Đánh giá hiệu quả thực hiện tiêu chí môi trường trong chương trình xây dựng nông thôn mới tại xã đình chu huyện lập thạch tỉnh vĩnh phúc - Pdf 25

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta hiện vẫn là một nước nông nghiệp, nông dân đang chiếm gần
74% dân số và chiếm đến 60.7% lao động xã hội. “Thu nhập hộ nông dân chỉ
bằng 1/3 so với dân cư khu vực thành thị, ở vùng núi có tỷ lệ mù chữ trên
22.6%, hiện còn 2.25 triệu hộ nghèo (90% ở nông thôn), 300.000 hộ thường
xuyên thiếu đói, 400.000 hộ đồng bào dân tộc thiểu số sống du canh”. Trong
khi đó, nông nghiệp nông thôn đóng góp lớn cho nền kinh tế quốc dân với
20% GDP, trên 25% giá trị kim ngạch xuất khẩu. Mặc dù vậy, các chính sách
phát triển nông nghiệp trước đây thường thiên về thúc đẩy phát triển ngành,
có phần xem nhẹ vai trò, lợi ích của chủ thể chính, động lực chính của phát
triển nông nghiệp là nông dân. Phần lớn các chính sách hầu như chưa quan
tâm, xử lý tổng thể và hợp lý mối quan hệ giữa các vùng, các lĩnh vực trong
ngành, giữa nông thôn và thành thị, chưa đặt ra và giải quyết triệt để mối quan
hệ giữa các yếu tố chính của mô hình phát triển nông nghiệp nông thôn…Đây
là nguyên nhân chủ yếu, khiến cho sau nhiều thập kỷ chuyển đổi nền nông
nghiệp sang thị trường đến nay về cơ bản nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
vẫn mang tính khép kín, tự cấp tự túc.
Khi nước ta gia nhập WTO, tham gia vào các diễn đàn hợp tác kinh tế
lớn của khu vực và thế giới, sức ép của hội nhập và phát triển ngày một lớn,
đặt ra yêu cầu rất cao đối với nền kinh tế nước ta, trong đó lĩnh vực nông
nghiệp là lĩnh vực phải đối mặt với nhiều thách thức nhất. Trước yêu cầu phát
triển và hội nhập hiện nay, thực hiện mục tiêu đẩy nhanh công nghiệp hóa –
hiện đại hóa đất nước, đã đến lúc đòi hỏi phải có nhiều chính sách đột phá và
đồng bộ nhằm giải quyết toàn diện các vấn đề kinh tế - xã hội, văn hóa nông
thôn. Giải quyết tốt vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn có ý nghĩa
chiến lược đối với sự ổn định và phát triển đất nước.
Tuy vậy, nhìn chung các chính sách của Nhà nước đối với nông nghiệp,
nông thôn chưa thật sự hiệu quả, thiếu bền vững, ở nhiều mặt có thể nói chưa
đáp ứng yêu cầu CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn, chưa đưa sản xuất

nhiều những khó khăn và thách thức mà cần phải khắc phục để đạt hiệu quả
lâu dài về môi trường.
Để tìm hiểu vấn đề trên trong khuôn khổ một đề tài tốt nghiệp, được sự
đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Môi trường cùng với sự hướng dẫn của Thầy
giáo Ths. Hà Đình Nghiêm, tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: “Đánh
giá hiệu quả thực hiện tiêu chí Môi trường trong chương trình xây dựng
Nông thôn mới tại xã Đình Chu - huyện Lập Thạch - tỉnh Vĩnh Phúc”
1.2. Mục tiêu của đề tài.
1.2.1. Mục tiêu chung
Mục tiêu bao trùm của đề tài là dựa trên hiện trạng môi trường và kết
quả thực hiện tiêu chí Môi trường trong chương trình xây dựng Nông thôn
mới tại xã Đình Chu – huyện Lập Thạch – tỉnh Vĩnh Phúc để đưa ra những
giải pháp nhằm phát huy hiệu quả tối đa của chương trình trong cộng đồng
dân cư nông thôn tại xã Đình Chu.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá hiện trạng môi trường nông thôn tại xã Đình Chu - huyện
Lập Thạch - tỉnh Vĩnh Phúc để thấy được vấn đề môi trường cần được quan
tâm và chú trọng đúng mức.
- Đánh giá tình hình thực hiện và mức độ đạt của tiêu chí môi trường
trong chương trình xây dựng nông thôn mới.
- Đánh giá kết quả thực hiện tiêu chí môi trường trong chương trình.
Đồng thời nêu lên những thuận lợi, khó khăn và một số giải pháp nhằm đạt
được hiệu quả chương trình.
1.3. Yêu cầu của đề tài.
- Tìm hiểu về tiêu chí môi trường (tiêu chí 17) trong xây dựng nông
thôn mới, luật Bảo vệ môi trường 2005, các văn bản, nghị định, thông tư có
liên quan đến công tác bảo vệ môi trường.
- Thu thập tài liệu một cách trung thực, chính xác, khách quan.
- Đưa ra những giải pháp thực tế, có những kiến nghị phù hợp, khách
quan và có tính khả thi cao.

2.1.1. Một số khái niệm liên quan
2.1.1.1. Các khái niệm liên quan đến môi trường
- Khái niệm Môi trường:
Môi trường là gì?
Theo chương 1, điều 1 Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam năm
2005 nêu rõ: “ Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất
nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại,
phát triển của con người và sinh vật”.
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:
+ Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hóa
học, sinh học tồn tại ngoài ý muốn của con người nhưng cũng ít nhiều chịu
tác động của con người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí,
động, thực vật, đất, nước,…Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất
để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại
tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng
hóa các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con
người thêm phong phú.
+ Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó
là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định,…ở các cấp khác nhau
như: Liên hiệp quốc, hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng,
xã, họ tộc, gia đình,…Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người
theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát
triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác
+ Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao
gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong
cuộc sống như: ô tô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên
nhân tạo,…
+ Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội
cần thiết cho sự sống, sản xuất của con người như: Tài nguyên thiên nhiên,
không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội,…

nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật, làm giảm độ đa dạng
sinh vật trong nước.
(Hoàng Văn Hùng - Giáo trình ô nhiễm môi trường – Trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên)[3].
+) Ô nhiễm môi trường đất:
“Ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm
bẩn môi trường đất bởi các chất ô nhiễm”.
Người ta có thể phân loại đất bị ô nhiễm theo các nguồn gốc phát sinh
hoặc theo các tác nhân gây ô nhiễm. Nếu theo nguồn gốc phát sinh có:
• Ô nhiễm đất do các chất thải sinh hoạt.
• Ô nhiễm đất do chất thải công nghiệp.
• Ô nhiễm đất do hoạt động nông nghiệp
Tuy nhiên, môi trường đất có những đặc thù và một số tác nhân gây ô
nhiễm có thể cùng một số nguồn gốc nhưng lại gây tác động bất lợi rất khác biệt.
Do đó người ta còn phân biệt loại ô nhiễm đất theo các tác nhân gây ô nhiễm:
• Ô nhiễm đất do tác nhân hóa học: bao gồm phân bón N, P ( dư lượng
phân bón trong đất), thuốc trừ sâu ( Clo hữu cơ, DDT, photpho hữu cơ,…),
chất thải công nghiệp và sinh hoạt ( kim loại nặng, độ kiềm, độ axit,…)
• Ô nhiễm đất do tác nhân sinh học: Trực khuẩn lỵ, thương hàn, các
loại ký sinh trùng ( giun, sán,…).
• Ô nhiễm đất do tác nhân vật lý: Nhiệt độ ( ảnh hưởng đến tốc độ phân
hủy chất thải của sinh vật), chất phóng xạ ( Uran, thori, )
Chất ô nhiễm đến với đất qua nhiều đầu vào nhưng đầu ra thì rất ít. Đầu
vào có nhiều vì chất ô nhiễm có thể từ trên trời rơi xuống, từ nước chảy vào,
do con người trực tiếp “tặng” cho đất, mà cũng có thể không mời mà đến.
Đầu ra rất ít vì nhiều chất ô nhiễm sau khi thấm vào đất sẽ lưu lại trong
đó. Hiện tượng này khác xa với hiện tượng ô nhiễm nước song, ở đây chỉ cần
chất ô nhiễm ngừng xâm nhập thì khả năng tự vận động của không khí và
nước sẽ nhanh chóng tống khứ chất ô nhiễm ra khỏi chúng. Đất không có khả
năng này, nếu thành phần chất ô nhiễm quá nhiều, con người muốn khử ô

nguyên thiên nhiên, không tạo ra ô nhiễm và suy thoái chất lượng môi trường
sống, nâng cao sự văn minh và công bằng xã hội.
• Xây dựng các công cụ có hiệu lực quản lý môi trường quốc gia và các
vùng lãnh thổ. Các công cụ trên phải thích hợp cho từng ngành, từng địa
phương và cộng đồng dân cư. [6]
- Khái niệm Tiêu chuẩn môi trường:
Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam năm 2005: Tiêu chuẩn
môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường
xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý bảo vệ môi trường [6].
2.1.1.2. Khái niệm về Nông thôn và Xây dựng nông thôn mới
- Nông thôn: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị
các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là
UBND xã.
- Xây dựng nông thôn mới: Là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn
để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của
mình khang trang, sạch đẹp, phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công
nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hóa, môi trường và an ninh nông thôn được
đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao.
Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn
dân, của cả hệ thống chính trị. Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã
hội mà còn là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp.
Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích
cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp,
dân chủ, văn minh.[6]
2.1.1.3. Các khái niệm liên quan đến chất thải rắn
- Khái niệm chất thải rắn:
Chất thải rắn là toàn bộ các loại tạp chất được con người loại bỏ trong
các hoạt động kinh tế – xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các
hoạt động sống và sự duy trì tồn tại của cộng đồng).

30/6/2011 về chương trình xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2020.
- Căn cứ quyết định số 17/2001/ QĐ - BXD ngày 07/08/2001 của Bộ
xây dựng định mức dự toán chuyên ngành vệ sinh môi trường - công tác thu
gom, vận chuyển, xử lý rác.
- Căn cứ Quyết định số 366/ QĐ - TTg ngày 31 tháng 3 năm 2012 của
thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia nước
sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012 - 2015.
- Chỉ thị số 36/2008/CT - BNN ngày 20/02/2008 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn về việc tăng cường các hoạt động BVMT trong Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn.
Căn cứ vào hệ thống TCVN như:
- Căn cứ vào QCVN 01:2009/ BYT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
chất lượng nước ăn uống.
- Căn cứ vào QCVN 06:2009/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
một số chất độc hại trong không khí xung quanh.
- Căn cứ vào QCVN 09:2008/ BTNMTquy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
chất lượng nước ngầm.
- Căn cứ vào QCVN 14:2008/ BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
nước thải sinh hoạt.
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1. Xây dựng Nông thôn mới ở một số quốc gia tiêu biểu trên Thế Giới.
Người nông dân ở mỗi quốc gia, mỗi vùng miền đều trải qua quá trình
phát triển khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện của loại hình canh tác và bối
cảnh lịch sử của mỗi khu vực cũng như phụ thuộc vào sự phát triển của môi
trường sinh thái. Năng suất và sản lượng phụ thuộc vào chính sách quốc gia,
sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, giáo dục, thông tin và văn hóa khu vực. Dù bất cứ
hoàn cảnh nào, người nông dân cũng được đánh giá cao và đáng được tôn trọng.
Chúng ta hãy cùng khám phá về một số khía cạnh mà nông thôn mới
ứng dụng ở một số quốc gia tiêu biểu trên Thế Giới sau:
Nông thôn ở Hà Lan: Sự kết hợp thành công giữa nông nghiệp và

hơn, yêu cầu vượt ra ngoài biên giới quốc gia, giờ đây bằng những cố gắng
của mình, nông dân Pháp đã khá thành công ở nhiều lĩnh vực. Hợp tác xã ở
Puisserguier do Guy Lautier đứng đầu đã đổi mới trong việc tái tổ chức cơ
cấu, cải thiện các giống cây trồng và các phương pháp sản xuất rượu vang,
giao dịch tiếp thị với các khách hàng tiềm năng. Tất cả những điều này đã làm
thay đổi và hiện đại hóa cách thức của người nông dân. Nhà sản xuất rượu
vang của Languedoc-Roussillon ngày nay đã trở thành nhà sản xuất các loại
rượu vang tuyệt đỉnh đang được bán trên toàn thế giới. [16]
Nông thôn Mỹ: Ứng dụng công nghệ cao và quản lý tốt
Hoa Kỳ là quốc gia có diện tích đất canh tác lớn cho các hoạt động
nông nghiệp. Đây là một nền nông nghiệp có “cơ ngơi” lớn và được “trang bị
cơ giới hóa” rất tốt. Năng suất sản xuất của mỗi người nông dân ở Mỹ cao
nhất trên thế giới. Mỹ là một trong những quốc gia xuất khẩu hàng đầu các
sản phẩm thực phẩm nông nghiệp trên thế giới.
Các nông trang ở Mỹ cũng đa dạng với nhiều quy mô khác nhau. Nhiều
nhà nông nuôi trồng các trang trại của họ như là một hình thức bán thời gian.
Họ là những người nông dân có trình độ như đại học, cao học Ngành nông
nghiệp Mỹ sử dụng công nghệ cao và áp dụng quản lý nghiêm ngặt. Nông
nghiệp Mỹ rất phụ thuộc vào thị trường quốc tế. Các nông trang nhỏ thường
không chắc chắn và có rủi ro trong nợ nần nhưng họ được hỗ trợ bởi các cơ
quan công quyền. [16]
2.2.2. Xây dựng Nông thôn mới ở Việt Nam.
Nông thôn là nơi sinh sống của một bộ phận dân cư chủ yếu làm việc
trong lĩnh vực nông nghiệp. Nước ta hiện nay vẫn là một nước nông nghiệp
với hơn 70% dân cư đang sống ở nông thôn. Phát triển nông nghiệp nông thôn
đã, đang và sẽ còn là mối quan tâm hàng đầu, có vai trò quyết định đối với
việc ổn định kinh tế - xã hội đất nước. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ X của Đảng xác định mục tiêu xây dựng nông thôn mới là: “Xây dựng
nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu
kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát

tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề, đã xuất hiện nhiều mô hình kinh tế có
hiệu quả gắn với xây dựng nông thôn mới, nâng cao thu nhập và đời sống vật
chất tinh thần cho người dân; Hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và
tăng cường; Dân chủ cơ sở được phát huy; An ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội được giữ vững; Vị thế của giai cấp nông dân ngày càng được nâng cao.
Những thành tựu đó đã góp phần thay đổi toàn diện bộ mặt nông thôn, tạo cơ
sở vững chắc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.[4]
Tuy nhiên, quá trình xây dựng nông thôn mới còn bộc lộ nhiều khó
khăn hạn chế, nhất là về công tác quy hoạch. Quy hoạch nông thôn mới là
một vấn đề mới, liên quan đến nhiều lĩnh vực và phải mang tính chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội.
Xây dựng nông thôn mới được xác định là nhiệm vụ của cả hệ thống
chính trị và toàn xã hội trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, chính vì vậy nó
phải có hệ thống lí luận soi đường. Quan điểm của Đảng ta về xây dựng nông
thôn mới là sự vận dụng sáng tạo lí luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực
tiễn ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, hướng đến thực hiện mục tiêu cách
mạng xã hội chủ nghĩa, từng bước xóa bỏ sự khác biệt giữa thành thị và nông
thôn, giữa lao động chân tay và lao động trí óc, để đi đến kết quả cuối cùng là
giai cấp công nhân, nông dân và trí thức sẽ trở thành những người lao động
của xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Bên cạnh việc đẩy mạnh công tác nghiên cứu lí luận, tổng kết thực tiễn
quá trình xây dựng nông thôn mới, chúng ta cần học tập kinh nghiệm của các
nước trên thế giới và trong khu vực về phát triển nông thôn tiên tiến hiện đại,
để xây dựng hoàn thiện hệ thống các quan điểm lí luận về phát triển nông
nghiệp, nông dân và nông thôn làm cơ sở khoa học cho thực tiễn. Xây dựng
nông thôn nước ta trở nên văn minh, tiên tiến hiện đại nhưng vẫn mang đậm bản
sắc văn hóa và nét đẹp truyền thống của nông thôn Việt Nam.[5]
2.2.2.1. Thực trạng môi trường và một số giải pháp trong công tác bảo vệ
môi trường trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Vĩnh Phúc là tỉnh trung du thuộc Đông – Bắc Bộ với diện tích tự nhiên

trên các trục giao thông chính có nhiều điểm đo cho thấy mức độ ô nhiễm về
bụi, tiếng ồn tương đối cao, đặc biệt là ở dọc tuyến Quốc lộ số 2 hoặc các nút
giao thông có mật độ phương tiện tham gia giao thông cao.
- Ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh nồng độ ô nhiễm bụi tuy
không cao như ở khu vực đô thị, nhưng hầu hết các điểm đều vượt tiêu chuẩn
cho phép, có những điểm vượt TCCP từ 4 – 5 lần. Múc độ tiếng ồn chưa vượt
quá TCCP nhưng cũng tương đối cao và gần bằng với TCCP.
- Đối với khu vực nông thôn, làng nghề tình hình ô nhiễm không khí về
bụi, tiếng ồn tiếp tục tăng và chủ yếu là ở các khu vực có làng nghề phát triển
như khu vực xã Tề Lỗ - Yên Lạc; chợ Thổ Tang – Vĩnh Tường. Nồng độ các
chỉ tiêu khí như CO, SO
2
, NO
2
chưa vượt TCCP nhưng có xu hướng tăng lên ,
đặc biệt là vào mùa khô.
Nhìn chung, tình hình ô nhiễm môi trường bụi thường tăng vào mùa
khô, nồng độ các chất khí như CO, SO
2
, NO
2
tuy chưa vượt TCCP nhưng
cũng tương đối cao và có chiều hướng tăng lên vào mùa khô. [6]

Môi trường nước.
• Hiện trạng môi trường nước mặt
- Hầu hết các lưu vực nước mặt lớn ở khu vực đô thị hoặc các lưu vực
chảy qua khu vực sản xuất công nghiệp tập trung như Đầm Vạc, sông Bến
Tre, sông Cà Lồ,… đã bị ô nhiễm bởi các chất hữu cơ, coliform, ammoniac,
… Kết quả quan trắc cho thấy nồng độ chỉ tiêu BOD

TCCP. Bên cạnh đó, còn có một số mẫu có hàm lượng TSS, NH
3
cao hơn
TCCP như mẫu nước sông Hồng (ở cảng Chu Phan) có hàm lượng TSS cao
hơn TCCP, mẫu nước song Cà Lồ ( ở xã Tam Hợp – Bình Xuyên) có hàm
lượng NH
3
cao hơn TCCP. [6]
• Hiện trạng môi trường nước ngầm
Hiện nay, tuy chưa có kết quả khảo sát một cách đầy đủ về chất lượng
môi trường nước ngầm, song kết quả quan trắc chất lượng nước ở một số
giếng khoan, giếng đào ở các khu vực trên địa bàn tỉnh cho thấy, đa số các chỉ
tiêu phân thích đều nằm trong TCCP. Tuy nhiên, cũng có một số khu vực
nước ngầm có độ pH rất thấp như ở khu vực thôn Sơn Long – xã Hợp Châu;
trạm bơm Vĩnh Yên; công ty sản xuất Phanh Nissin – huyện Bình Xuyên.
Cũng có những khu vực nước ngầm có nồng độ Mn, Fe,…cao hơn TCCP như
ở khu vực các xã vũng bãi ven song Hồng, khu vực Thanh Lâm – huyện Mê
Linh,…Nguyên nhân có thể là do cấu tạo địa chất ở những khu vực này.
Qua kết quả quan trắc hằng năm thì nồng độ một số chỉ tiêu kim loại
nặng ở tất cả các mẫu đã phân tích đều tăng lên như As, Cd, Pb, Hg,…Nồng
độ các chỉ tiêu kim loại nặng như As, Cd, Pb, Hg, Fe,…tăng vào mùa khô,
riêng đối với chỉ tiêu coliform thì lại tăng lên vào mùa mưa.[6]

Môi trường đất.
Cũng có những nơi ở khu vực sản xuất nông nghiệp, môi trường đất đã
có dấu hiệu bị ô nhiễm về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV). Kết quả
phân tích mẫu đất đã phát hiện được dư lượng thuốc BVTV như dư lượng
thuốc trừ cỏ họ Clo, đặc biệt là ở các xã trồng các loại rau màu phát triển
mạnh như xã Thổ Tang, xã Đại Đồng – huyện Vĩnh Tường, xã Mê Linh –
huyện Mê Linh.

3
Tổng lượng chất thải
công nghiệp không
nguy hại
- - - -
4
Tổng lượng chất thải
công nghiệp nguy hại
- - - -
5
Tổng lượng chất thải
rắn y tế nguy hại
kg/ ngày 199 227 246
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Vĩnh Phúc)[6]

Trích đoạn Đánh giá kết quả và hiệu quả thực hiện tiêu chí môi trường trong chương trình xây dựng Nông thôn mới xã Đình Chu – huyện Lập Thạch Những thuận lợ Giải pháp duy trì hiệu quả tiêu chí Môi trường trong xây dựng Nông thôn mới. CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHU VỰC NÔNG THÔN XÃ ĐÌNH CHU – HUYỆN LẬP THẠCH – TỈNH VĨNH PHÚC.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status