Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển thành phố Cà Mau, định hướng phát triển thành phố đến 2010 - Pdf 20

CHƯƠNG I: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÔ THỊ
1. Định nghĩa đô thị
Đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông
nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên ngành hay tổng hợp, có vai trò thúc
đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, một
huyện hoặc một vùng lãnh thổ trong huyện. (Lê Quang Trí, 1999)
Theo điều 3, Nghị định 72/2001/NĐ-CP ngày 05/10/2001 của Chính Phủ:
- Đô thị bao gồm thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
quyết định thành lập.
- Có 5 tiêu chuẩn để xác định đô thị:
• Là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế -
xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định
• Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động tối thiểu là 65%
• Cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu
chuẩn, quy chuẩn quy định đối với từng loại đô thị
• Quy mô dân số ít nhất là 4.000 người
• Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị.
2. Những đặc điểm cơ bản của đô thị
Đô thị có 3 đặc điểm cơ bản sau:
- Đô thị như một cơ thể sống: các cấu trúc cơ sở hạ tầng kỹ thuật – kinh tế - xã hội
với tính năng luôn thay đổi và vân động. Nó ảnh hưởng đến sự cân bằng, ổn định và
bền vững của đô thị.
- Đô thị luôn phát triển: mang tính “sống”, biểu thị sự gắn kết giữa đô thị và con
người. Thể hiên chữ “đô thị” là nơi giao lưu trao đổi hàng hóa. Chịu sự ảnh hưởng
của quy luật kinh tế - xã hội.
- Sự vận động và phát triển của đô thị có thể điều khiển được bởi con người.
3. Phân loại đô thị
3.1Phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị
Theo điều 4, Nghị định 72/2001/NĐ-CP ngày 05/10/2001 của Chính Phủ:
- 1 -

3.2.3 Đô thị loại II
1. Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, du lịch,
dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong vùng tỉnh, vùng liên tỉnh hoặc cả nước, có vai
- 2 -
trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh
vực đối với cả nước;
2. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 80% trở lên;
3. Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt tiến tới tương đối đồng bộ và hoàn chỉnh;
4. Quy mô dân số từ 25 vạn người trở lên;
5. Mật độ dân số bình quân từ 10.000 người/km
2
trở lên.
3.2.4 Đô thị loại III
Đô thị loại III phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:
1. Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, dịch vụ,
đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát
triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh;
2. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 75% trở lên;
3. Có cơ sở hạ tầng được xây dựng từng mặt đồng bộ và hoàn chỉnh;
4. Quy mô dân số từ 10 vạn người trở lên;
5. Mật độ dân số bình quân từ 8.000 người/km
2
trở lên.
3.2.5 Đô thị loại IV
Đô thị loại IV phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:
1. Đô thị với chức năng là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về chính trị, kinh tế, văn
hoá, khoa học kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh, có vai trò thúc đẩy
sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một vùng trong tỉnh;
2. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 70% trở lên;
3. Có cơ sở hạ tầng đã hoặc đang được xây dựng từng mặt đồng bộ và hoàn chỉnh;

4.1. Yếu tố 1: Chức năng của đô thị
Các chỉ tiêu thể hiện chức năng của một đô thị gồm:
a/ Vị trí của đô thị trong hệ thống đô thị cả nước
- Vị trí của một đô thị trong hệ thống đô thị cả nước phụ thuộc vào cấp quản lý của
đô thị và phạm vi ảnh hưởng của đô thị như: đô thị - trung tâm cấp quốc gia; đô thị - trung
tâm cấp vùng (liên tỉnh); đô thị - trung tâm cấp tỉnh, đô thị - trung tâm cấp huyện và đô thị -
trung tâm cấp tiểu vùng (trong huyện) được xác định căn cứ vào Quyết định số
10/1998/QĐ-TTg ngày 23/01/1998 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Định hướng quy
hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020 và quy hoạch tổng thể phát triển
hệ thống các đô thị, khu dân cư nông thôn trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
- Ngoài ra, theo tính chất, một đô thị có thể là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm
chuyên ngành của một hệ thống đô thị. Đô thị là trung tâm tổng hợp khi có chức năng tổng
- 4 -
hợp về nhiều mặt như: hành chính - chính trị, an ninh - quốc phòng, kinh tế (công nghiệp,
dịch vụ, du lịch nghỉ mát), đào tạo, nghiên cứu, khoa học kỹ thuật, v.v... Đô thị là trung tâm
chuyên ngành khi có một vài chức năng nào đó nổi trội hơn so với các chức năng khác và
giữ vai trò quyết định tính chất của đô thị đó như: đô thị công nghiệp, đô thị nghỉ mát, du
lịch, đô thị nghiên cứu khoa học, đào tạo; đô thị cảng.v.v... Trong thực tế, một đô thị là
trung tâm tổng hợp của một hệ thống đô thị vùng tỉnh, nhưng có thể chỉ là trung tâm
chuyên ngành của một hệ thống đô thị một vùng liên tỉnh hoặc của cả nước;
Phương pháp đơn giản để xác định tính chất chuyên ngành hay tổng hợp của đô thị
trong một hệ thống đô thị được căn cứ vào chỉ số chuyên môn hoá tính theo công thức sau:
Trong đó:
C
E
: Chỉ số chuyên môn hoá (nếu C
E
≥1 thì đô thị đó là trung tâm chuyên ngành của
ngành i)

E
= (1)
- Tỷ lệ các hộ nghèo (%).
4.2. Yếu tố 2: Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động.
- Lao động phi nông nghiệp của một đô thị là lao động trong khu vực nội thành phố,
nội thị xã, thị trấn thuộc các ngành kinh tế quốc dân như: công nghiệp, xây dựng, giao
thông vận tải, bưu điện, thương nghiệp, cung ứng vật tư, dịch vụ công cộng, du lịch, khoa
học, giáo dục, văn hoá, nghệ thuật, y tế, bảo hiểm, thể thao, tài chính, tín dụng, ngân hàng,
quản lý nhà nước và lao động khác không thuộc ngành sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp,
ngư nghiệp (lao động làm muối, đánh bắt cá được tính là lao động phi nông nghiệp).
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của một đô thị được tính theo công thức sau:
Trong đó:
K : Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của đô thị (%);
E
0
: Số lao động phi nông nghiệp trong khu vực nội thành phố, nội thị xã và thị
trấn(người).
E
t
: Tổng số lao động của đô thị (tính trong khu vực nội thành phố, nội thị xã và thị
trấn).
4.3. Yếu tố 3: Cơ sở hạ tầng đô thị
- Cơ sở hạ tầng đô thị bao gồm:
+ Cơ sở hạ tầng xã hội : nhà ở, các công trình dịch vụ thương mại, công cộng, ăn
uống, nghỉ dưỡng, y tế, văn hoá, giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, thể dục thể thao,
công viên cây xanh và các công trình phục vụ lợi ích công cộng khác.
+ Cơ sở hạ tầng kỹ thuật: giao thông, cấp nước, thoát nước, cấp điện, chiếu sáng,
thông tin liên lạc, vệ sinh và môi trường đô thị.
Cơ sở hạ tầng đô thị được đánh giá là đồng bộ khi tất cả các loại công trình cơ sở hạ
tầng xã hội và kỹ thuật đô thị đều được xây dựng, nhưng mỗi loại phải đạt được tiêu chuẩn

0
: Số dân tạm trú quy về dân số đô thị (người);
N
t
: Tổng số lượt khách đến tạm trú ở khu vực nội thành, nội thị hàng năm (người);
m : Số ngày tạm trú trung bình của một khách (ngày)
4.5. Yếu tố 5: Mật độ dân số
- Mật độ dân số là chỉ tiêu phản ánh mức độ tập trung dân cư của đô thị được xác
định trên cơ sở quy mô dân số đô thị và diện tích đất đô thị.
- Mật độ dân số được xác định theo công thức sau:
Trong đó:
D: Mật độ dân số (người /km
2
)
N : Dân số đô thị (N = N
1
+ N
0
)
S : Diện tích đất đô thị (km
2
)
- 7 -
N
o
=
365
2 mNt
×
(3)

tạo và vận chuyển hàng hóa, hay phục vụ như là trung tâm thương mại, dịch vụ, trung tâm
giáo dục và nghiên cứu. Chức năng nó có thể là thủ đô của quốc gia hay của vùng, khu nghĩ
ngơi, khu quân sự, khu tôn giáo hay khu nghĩ ngơi về hưu cho cộng đồng. Những chức
năng khác nhau được trình bày theo cách riêng biệt hay có sự kết hợp với nhau bởi sự định
- 8 -
cư của con người. Mục đích ban đầu có thể bị thay đổi và tùy thuộc vào chức năng cơ bản
mà nó lệ thuộc nhiều đến tự nhiên và số lượng dân cư.
Thông thường thì Thành phố đa chức năng thì sẽ mạnh về kinh tế và ít bị gãy đổ do
các hậu quả phát triển không tốt đẹp của một chức năng nào đó. Điều này cho thấy tại sao
các Thành phố thường tìm kiếm sự đa dạng hóa trên nền tảng kinh tế. Như vậy khi có một
ngành kinh tế bị suy thoái thì không hay ít ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất hay kinh
tế khác. Nói chung, chức năng cơ bản của Thành phố được phản ánh bởi cuộc sống kinh tế,
chính trị, xã hội, trong các dặc tính tự nhiên của nó và sự sắp đặt không gian.
5.4Lịch sử và văn hóa
Lịch sử và văn hóa ảnh hưởng đến những đặc tính về tự nhiên vả về các dặc tính xã
hội của Thành phố. Những chứng tích quan trọng như: đền đài, chùa, hay các di tích tôn
giáo khác thì thường được bảo vệ cho tính chất lịch sử theo thời gian. Sự trộn lận giữa các
sắc tộc với nhau của dân cư Thành phố cũng là vấn đề cần quan tâm trong việc quy hoạch
đô thị toàn diện.
5.5Giai đoạn phát triển
Như một chức năng động, Thành phố có những giai đoạng phát triển: sinh ra, phát
triển, thành niên, chính chắn, tuổi già, lão và chết trong trường hợp cộng đồng bỏ rơi, mà
ngày nay được biết như là “Thành phố ma”. Giai đoạn phát triển của Thành phố đại diện
cho tình trạng kinh tế, xã hội, tổ chức và kỹ thuật ở những thời gian nhất định trong quá
trình phát triển của nó.
5.6Cơ chế nền tảng
Sự khác nhau có ý nghĩa giữa các Thành phố phải được chú ý là trong việc ảnh
hưởng của nó đến sự quy hoạch. Tuy nhiên có những cơ chế nền tảng chung cho việc quy
hoạch và quản lý Thành phố và duy trì Thành phố trong từng trường hợp khác nhau như:
dạng tổ chức chính quyền và hành chính, hệ thống sản xuất kinh tế, thuế, quản lý tài chính

thị, đặc biệt với khu vực khô khan hoặc nữa khô khan, tình hình phong phú của nguồn nước
thường trên mức nhất định nó quyết định dung lượng của đô thị. Cái gọi là dung lượng của
đô thị là quy mô dân số hợp lý mà một đô thị có thể dung nạp được trong một thời gian, nó
được quy định bở các nhân tố điều kiện địa lý, tài nguyên thiên nhiên, thực lực kinh tế và
kết cấu hạ tầng. Đối với các đô thị khác nhau về tính chất, điều kiện xây dựng và cơ sở xây
dựng khác nhai , trình độ phát huy tác dụng của nguồn nước sẽ khác nhau.
- 10 -
6.1.3 Tài nguyên năng lượng
Tài nguyên năng lượng có sh nhất định đối với quy mô phát triển đô thị, nó chủ yếu
gồm có than đá, dầu mỏ, điện lực
Đô thị là một cơ thể sống nó cần phải dựa vào cung ứng các nguồn năng lượng để
tồn tại và phát triển. Ở thời kỳ đầu của đô thị hóa khi mà nền kinh tế kỹ thuật, giao thông
còn chưa phát triển, thường ở những nơi đó có nguồn năng lượng tương đối phong phú,
quy mô hình thành đô thị cũng tương đối lớn. Nhưng nguồn năng lượng có tính vận chuyển
tương đối mạnh mẽ đặc biệt là năng lượng hiện đại của đô thị lấy điện năng làm chủ lực,
giá thành vận chuyển tương đối thấp do vậy nguồn năng lượng không phải là nhân tố hạn
chế nghiêm khắc với quy mô đô thị.
6.2Ảnh hưởng của vị trí
6.2.1 Vị trí giao thông
Đô thị là hệ thống mang tính mở cửa, nó chỉ có trao đổi năng lượng với bên ngòai
mới duy trì được sự sống còn và phát triển của bản than. Giao thông trở thành phương tiện
và môi giới cơ bản để đô thị trao đổi năng lượng với bên ngoài. Dựa vào giao thông vận tải
để giải quyết việc bổ sung năng lượng cần thiết cho đô thị, thu dọn các vật phế thải sau khi
đô thị tiêu dung năng lượng; cũng như dựa vào giao thông vân tải thực hiện việc tụ hội
nguồn tài nguyên trong khu vực đô thị, khuyếch tán công năng của đô thị ra bên ngoài.
Như vậy, ưu việt cảu hệ thông giao thông có thể mở rộng phạm vi hoạt động của đô
thị, tăng nhanh quy trình đổi mới đô thị, thúc đẩy việc mở rộng với nhịp độ cao của quy mô
phát triển đô thị. Ngược lại, trong tình hình vị trí địa lý giao thông bất lợi, sự giao lưu giữa
đô thị với bên ngoài không thuận lợi sẽ khó có điều kiện để hình thành những đô thị có quy
mô tương đối lớn, tức nhiên tốc độ phát triển của quy mô đô thị cũng chậm lại.

rộng. Phát triển kinh tế đô thị và mở rộng công trình đô thị đều đòi hỏi phải đầu tư một
lượng vốn lớn. Sự phát triển của một đô thị nào đó, ngoài một lượng vốn ít ỏi do nhà nước
trực tiếp đầu tư phần còn lại chủ yếu dựa vào khả năng tích lũy của bản thân đô thị. Do
vậy, thực lực kinh tế hiện có của đô thị có tác dụng chế ước nhất định đối với việc mở rộng
quy mô đô thị.
II. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÔ THỊ HÓA
- 12 -
1. Đô thị hóa
Trên thế giới hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về đô thị hóa:
- Đô thị hoá là quá trình phát triển đô thị ở một quốc gia. Bao gồm việc mở rộng các đô
thị hiện có và hình thành các đô thị mới. Đây là quá trình tập trung dân số vào các đô
thị.
- Đô thị hoá là một tiến trình tất yếu, nâng cao săng suất lao động; tái định cư trên quy
mô quốc gia; tái bố trí sử dụng đất đai; cải thiện đời sống vật chất tinh thần của nhân
dân.
- Đô thị hóa là sự tập trung của dân số (Eldridge, 1942);
- Đô thị hóa là quá trình lan tỏa của văn hóa đô thị đến vùng nông thôn;
- Đô thị hóa là quá trình di dân vào Thành phố và hội nhập theo phong cách sống của
Thành phố;
- Đô thị hóa là quá trình mà tỷ lệ người sống ở các khu đô thị ngày càng tăng (Hsing,
1982);
- Đô thị hóa là quá trình phát triển các vùng đô thị…
- Để đánh giá quá trình đô thị hoá dựa vào 02 tiêu chí:
* Mức độ đô thị hoá: (Số dân đô thị/Tổng số dân(%) và
* Tốc độ đô thị hoá: (Số dân cuối kỳ-Số dân đầu kỳ)/Số dân đầu kỳ*N(%).
2. Sự phát triển của đô thị hóa
Theo Lê Quang Trí, 1999 thì:
Quá trình đô thị hóa diễn ra song song với hoạt động phát triển không gian kinh tế
xã hội. trình độ đô thị hóa phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của nền văn
hóa và phương thức tổ chức cuộc sống xã hội.

triển nhanh ở giai đoạn công nghiệp hóa, chiếm tỷ lệ cao nhất trong giai đoạn hậu công
nghiệp và sau đó giảm dần do sự thay thế trong lao động công nghiệp bằng tự động hóa.
• Lao động khu vực III
Bao gồm các thành phần lao động khoa học và dịch vụ. Theo Fourastier thành phần
này từ chỗ chiếm tỷ lệ thấp nhất trong thời kỳ tiền công nghiệp đã tăng dần và cuối cùng
chiếm tỷ lệ cao nhất trong giai đoạn văn minh khoa học kỹ thuật (Hậu công nghiệp)
Lý thuyết ba thành phần lao động kinh tế của Fourastier có một ý nghĩa rất lớn trong
quá trình đô thị hóa. Muốn biết trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của một quốc gia
- 14 -
ta chỉ cần xem tỷ lệ lao động giữa ba khu vực đó. Lý thuyết này cũng phù hợp với ba thời
kỳ của quá trình đô thị hóa ở hầu hết các nước trên thế giới.
4. Phương pháp đánh giá mức độ đô thị hóa
Theo Phạm Ngọc Côn, 1999 thì:
Đô thị hóa là một hiện tượng kinh tế xã hội phức tạp, việc đánh giá mức độ đô thị hóa
gặp phải khó khăn từ hai mặt: Một là, tính vận động của đô thị hóa, tức đô thị hóa là một
quá trình, phương pháp đánh giá mức độ của nó cần sử dụng tiêu chuẩn thống nhất phản
ánh những đặc trưng khác nhau của các thời kỳ đô thị hóa khác nhau. Hai là, tính đa dạng
của nội hàm đô thị hóa bao gồm sự biến đổi của tỷ trọng dân số, sự biến đổi của thành thị
nông thôn và sự biến đổi phương thức sinh hoạt của dân cư, phương pháp đánh giá mức độ
đô thị hóa cần sử dụng tiêu chuẩn đơn giản để phản ánh nội dung phức tạp. Hiện nay
phương pháp đánh giá mức độ đô thị hóa chủ yếu có hai nhóm lớn.
4.1Phương pháp chỉ số chủ yếu
Tức thông qua mấy chỉ tiêu có ý nghĩa bản chất, có tính tượng trung mà thuận tiện
cho việc thống kê phân tích để phản ánh và mô tả mức độ đô thị hóa. Đô thị là không gian
đặc biệt, sự tụ hội dân số và hoạt động kinh tế phi nông nghiệp trên không gian đó là đặc
trưng quan trọng nhất của đô thị. Vì vậy các chỉ tiêu chủ yếu phản ánh mức độ đô thị hóa
là:
- Chỉ tiêu dân số - sức lao động
Chủ yếu là quy mô dân số đô thị và tỷ trọng dân số đô thị trong tổng số dân số của
khu vực, mức độ tựu nghiệp và cơ cấu tựu nghiệp của ngành sản xuất phi nông nghiệp.

- Hệ thống trưởng thành của đô thị
+ Tổng dân số của khu vực
+ Tổng mức chi trong măm tài chính của đại phương
+ Số người làm nghề chế tạo
+ Số người làm nghề thương nghiệp
+ Tổng giá trị sản lượng công nghiệp
+ Tổng mức thương nghiệp buôn bán
+ Tổng mức thương nghiệp bán lẻ
+ Tổng diện tích xây dựng nhà ở
+ Tỷ lệ dự trữ
- 16 -
+ Tỷ lệ phổ cập điện thoại
- Kích cở đô thị
+ Quy mô đô thị: diện tích, tổng dân số
+ Vị trí khu vực đô thị: cự ly, thời gian cách trung tâm đô thị
+ Hoạt động kinh tế đô thị: thu nhập tài chính năm, tỷ suất hàng hóa công nghiệp, tỷ
suất tiêu thụ hàng hóa, tỷ lệ diện tích đất canh tác, tỷ lệ phổ cập điện thoại.
+ Tựu nghiệp đô thị: số người tựu nghiệp của khu vực thứ 3, tỷ lệ số người quản lý, tỷ
lệ số người làm thuê.
+ Tăng trưởng dân số đô thị: tỷ lệ tăng trưởng dân số, tỷ lệ người trong độ tuổi lao
động, tỷ lệ số người tựu nghiệp
5. Tiền đề của đô thị hóa
Bất luận đô thị hóa loại hình tập trung hay loại hình phân tán, đều biểu hiện mối
quan hệ qua lại của sự phát triển biến đổi giữa đô thị và nông thôn. Đô thị trước hết được
hưng thịnh tại khu vực có phân công nông nghiệp hoàn thiện và kinh tế nông thôn phát
triển, đồng thời hình thái và trình độ của kinh tế nông thôn luôn luôn quan hệ với tốc độ và
trình độ của đô thị hóa. Do vây, sự phát triển của kinh tế nông thôn là tiền đề quan trọng
nhất của phát triển đô thị hóa.
5.1Tiền đề thứ nhất
Sự phát triển của sức sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn không chỉ cần bảo

hòa giữa đô thị và nông thôn.
Quan hệ vận động của sự tác động qua lại giữa thành thị và nông thôn thường quyết
định trình độ và phương hướng phát triển kinh tế của toàn bộ nông thôn, tức là sự phụ
thuộc của nông thôn vào thành thị (Phạm Ngọc Côn, 1999)
III. Các khu chức năng đô thị và cách bố trí
1. Các khu chức năng đô thị
Theo Lê Quang Trí, 1999 thì đất đai đô thị được phân chia thành các 7 khu chức năng,
cụ thể là:
- Khu công nghiệp
- Khu kho tàng
- Khu đất dân dụng
- 18 -
- Khu trung tâm đô thị
- Khu đất giao thông đô thị
- Khu cây xanh
- Khu đất đặc biệt
2. Cách bố trí các khu chức năng đô thị
Theo Lê Quang Trí, 1999 thì các khu chức năng đô thị được bố trí như sau:
2.1Khu công nghiệp
Khu đất công nghiệp trong đô thị bao gồm đất xây dựng các xí nghiệp công nghiệp
và tiểu thủ công nghiệp được bố trí tập trung thành từng khu vực, trong đó tính cả đất
giao thông nội bộ, các bến bãi hoặc các công trình quản lý phục vụ các nhà máy.
Khu đất công nghiệp là thành phần quan trọng của cơ cấu đô thị đồng thời là một
yếu tố quan trọng trong sự hình thành và phát triển đô thị. Do yêu cầu về sản xuất và
bảo vệ môi trường sống, để tránh những độc hại của sản xuất công nghiệp, một số cơ sở
sản xuất phải được bố trí bên ngoài Thành phố, được cách ly với khu vực khác. Ngược
lại, một số loại xí nghiệp công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp mà sản xuất không ảnh
hưởng xấu đến môi trường thì có thể bố trí ngay trong khu dân dụng Thành phố.
2.1.1 Các loại hình khu công nghiệp
- Tổ hợp công nghiệp hoàn chỉnh dưới hình thức liên hiệp hóa dây chuyền công nghệ

/người
• Đô thị loại IV 20 - 25 m
2
/người
( Theo tiêu chuẩn quy phạm thiết kế quy hoạch xây dựng đô thị)
- Các khu công nghiệp phải có các khu chức năng.
- Khu công nghiệp có chất thải độc thì phải có khoảng cách ly hợp lý với các khu vực
xung quanh.
- Các Khu công nghiệpcó chất phóng xạ hay sản xuất các chất nổ không được bố trí
trong đô thị
- Khoảng cách giữa khu công nghiệp và các khu vực xung quanh phải được ngăn cách
bằng các băng cây xanh.
2.2Khu kho tàng
Kho tàng là nơi chứa các tài sản, vật tư, nhiên liệu, hàng hóa của nhà nước, tư nhân,
xí nghiệp và các dịch vụ công cộng trong Thành phố. Trong quy hoạch đô thị khu đất kho
tàng chiếm vị trí khá quan trọng đối với việc điều hòa phân phối và dự trữ tài sản phục vụ
sản xuất và sinh hoạt của dân đô thị và các vùng xung quanh.
2.2.1 Các loại kho tàng
- Kho dự trữ quốc gia ngoài đô thị
- Kho trung chuyển
- Kho công nghiệp
- 20 -
- Kho vật liệu xây dựng, vật tư và nguyên liệu
- Kho phân phối
- Kho lạnh
- Kho chứa các vật liệu cháy nổ, nhiên liệu, chất thải rắn.
2.2.2 Nguyên tắc bố trí
Kho tàng được xây dựng trong đô thị phải đảm bảo mật độ xây dựng trên 60%. Trừ
những loại kho đặc biệt chuyên dùng, diện tích xung quanh đất đai kho tàng phục vụ
cho đô thị có thể tính toán như sau:

2.4.1 Các bộ phận chức năng trong khu trung tâm đô thị
- Hành chính, chính trị
- Y tế, bảo vệ sức khỏe
- Thương nghiệp, thương mại
- Dịch vụ
- Thông tin liên lạc
- Văn hoá nghệ thuật
- Giáo dục đào tạo
- Thể thao
- Nghĩ ngơi du lịch
- Tài chính, ngân hàng, tín dụng
- Nhà ở
2.4.2 Chọn vị trí xây dựng khu trung tâm
- Đảm bảo điều kiện giao thông thuận tiện
- Phù hợp với điều kiện địa hình phong cảnh
- Có khả năng phát triển mở rộng
2.5Khu đất giao thông đô thị
Giao thông đô thị là một bộ phận hết sức quan trọng trong thiết kế quy hoạch đô thị.
Mạng lưới giao thông đô thị quyết định hình thái tổ chức không gian đô thị, hướng phát
triển đô thị, cơ cấu tổ chức sử dụng đất đai và mối quan hệ giữa các bộ phận chức năng
với nhau.
2.5.1 Chức năng của đường giao thông đô thị
- Vận chuyển hành khách và hàng hóa, bảo đảm lưu thông và đi lại hàng ngày của
người dân, an toàn và nhanh chóng, bảo đảm mối liên hệ qua lại bên trong và bên
ngoài đô thị được thuận lợi.
- Mạng lưới đường giao thông phân chia đất đô thị thành nhiều khu vực chức
năng, nó làm ranh giới cho các khu đất và các lô đất xây dựng trong và ngoài đô
- 22 -
thị. Đường giao thông vành đai đô thị thường là ranh giới nội thị và ngoại thị.
Đường phố chính trong đô thị thường là ranh giới các khu vực ở và khu thương

- Hệ thống răng lược
2.6Khu cây xanh
Cây xanh có vai trò rất quan trọng đối với đời sống con người, là một bộ phận trong
hệ sinh thái tự nhiên, có tác dụng lớn trong việc cải tạo khí hậu và bảo vệ môi trường sống
ở đô thị. Cây xanh còn có tác dụng đặc biệt đối với các công trình kiến trúc đô thị và là một
trong những yếu tố của nghệ thuật bố cục không gian và cảnh quan đô thị.
2.6.1 Chức năng cây xanh đô thị
- Là nơi lọc và điều khiển khí hậu trong đô thị
- Là nơi nghỉ ngơi giải trí cho người dân đô thị
- Là nơi cách ly và bảo vệ cho đô thị
- Tạo cảnh quan cho đô thị
2.6.2 Một số chỉ tiêu và nguyên tắc cơ bản quy hoạch cây xanh đô thị
Nguyên tắc cơ bản về thiết kế quy hoạch khu đất cây xanh đô thị là phải bảo đảm
được giá trị sử dụng, vệ sinh môi trường và thẫm mỹ đô thị. Hệ thông cây xanh phải bảo
đảm được tính liện tục trong sử dụng đất cây xanh kết hợp với việc khai thác di sản văn
hóa, di sản tự nhiên và tổ chức nghĩ ngơi giải trí trong đô thị. Những dải cây xanh cách ly
bảo trợ phải bảo đảm các chỉ tiêu quy định. Diện tích cây xanh tùy theo điều kiện và khả
năng cho phép của từng đô thị.
2.7Khu đất đặc biệt
Khu đất đặc biệt là một thành phần trong cơ cấu đất đai của Thành phố, được bố trí
theo yêu cầu các hoạt động đặc biệt về kinh tế, kỹ thuật, chính trị, văn hóa, quân sự và hành
chính của Thành phố.
2.7.1 Các loại đất đặc biệt
- Trong Thành phố: Khu ngoại giao và cơ quan quốc tế; quân đội chính quy; Cơ
quan đặc biệt của nhà nước.
- Ngoài Thành phố: Khu nghĩa địa; công trình xử lý chất thải; Thông tin liên lạc,
viễn thông, trạm thu phát vô tuyến; vườn ươm cây; các dãy cây chống mát, gió,
cách ly; khu dự trữ phát triển quy hoạch Thành phố.
2.7.2 Những yêu cầu trong việc bố trí đất đặc biệt của thành phố
- 24 -

- 25 -

Trích đoạn Xuất nhập khẩu Quy hoạch, xây dựng và quản lý đô thị Giải pháp về vốn Phát triển nguồn nhân lực CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status