làm suy giảm ô nhiễm môi trường khi đáp ứng các yêu cầu:
Đường làng, ngõ xóm xanh – sạch – đẹp.
Trên 90% số hộ đã thực hiện cải tạo vườn, chỉnh trang hàng rào, cổng không lầy lội;
Không có cơ sở sản xuất kinh doanh ( chăn nuôi, chế biến thực phẩm, sản xuất nghề
tiểu thủ công nghiệp, buôn bán phế liệu) gây ô nhiễm môi trường.
Chỉ tiêu số 4: Nghĩa trang có quy hoạch và quản lý theo quy hoạch
14
-
-
-
Mỗi thôn, liên thôn hoặc xã, liên xã có quy hoạch đất làm nghĩa trang lâu dài
phù hợp với tập quán của địa phương (trừ nơi có tập quán an táng không có nghĩa
trang);
Có Quy chế quản lý nghĩa trang;
Việc tang người chết phải được được thực hiện phù hợp với tín ngưỡng, phong tục,
tập quán tốt, truyền thông văn hóa và nếp sống văn minh hiện đại.
Chỉ tiêu số 5: Chất thải, nước thải thu gom và xử lý theo quy định
Rác thải, chất thải, nước thải được thu gom và xử lý là:
Những kết quả nổi bật
Báo cáo tại hội nghị toàn quốc tổng kế 5 năm thực hiện Chương trình mục tiêu
quốc gia xây dựng NTM cho thấy, chương trình đã đạt được kết quả to lớn, bộ mặt
nông thôn đã đổi thay tích cực, phong trào xây dựng NTM đã được người dân
hưởng ứng và trở thành phong trào rộng khắp cả nước.
Từ chỗ số đông còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào đầu tư của Nhà nước đã
chuyển sang chủ động, tự tin tham gia tích cực vào xây dựng NTM. Năng lực đội
ngũ cán bộ vận hành chương trình, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cơ sở, đã được nâng
lên rõ rệt, nhận thức đầy đủ hơn và tổ chức thực hiện chương trình có hiệu quả hơn,
nhất là trong việc xây dựng dự án, vận động quần chúng và tổ chức, thực hiện dự
án.
Nhiều địa phương đã cụ thể hóa các chính sách của Trung ương, chủ động
ban hành cơ chế, chính sách phù hợp với điều kiện của địa phương. Hệ thống hạ
tầng nông thôn phát triển mạnh mẽ, làm thay đổi bộ mặt nhiều vùng nông thôn.
Điều kiện sống cả về vật chất và tinh thần của nhiều khu vực dân cư nông thôn
được nâng cao rõ rệt.
Sản xuất nông nghiệp hàng hóa được coi trọng và có chuyển biến, góp phần
tích cực nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn. Vai trò của các tổ chức Đảng,
chính quyền, đoàn thể ở nhiều nơi được phát huy, dân chủ ở nông thôn được nâng
lên về chất.
Tính đến hết tháng 11/2015, cả nước có 1.298 xã (14,5%) được công nhận
đạt chuẩn NTM, trong đó:
-
93,1% số xã đạt quy hoạch chung;
-
Quyết định công nhận đạt chuẩn NTM là: Huyện Xuân Lộc, Thống Nhất, thị xã
Long Khánh (Đồng Nai), Củ Chi, Hóc Môn, Nhà Bè (TPHCM), Đông Triều
(Quảng Ninh), Hải Hậu (Nam Định), Đơn Dương (Lâm Đồng), Đan Phượng (TP.
Hà Nội), thị xã Ngã Bảy (Hậu Giang).
Mức thu nhập bình quân đầu người vùng nông thôn đã đạt 24,4 triệu đồng/năm
(tăng khoảng 1,9 lần so với năm 2010). [7]
Những điểm còn hạn chế
-
-
-
Bên cạnh những kết quả đạt được thì vẫn còn những điểm còn hạn chế:
Tiến độ triển khai nhìn chung vẫn còn chậm so với mục tiêu, yêu cầu; nhận thức của
một bộ phận cán bộ, đảng viên và người dân về những nội dung thiết yếu của
Chương trình còn chưa đầy đủ, việc quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền ở
một số nơi chưa thường xuyên, sâu sát; một số cơ chế, chính sách, không phù hợp,
chậm được bổ xung điều chỉnh, sửa đổi; công tác sơ kết, nhân rộng mô hình chưa
được thường xuyên, kịp thời; bộ máy giúp việc Ban chỉ đạo ở một số địa phương
còn chưa đủ mạnh.
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới phương thức tổ chức mô hình sản xuất
theo nông nghiệp đang có xu hướng chậm lại; sản xuất nông nghiệp chậm phát triển
theo hướng hiện đại, thiếu tính bền vững; quy mô sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ,
chưa gắn đước sản xuất với chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu; nghiên cứu, chuyển
giao, ứng dụng tiến độ khoa học, công nghệ vào sản xuất nông nghiệp chưa được
coi trọng. Đào tạo nghề cho nông dân chưa đáp ứng được yêu cầu.
Tỷ lệ hộ nghèo cả nước tuy có giảm nhưng vẫn cao, thu nhập và mức sống của nông
dân còn khó khăn; tình trạng ô nhiễm môi trường ở nông thôn chưa được giải quyết
nguồn lực đa dạng; việc huy động, đóng góp của người dân phải được thực hiện
trên cơ sở thực sự tự nguyện, bàn bạc dân chủ, không gượng ép quá sức dân. [7]
1.2.2. Tình hình xây dựng NTM tại huyện Thuận Thành
Sau 5 năm triển khai thực hiện, chương trình xây dựng NTM đã làm thay đổi
nhận thức của đa số người dân trên địa bàn huyện, từ số đông còn chủ động còn tư
tưởng trông chờ, ỷ lại vào đầu tư của Nhà nước đã chuyển sang chủ động tham gia
tích cực vào xây dựng NTM. Hệ thống hạ tầng nông thôn phát triển mạnh mẽ, điều
kiện sống cả về vật chất và tinh thần của số lượng lớn dân cư nông thôn được nâng
cao rõ rệt. Thu thập bình quân đầu người năm 2015 đạt 30,5 triệu đồng/người/năm;
Tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn (theo tiêu chí mới) giảm xuống còn 3,52%. Sản
xuất nông nghiệp hàng hóa được coi trọng và có chuyển biến, góp phần tích cự
nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn. Vai trò của các tổ chức Đảng, chính
18
quyền, đoàn thể được phát huy, dân chủ ở nông thôn được nâng lên. Kết quả đạt
được từ chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM đã góp phần tích cực thức
đẩy kinh tế xã hội toàn huyện phát triển.
Để nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, những năm qua, huyện
Thuận Thành tập trung đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn. Với sự hỗ trợ
của Nhà nước cùng sự chung tay góp sức của cộng đồng, trong 5 năm (từ năm 2010
đến 2015) có 385 hạng mục, công trình được đầu tư xây dựng với tổng kinh phí
1.790 tỷ đồng, trong đó có 288 hạng mục, công trình giao thông nông thôn với tổng
kinh phí gần 1.000 tỷ đồng; 28 hạng mục, công trình thủy lợi với tổng kinh phí xấp
xỉ 80 tỷ đồng; 80 hạng mục, công trình trường học với tổng kinh phí gần 430 tỷ
đồng; 21 hạng mục, công trình văn hóa với tổng kinh phí hơn 53 tỷ đồng; 17 hạng
mục, công trình y tế với tổng kinh phí hơn 70 tỷ đồng và nhiều công trình, cơ sở hạ
tầng thuộc các lĩnh vực khác.
Cùng với đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo diện mạo mới cho khu vực
nông thôn, huyện còn chú trọng chỉ đạo người dân thực hiện nhiệm vụ phát triển
Sau khi tiếp thu kế hoạch xây dựng NTM của các cấp triển khai, Đảng ủy đã
xây dựng nghị quyết lãnh đạo nhiệm vụ xây dựng NTM, UBND xã thành lập ban
quản lý chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM, xây dựng NTM theo
đúng mục tiêu các cấp xác định đảm bảo sát với thực tế của cơ sở.
Công tác tuyên truyền: Đảng , chính quyền , các đoàn thể nhân dân tích cực
tập trung tuyên truyền bằng nhiều hình thức đến nhân dân để nhân dân hiểu rõ mục
đích, ý nghĩa và nhiệm vụ xây dựng NTM.
Công tác đào tạo, tập huấn: Ban quản lý NTM của xã tham gia đầy đủ các đợt
tập huấn chuyên đề về xây dựng NTM do các cấp tổ chức. ban quản lý NTM của xã
đi thực tế học tập mô hình kinh nghiệm xây dựng NTM của đơn vị điểm toàn quốc.
[1]
a. Kết quả huy động nguồn lực xây dựng NTM:
Bảng 1.1. Kinh phí thực hiện chương trình xây dựng NTM xã Song Hồ
STT
1
2
3
4
5
6
Nguồn ngân sách
Ngân sách Trung ương
Ngân sách tỉnh
Ngân sách huyện
Ngân sách xã
Doan nghiệp
Người dân đóng góp
Tổng
-
+ Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định.
Kết quả thực hiện tiêu chí:
+ Tình hình tổ chức triển khai thực hiện: Tuyên truyền về 5 tiêu chí thực hiện
về môi trường
+ Các nội dung đã thực hiện: Đề nghị các cấp xây dựng trạm cấp nước sạch
cho người dân (Hiện nay có trên 70% số hộ đang dùng nước ngầm tự khoan). Các
cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường không có. Đường làng, ngõ xóm, cảnh quan
từng hộ luôn sach – sạch – đẹp. nghĩa trang 4 thôn xây dựng có quy hoạch và quản
lý theo quy hoạch. Chất thải, nước thải được thu gom đúng quy định. [1]
+ Khối lượng thực hiện:
Bảng 1.2. Ngân sách sử dụng cho tiêu chí môi trường tại xã Song Hồ
ST
T
1
3
5
Nguồn ngân sách
Ngân sách tỉnh
Ngân sách xã
Người dân đóng góp
Tổng
Tổng tiền
(triệu đồng)
hoạch.
Chất thải rắn, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định. Công tác thu gom,
vận chuyển rác thải thường xuyên được quan tâm chỉ đạo, cơ bản không có hiện
tượng tập kết rác thải bừa bãi, không đúng nơi quy định gây mất vệ sinh môi
trường. Các tổ đội thu gom rác thải hoạt động đung quy chế, hiệu quả, việc tập kết
rác thải tại 2 điểm trung chuyển thường xuyên được quan tâm thu dọn, quản lý và
sử dụng hiệu quả.
21
Quán triệt và thực hiện nghiêm túc quy định của pháp luật về bảo vệ môi
trường, quy định của các cấp gắn với đặc thù của địa phương có khu, cụm công
nghiệp, khu trung tâm trợ Dâu, các cơ quan, đơn vị, trường học đóng trên địa bàn để
thường xuyên tuyên truyền về 5 yêu cầu thực hiện các tiêu chí về môi trương.
- Tích cực vận động người dân tham gia dự án cấp nước sạch cụm 5 xã ( Đình Tổ,
Đại Đồng Thành, Thanh Khương, Hà Mãn, Xuân Lâm). Hiện nay có 2/5 thôn đang
lắp đặt hệ thống đường ống mạng cấp nước, các thôn còn lại đang vận động nhân
dân đăng ký, nộp tiền để tham gia dự án. [1]
Xã Đại Đồng Thành
- Đảng ủy, HĐND, UBND xã đã triển khai quán triệt kế hoạch các văn bản, nghị
quyết của trung ương, tỉnh, huyện, đề án của xã về chương trình mục tiêu quốc gia
xây dựng NTM tới toàn thể cán bộ đảng viên và nhân dân trong xã.
- BCĐ xây dựng NTM chỉ đạo hướng dẫn đôn đốc các thôn, thực hiện tốt các kế
hoạch chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM.
- Tổ chức các hội nghị truyền thông sâu rộng tới các ban ngành đoàn thể, trên hệ
thống đài truyện hình của xã, thôn về kế hoạch đề án xây dựng NTM.
- Hộ gia đình sử dụng nước sạch hợp vệ sinh là 2932/2992 hộ đạt 98%.
- Tổng số doanh nghiệp cơ sở sản xuất kinh doanh về môi trường 209/209 cơ sở, đạt
100% cơ sở đảm bảo hợp vệ sinh môi trường.
thống cổng, tường rào, sân vườn được 100% các hộ củng cố, nâng cấp luôn đảm
bảo sạch đẹp.
- 4/4 thôn trên địa bàn xã đều có quy hoạch nghĩa trang, nghĩa địa, việc chôn cất, cải
táng người qua đời được thực hiện đúng theo quy định.
Đặc biệt là từ khi nghị quyết số 20, 22 của HĐND tỉnh về thực hiện nếp sống
văn minh trong việc cưới, việc tang. Nhân dân xã Đình Tổ thực hiện việc điện táng,
hỏa táng người qua đời đạt kết quả cao. Điển hình như thôn Phú Mỹ đến nay đạt tỷ
lệ 100% số người trong thôn qua đời được đưa đi điện táng, hỏa táng, góp phần làm
xanh, sạch môi trường sống và không lãng phí đất đai.
- Tỷ lệ hộ gia đình có nhà vệ sinh, nhà tắm đạt tiêu chuẩn chiếm trên 80%; 4/4 thôn
thôn đều có hệ thống thoát nước thải, chất thải hợp lý luôn được nhân dân khơi
thông đảm bảo tưới tiêu thoát tố không để gây ô nhiễm môi trường;
- Về xử lý rác thải: 4/4 thôn đều có tổ thu gom rác thải hoạt động thường xuyên đảm
bảo 100% khối lượng tác thải sinh hoạt được thu gom, xử lý đưng nơi quy định. Số
cơ sở sản xuất kinh doanh đề được UBND xã hướng dẫn xử lý chất thải đảm bảo
theo tiêu chuẩn về môi trường. Các hoạt động làm suy giảm môi trường được quản
lý tốt không để phát sinh. [1]
Xã Trí Quả
- Tổng số hộ trên toàn xã là 2250 hộ, trong đó 100% số hộ được sử dụng nước sạch
hợp vệ sinh.
- Tổng số doanh nghiệp trong toàn xã là 8 doanh nghiệp. trong đó 8/8 doanh nghiệp
đã đảm bảo vệ sinh.
Cơ sở sản xuất kinh doanh có 509 cơ sở. tuy nhiên công tác đảm bảo vệ sinh
môi trường vẫn đạt hiệu quả chưa cao.
- Tiêu chí đường làng, ngõ xóm đảm bảo 93% là đường bê tông còn lại 7% là đường
lát gạch sạch sẽ. Số xanh - sạch - đẹp không có hoạt động làm suy giảm ô nhiễm
môi trường là 95%.
- Quy hoạch và quản lý nghĩa trang theo quy hoạch
-
gian hoàn thành xong trong quý III/2016
Hình thức tổ chức sản xuất: Đảng ủy, UBND xã tập trung chỉ đạo HTX
DVNN Xuân Lâm thực hiện các bước chuyển đổi theo luật HTX năm 2012, xây
dựng phương án hoạt động của HTX trong nhiệm kỳ tới đạt hiệu quả. Thời gian
thực hiện xong trước 30/5/2016. [2]
- Xã Đình Tổ: Phấn đấu đạt chuẩn 3 tiêu chí ( Hộ nghèo, hệ thống chính trị,
an ninh trật tự xã hội), cụ thể:
Tỷ lệ hộ nghèo năm 2015 theo chỉ tiêu mới của xã là 3.81% trong năm 2016
Đảng ủy, UBND tập trung chỉ đạo các ban, ngành đoàn thể từ xã đến nông thôn
phối hợp với cơ quan chuyên môn có giải pháp cụ thể nhằm hỗ trợ, giúp đỡ các hộ
24
nghèo phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập để thoát nghèo. Phấn đấu giảm tỷ lệ hộ
nghèo xuống còn < 3%.
Hệ thống tổ chức chính trị xã hội – xã hội vững mạnh: Đảng ủy, UBND cần
tập chung lãnh chỉ đạo các ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị - XH của xã, thôn
hăng hái thi đua lập thành tích, phấn đấu thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm
vụ về kinh tế - xã hội; phấn đấu năm 2016 hệ thống tổ chức chính trị - XH của xã
đạt vững mạnh.
An ninh, trật tự xã hội: Thực hiện tốt các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; tăng
cường nắm bắt tình hình, quản lý tốt an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên
địa bàn xã. [2]
- Xã Hoài Thượng: Phấn đấu đạt 3 tiêu chí ( cơ sở vật chất văn hóa, Tỷ lệ hộ
nghèo, Y tế), cụ thể:
Cơ sở vậy chất van hóa: Nhà văn hóa xã đang đang được đầu tư xây dựng, dự
kiến hoàn thành đưa vào sử dụng vào quý III/2016; Tỷ lệ hộ nghèo năm 2015 theo
tiêu chí mới là 3,06%, năm 2016 Đảng ủy, UBND xã tập trung chỉ đạo các ban,
ngành đoàn thể từ xã đến thôn phối hợp với các cơ quan chuyên môn có giải pháp