tiểu luận xã hội học kinh tế “Đánh giá hiệu quả chính sách 135 đến sự phát triển kinh tế trang trại của người dân tại xã Cổ lũng, huyện Bá thước, tỉnh Thanh hóa” - Pdf 36

MỤC LỤC

1


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Đói nghèo là một vấn đề toàn cầu, đã và đang diễn ra trên toàn khắp các
châu lục với những mức độ khác nhau và đang trở thành một thách thức lớn
đối với sự phát triển của từng khu vực, từng quốc gia, dân tộc và của từng địa
phương.
Việt Nam là một nước nông nghiệp với 70% dân số sống ở nông thôn.
Với trình độ dân trí,canh tác còn hạn chế nên năng suất lao động chưa cao,
thu nhập của người dân còn thấp, tình trạng đói nghèo vẫn diễn ra rộng khắp
các khu vực. Đặc biệt là khu vực miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu
vùng xa tình trạng đói nghèo vẫn luôn là một vấn đề nan giải đã và đang được
đất nước ta quan tâm sâu sắc, để người nghèo thoát nghèo cũng như sự thay
đổi trong kinh tế chính là mục tiêu, nhiệm vụ chính trị xã hội.
Trong những năm gần đây, Đảng và nhà nước luôn có chủ chương,
chính sách , giải pháp để đẩy nhanh tiến độ phát triển kinh tế - xã hội ở tất cả
các khu vực trên cả nước, đặc biệt đồng bào dân tộc thiểu số thuộc miền núi
vùng sâu vùng xa luôn được ưu tiên và trợ giúp dưới nhiều hình thức khác
nhau thông qua các văn bản chính sách xã hội nhằm thay đổi cuộc sống nghèo
đói cho người dân.
Qua đó, nhiều chính sách đã ra đời nhằm mục tiêu nâng cao mức sống
của người nghèo. Một trong những chương trình thu hút được sự quan tâm của
cộng đồng xã hội đó là chương trình 135: Chương trình phát triển kinh tế xã
hội ở các xã đặc biệt khó khăn, miền núi vùng sâu, vùng xa. Theo quyết định
số 135/1998 QĐ – TTg ngày 31 tháng 7 năm 1998 của thủ tướng chính phủ
( gọi tắt là chương trình 135 ).
Tại xã Cổ Lũng, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa là một trong 6 xã nằm

hiệu quả nhất của chính sách đang và sẽ thực hiện trong thời gian tới, mang lại
một cuộc sống tốt đẹp cho người dân đảm bảo thay đổi và phát triển mô hình
3


sản xuất kinh tế trang trại, đặc biệt là giảm tỷ lệ hộ nghèo cho người dân tại
địa bàn xã Cổ Lũng.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu vấn đề nghèo đói của người dân tãi xã Cổ lũng, huyện Bá
thước, tỉnh Thanh hóa thông qua các giai đoạn thực hiện chính sách 135 về
đặc điểm, thực trạng và những nguyên nhân nghèo tại địa bàn xã.
Tìm hiểu về kinh tế trang trại trong các giai đoạn thực hiện chương
trình 135 về sự thay đổi giữa thời kì trước và sau khi có sự hỗ trợ của chương
trình 135.
Đánh giá về hiệu quả của chính sách 135 đến sự phát triển kinh tế trang
trại của người dân tại xã Cổ lũng, huyện bá thước, tỉnh Thanh hóa về các
thuận lợi và khó khăn từ đó đưa ra một số kết luận khuyến nghị cho quá trình
thực hiện chương trình 135 đạt được hiệu quả tốt trong sự phát triển nền kinh
tế địa phương trong thời gian tới.
3. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đánh giá hiệu quả chính sách 135 đến sự phát triển kinh tế trang trại của
người dân
tại xã Cổ Lũng, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Để có thông tin và tài liệu về chương trình 135 tiến hành nghiên cứu
trên khách thể là : Người quản lí phụ trách thực hiện chương trình 135 và
người dân tại địa bàn xã Cổ Lũng. Cán bộ chính sách xã hội, cán bộ phụ trách
thực hiện mảng phát triển kinh tế, cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, và các
ban lãnh đạo liên ngành có liên quan.

người dân tại địa bàn xã Cổ Lũng
Đề tài có sử dụng các tài liệu đã thu thập được từ các phỏng vấn sâu của
người dân, những biên bản tổng kết chương trình 135 ở các giai đoạn về mảng
kinh tế. Ngoài ra kết hợp các nguồn tài liệu từ các báo cáo của nông nghiệp,
5


lâm nghiệp, ngư nghiệp và các chuyên đề có liên quan đến hiệu quả của chính
sách 135, hiệu quả của chính sách đến sự phát triển nền kinh tế trang trại của
người dân nhằm khai thác có hiệu quả một cách đầy đủ và chính xác các thông
tin cho đề tài nghiên cứu.
4.2.2 .Phương pháp quan sát
Để thu thập được thông tin cho đề tài nghiên cứu tiến hành quan sát kết
hợp phỏng vấn sâu để thông tin có được chính xác và hữu ích hơn. Trong quá
trình phỏng vấn, kết hợp quan sát về điều kiện sống hộ dân và thái độ của
người dân đối với vấn đề nghiên cứu. Tiến hành quan sát một lần và trong một
ngày.
4.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Nhằm có những thông tin một cách chính xác và rõ ràng nhất để phục vụ
cho sự đánh giá hiệu quả chính sách 135 đến đời sống của người dân tại xã Cổ
Lũng, tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu là phương pháp nghiên cứu
chính cho đề tài nghiên cứu của mình.

6


PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lý thuyết áp dụng
Lý thuyết nhu cầu của Maslow

dân không được đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người đó là nhu cầu sinh lí
vật chất quá thiếu thốn vì đời sống kinh tế thu nhập quá thấp nên không đáp
ứng được các nhu cầu cơ bản (ăn, mặc, ở) để phát triển các nhu cầu của mức
sống cao hơn (chăm sóc sức khỏe, tham gia các hoạt động xã hội…) do đó
cuộc sống chậm phát triển về mọi mặt, nền kinh tế vẫn tụt hâu. Vì vậy, các
chính sách xã hội kết hợp các dự án chương trình nhằm cải thiện và phát triển
một cộng đồng , giúp cho người dân tộc thiểu số miền núi vùng 135 nói chung
và người dân xã Cổ lũng nói riêng có một cuộc sống ổn định hơn, nền kinh tế
phát triển, đảm bảo các nhu cầu của con người xứng đáng được hưởng và đặc
biệt là xóa đói giảm nghèo, phát triển xã hội.
1.2. Khái niệm
1.2.1 Khái niệm chương trình 135
Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng dân
tộc thiểu số và miền núi (hay đọc là: "chương trình một-ba-năm"), là một
trong các chương trình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam do Nhà nước Việt
Nam triển khai từ năm 1998. Chương trình được biết đến rộng rãi dưới tên
gọi Chương trình 135 do Quyết định của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam phê
duyệt thực hiện chương trình này có số hiệu văn bản là 135/1998/QĐ-TTg.
Theo kế hoạch ban đầu, chương trình sẽ kéo dài 7 năm và chia làm hai giai
đoạn; giai đoạn I từ năm ngân sách 1998 đến năm 2000 và giai đoạn II từ
năm 2001 đến năm 2005. Tuy nhiên, đến năm 2006, Nhà nước Việt Nam
quyết định kéo dài chương trình này thêm 5 năm, và gọi giai đoạn 1997-2006
là giai đoạn I. Tiếp theo là giai đoạn II (2006-2010), giai đoạn III ( 2012 –
2015) và chính phủ quyết định thực hiện tiếp giai đoạn (2016 – 2020).

8


Chương trình 135 nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng
bào các dân tộc ở các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa, đặc

quyết, các cảm giác bị xỉ nhục, không được người khác tôn trọng”.
Như vậy, nghèo đói ở xã Cổ Lũng nhận diện được những đặc điểm
nghèo theo khái niệm của Ngân hàng thế giới đã đưa ra ở trên. Sự hạn chế về
thu nhập, hạn chế về tài sản và dễ bị tổn thương trong xã hội đó là những
nguyên nhân chính khiến cho người dân xã Cổ Lũng luôn rơi vào vòng luẩn
quẩn của nghèo đói, nghèo vẫn hoàn nghèo. Từ đó các chính sách xã hội như
chính sách 135 ra đời trực tiếp tác động và thay đổi các vấn đề khó khăn trong
cuộc sống của người dân. Nhằm tăng cường phát triển kinh tế và an sinh xã
hội.
2.2.3 Khái niệm kinh tế trang trại
Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông lâm ngư
nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hóa tư liệu sản xuất, thuộc
quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập. Sản xuất được
tiến hành quy mô, ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn với
các tổ chức quản lí tiến bộ và trình độ kĩ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn
gắn liền với thị trường.
Châu Âu là cái nôi của cuộc cách mạng công nghiệp lần nhất ở Anh đã xuất
hiện hình thức tổ chức trang trại nông nghiệp sản xuất hàng hóa thay thế cho
hình thức sản xuất tiểu nông và hình thức điền trang của các thế lực phong
kiến qúy tộc.
Như vậy, kinh tế trang trại đã và đang thực hiện tại xã Cổ Lũng phù hợp với
trình độ văn hóa và những nguồn lực sẵn có của địa phương.
1.3. Mục tiêu, nội dung và các hoạt động của chương trình 135 trong
sự phát triển kinh tế trang trại tại xã Cổ Lũng, huyện Bá thước, tỉnh
Thanh Hóa
Mục tiêu chương trình 135 tại xã Cổ Lũng
+ Mục tiêu đặt ra hàng đầu của chương trình 135 tại địa bàn xã Cổ Lũng
là xóa đói giảm nghèo cho hộ dân. Phát triển kinh tế trang trại cho 100% đối
10


+ Về môi trường: Tăng cường giữ gìn vệ sinh môi sạch sẽ và hợp vệ sinh
trong quá trình thực hiện phát triển kinh tế trang trại để đảm bảo cho cuộc
sống của người dân.
11


CHƯƠNG 2
HIỆU QUẢ CỦA CHÍNH SÁCH 135 ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TRANG TRẠI CỦA NGƯỜI DÂN TẠI XÃ CỔ LŨNG, HUYỆN BÁ
THƯỚC, TỈNH THANH HÓA
2.1. Vài nét về nghèo đói tại xã Cổ Lũng, huyện Bá Thước, tỉnh
Thanh Hóa
2.1.1. Thực trạng nghèo đói tại xã Cổ Lũng, huyện Bá Thước, tỉnh
Thanh Hóa
Xã Cổ Lũng là một trong những xã nằm trong huyện Bá thước có người
Thái đen sinh sống là chủ yếu, hơn nữa địa hình là miền núi bị chia cắt mạnh
và có khí hậu khắc nghiệt vào mùa đông, trình độ sản xuất thấp kém nên đói
nghèo là một vấn đề luôn tồn tại trong địa bàn xa từ trước đến nay.
* Trước năm 1997: khi xã Cổ Lũng chưa có chính sách, có nhưng chưa
thực hiện những chính sách xóa đói giảm nghèo một cách đông bộ nên thực
trạng đòi nghèo diễn ra rất nặng nề.
Nghèo đói trong sự đảm bảo các nhu cầu cơ bản của con người không
được đảm bảo và người dân thường xuyên bị các dịch bệnh tấn công, nghèo
vẫn hoàn nghèo, một vòng luẩn quẩn không thể thoát được. Nghèo đói thể
hiện trên nhiều phương diện như văn hóa, giáo dục kém phát triển con em ít
được đi học nghề có trình độ chuyên môn, trong y tế cơ sở hạ tầng tồi tàn,
xuống cấp sự chăm lo sức khỏe cho bà con không được đảm bảo, về cơ sở hạ
tầng yếu kếm, 100% xã không có đường bê tông và không có điện lưới. Đến
năm 2006 cơ bản xã đã có điện lưới nhưng mới phục vụ được 50% nhu cầu
dùng điện của người dân. Nhận diện ra vấn đề nghèo đói liên quan đến nhiều

Qua đó,Thu nhập bình quân đầu người năm 2011của xã là 4,475 triệu
đồng/người/năm, bằng 47,10% so với mức bình quân chung của tỉnh (Thu
nhập bình quân đầu người năm 2010 tại khu vực nông thôn tỉnh Thanh Hóa là
9,5 triệu đồng). Vì vậy đời sống của người dân đã được nâng cao và đảm bảo
các nhu cầu cơ bản của con người
13


Tuy nhiên hộ nghèo ở xã vẫn đang chiếm một con số lớn. Theo tiêu chí
chuẩn nghèo giai đoạn 2011- 2015 thực hiện theo chỉ thị 1752/ CT-TTg ngày
21/9/2010 của Thủ tướng chính phủ, ở khu vực nông thôn, hộ nghèo là hộ có
thu nhập bình quân đầu người từ 400.000 đồng/tháng trở xuống. Theo tiêu chí
trên, năm 2011 xã Cổ Lũng có tất cả 506 hộ nghèo, chiếm 50,55% tổng số hộ.
2.1.2. Đặc điểm của hộ nghèo xã Cổ Lũng, huyện Bá Thước, tỉnh
Thanh Hóa
Hộ nghèo là tình trạng của một số hộ gia đình chỉ thỏa mãn một phần
nhu cầu tối thiểu của cuộc sống, và có mức sống thấp hơn mức sống trung
bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện, khía cạnh.
Xã có 01 đường liên xã đi qua địa bàn các thôn và các đường mòn đi
qua xã bạn trong huyện và 01 xã của tỉnh Hoà Bình, phía đông giáp với xã Tự
Do, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình, phía Tây giáp xã Lũng Niêm,phía Bắc
giáp xã Lũng Cao, phía Nam giáp với xã Ban Công, huyện Bá Thước. Các
thôn trong xã sống phân tán cách xa nhau. Ngành nghề chủ yếu là sản xuất
Nông nghiệp và phát triển nghề rừng. Trên địa bàn có 12 thôn với 1.021 hộ,
4.023 nhân khẩu, với 3 thành phần dân tộc: Thái, Mường, Kinh đoàn kết cùng
chung sống (trong đó dân tộc Thái chiếm 98%). Hộ nghèo 298 hộ chiếm
29,39%, hộ cận nghèo 188 hộ chiếm 18,54%. Thu nhập bình quân đầu người
ước đạt 8 triệu đồng/người/năm.
Hộ nghèo tại địa bàn xã Cổ Lũng được lựa chọn trên sự công khai minh
bạch và công băng. Hộ nghèo được khảo sát bằng phương pháp cho điểm dựa

từ nhà bố mẹ đẻ ra nhà riêng không có nguồn vốn để sản xuất và chăm lo cho
cuộc sống, nên hộ nghèo thuộc diện này chiếm tới 60%.
+ Các hộ có nhiều trẻ em và phụ nữ sống độc thân thường bị các hộ
nghèo khác coi thường, ít lao động và thường phải nuôi nhiều trẻ em trong độ
tuổi đi học. Do vậy chi phí cho y tế và giáo dục thường không được đáp ứng
đầy đủ cho các hộ nghèo như thế này.
15


+ Hộ nghèo hầu như trình độ học vấn thấp.
+ Các vật dụng trong gia đình hộ nghèo còn thiếu thốn rất nhiều để phục
vụ cho việc sinh hoạt hàng ngày và giải trí như không có ti vi, nồi cơm điện,
máy quạt, điện thoại, không có bếp ga, máy bơm nước..vv
+ Trong sản xuất kinh tế không áp dụng các khoa học kĩ thuật hiện đại
nên năng suất khi thu hoạch vẫn thấp ở các hộ nghèo ( như trồng lúa, trồng
ngô, sắn..).
+ Hộ nghèo tại nơi đây thường là nạn nhân của tình trạng nợ nần. Rất
nhiều hộ nghèo rơi vào tình trạng đi vay để trang trải các khoản chi tiêu khẩn
cấp như dầu tư vào chi phí cho y tế khi bị ốm đau nặng, hoặc đầu tư vào một
vụ kinh doanh nhưng bị thất bại.
Như vậy hộ nghèo tại địa bàn xã Cổ lũng chủ yếu nghèo vì thu nhậpthấp
và không có thu nhập ổn định. Họ là những người rất dễ bị tổn thương bởi
những khó khăn thời vụ và đột biến xuất hiện trong gia đình xảy ra.
2.1.3. Nguyên nhân của nghèo đói ở xã Cổ Lũng, huyện Bá Thước,
tỉnh Thanh Hóa
Nguyên nhân khách quan:
Do địa bàn xã Cổ Lũng là một xã thuộc cụm quốc thành huyện Bá
Thước, là một khu vực miền núi cao, địa hình bị chia cắt phức tạp ,xa xôi, dẫn
đến việc hạn chế sự phát triển địa bàn xã trong mọi lĩnh vực.
Thời tiết khắc nghiệt, dễ dàng bị mất vốn và tiếp tục quay trỏ lại nghèo

Cổ Lũng phát triển dưới hình thức tự phát. Không có một chương trình, chính
sách nào hỗ trợ. 100% trang trại do chủ hộ dân thực hiện và trực tiếp điều
hành sản xuất, phần lớn các trang trại tập trung ở ba thôn xa khu vực trung
tâm xã bởi trước những năm 1997 hình thức sản xuất kinh tế vẫn dựa chủ yếu
vào sản xuất kinh tế nông nghiệp từ các nguồn tài nguyên có sẵn. Đất đồi rừng
tiến hành nuôi trồng cây nông nghiệp như sắn, ngô và chăn thả gia súc. Hầu
như các trang trại chưa có khoa học kỹ thuật trong phát triển kinh tế trang trại

17


và có thì rất lạc hậu và cổ xưa. Nhưng chính vì loại hình kinh tế trang trại tự
phát này là cơ sở cho sự phát triển nền kinh tế trang trại hiện nay.
* Từ những năm 2006 đến nay: Sự xuất hiện hàng loạt các chính sách
xã hội, người dân được trợ giúp nhiều trong việc xóa đói giảm nghèo, phát
triển kinh tế. Đặc biệt là chương trình 135 có tác động mạnh mẽ đến sự phát
triển kinh tế của người dân xã Cổ Lũng, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.
Kinh tế được chú trọng phát triển trong giai đoạn của chương trình 135
nên đến nay bộ mặt kinh tế của xã có sự chuyển biến lớn. Các chủ trang trại
trực tiếp quản lí và sử dụng nguồn nhận lực lao động trong gia đình, các mô
hình trang trại chăn nuôi gia súc phổ biến khi người dân sống ven chân đồi có
diện tích khá rộng lớn và bằng phẳng, nguồn thức ăn dồi dào, cỏ dại và mô
hình trồng cỏ voi để nuôi bò rất phổ biến. Đặc biệt hộ dân đã có sự tiếp cận và
thực hiện các mô hình kinh tế theo kĩ thuật hiện đại như mô hình trồng mướp
đắng đã đem lại thu nhập cho người dân cao. Mô hình nuôi vịt bầu hay mô
hình nuôi gia bò tại các thôn như Eo Điếu, thôn Khuyn… Cán bộ dự án trực
tiếp chỉ đạo hướng dẫn và cùng thực hành với người dân, cung cấp kiến thức
và kĩ năng để người dân có thể phát triển được kinh tế trang trại một cách
thuận lợi nhất. Hiện nay xuất hiện nhiều trang trại nuôi Vịt Bầu Cổ Lũng bởi
sự nổi tiếng và những thương buôn tìm đến, từ sự hỗ trợ vốn sản xuất người

kinh tế trang trại của người dân tại xã Cổ lũng, huyện Bá Thước, tỉnh
Thanh Hóa
Trải qua 3 giai đoạn kể từ khi chương trình 135 xuất hiện, tuy nhiên đến
giai đoạn III (2011- 2015) sau khi cơ sở hạ tầng được hoàn thiện xã nhà mới
bắt đầu vào tập trung phát triển kinh tế, gắn liền với sự phát triển của kinh tế
trang trại. Sau những thành tích xuất sắc mà hộ gia đình và chính quyền địa
phương đã đạt được gặp được một số vấn đề thuận lợi và khó khăn như sau:
*Thuận lợi: Người dân nhận được sự hỗ trợ rất nhiều từ Đảng và nhà
nước kể cả nguồn vốn và các trang thiết bị hiện hữu. Người dân có cơ hội
trong việc đầu tư và phát triển. 90% hộ nghèo được nhận gia súc ( bò, dê)
19


trong các đợt cung cấp nguồn vốn cho người dân. Góp phần thúc đẩy phát
triển kinh tế và người dân thoát nghèo bền vững.
Do địa hình núi ở xã Cổ Lũng khá phẳng, nhiều đồi thấp và thung lũng
thuận lợi cho sự phát triển các trang trại nuôi gia súc. Nhiều mô hình nuôi gia
súc lớn với quy mô hơn 50 bò mẹ, tại thôn Eo Điếu có khoảng 30% hộ gia
đình chăn nuôi trang trại bò thịt và khoản 50% hộ gia đình có trang trại Dê núi
với quy mô hơn 100 con chăn thả.
Ngoài ra sự phát triển kinh tế trang trại có sự tham gia của nhiều dự án
hỗ trợ và giám sát người dân cho quá trình thực hiện. Giúp cho người dân có
những hiểu biết khoa học kỹ thuật để ứng dụng vào sản xuất.
Chính quyền địa phương ủng hộ và vận động người dân tham gia phát
triển kinh tế để thoát nghèo, sự động viên thăm đỡ của cán bộ là niềm động
viên to lớn cho người dân để thực hiện phát triển kinh tế trang trại.
Người dân đã có cơ hội hơn rất nhiều trong việc tự chọn loại hình trang
trại để phát triển kinh tế phù hợp khi người dân đa số đều có đất đồi núi riêng.
Sử dụng đất đai hiệu quả. Dưới đây là một chia sẻ một chủ trang trại nuôi bò
Lai sin:

hưởng đến dòng suối chảy qua xã bị ô nhiễm nặng, nguồn nước sạch bị ô
nhiễm. Cần phải tìm ra giải pháp phù hợp để hạn chế vấn đề ô nhiễm này.
Chia sẻ của một hộ nông dân trong phỏng vấn sâu:“ Đã 5 năm nay gia
đình tôi và các hộ nghèo khác đã được nhà nước trợ giúp rất nhiều trong hoạt
động sản xuất và phát triển kinh tế, tôi cảm thấy rất vui và phấn khởi đặc biệt
là trongtrang trại của gia đình tôi và các hộ lân cận, trang trại vị bầu của nhà
tôi đã phát triển và cần một mối tiêu thụ, nhưng để tìm được và liên kết giữa
các hộ gia đình chăn nôi sản xuất sản phẩm và các nhà tiêu thụ là rất khó
khăn. Chúng tôi gốc làm nông nên chả quen biết ai. Chỉ mong ban lãnh đạo
địa phương có thể giúp đỡ và tìm giúp chúng tôi nơi tiêu thụ để giá cả không
bị mất nhiều như khi chúng tôi bán lẻ lẻ ở ngoài chợ phiên mỗi tuần” ( Phỏng
vấn sâu số 6 Chú Hà Tô Q, nam, 47 tuổi, hộ nghèo thôn Lọng)
21


Như vậy việc phát triển kinh tế trang trại nhằm khai thác, sử dụng có
hiệu quả đất đai, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, góp phần phát triển nông
nghiệp bền vững. Tạo việc làm, tăng thu nhập. Khuyến khích làm giàu đi đôi
với xoá đói giảm nghèo; phân bổ lại lao động, dân cư, xây dựng nông thôn
mới. Thông qua phát triển kinh tế trang trại đã góp phần quan trọng trong quá
trình chuyển dịch, tích tụ ruộng đất gắn liền với quá trình phân công lại lao
động ở nông thôn, từng bước chuyển dịch lao động nông nghiệp sang làm các
ngành phi nông nghiệp, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá trong nông nghiệp
và nông thôn. Sử dụng một cách hợp lí và tốt nhất các nguồn lực từ Đảng và
nhà nước hỗ trợ.

22


CHƯƠNG 3

để phát triển kinh tế cho đời sống của người dân, nâng cao tu nhập và tạo việc
làm cho dân , đặc biệt là những hộ nghèo.
+ Tăng cường tuyên truyền vân động người dân tham gia xóa đói giảm
nghèo bằng các hình thức phát triển kinh tế trang trại, học tập và áp dụng khoa
học kĩ thuật một cách thuần thục để phát triển kinh tế một cách tốt nhấ từ sự
hỗ trợ các chính sách lồng ghép trong chương trình 135.
+ Chính quyền và nhân dân tăng cường hoạt động giữ gìn vệ sinh môi
trường, xây dựng một cuộc sống lành mạnh và vui khỏe.. Tổ chức những ngày
cùng ra quân trồng cây xanh và hướng dẫn xử lí rác thải hợp vệ sinh.
Như vậy, qua sự tìm hiểu về tác động của chính sách 135 đến sự phát
triển kinh tế trang trại của người dân tại xã Cổ Lũng, huyện Bá Thước, tỉnh
Thanh Hóa đã cho tôi thấy chương trình xóa đói giảm nghèo- chương trình
135 đã và đang có những hiệu quả thật đáng bất ngờ thây đổi đời sống của
người dân trong mọi mặt. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều hạn chế tồn
tại làm cho chương trình 135 cùng các chính sách lồng ghép không đạt được
hiệu quả tối đa.
Từ cái nhìn tổng quát của nghiên cứu trên bản thân tôi mong rằng chính
phủ, Đảng và nhà nước luôn quan tâm đến đời sống của người dân toàn quốc
nói chung và dân tộc thiểu số sống ở các vùng đặc biệt khó khăn. Đồng thời
tầng lớp nhân dân cũng thực hiện các chương trình, chính sách trợ giúp người
dân một cách tốt nhất để thay đổi được đời sống xã hội góp phần phát triển
kinh tế- xã hội của đất nước, xóa đói giảm nghèo bền vững để sớm hoàn thành
muc tiêu Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa của dân tộc ta.

24


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo cáo tổng kết chương trình 135 giai đoạn II của xã Cổ Lũng, huyện
Bá thước, tỉnh Thanh Hóa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status