ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÔ VĂN BẢO Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÂN BỐ
LOÀI THIẾT SAM GIẢ LÁ NGẮN (PSEUDOTSUGA BREIFOLIA
W.C CHENG & LK.FU, 1975) TẠI TỈNH HÀ GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : K42- Quản lý tài nguyên rừng
Khoa : Lâm nghiệp
Lớp : K42-QLTNR
Khóa học : 2010-2014
Giảng viên hướng dẫn : TS. Dương Văn Thảo
: ThS. Lê Văn Phúc
trường tận tình giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời
gian khóa học.
Tập thể cán bộ kiểm lâm Hạt kiểm lâm Bát Đại Sơn, Trạm kiểm lâm xã
Cán Tỷ đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình điều tra hiện trường,
thu thập số liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu.
Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn TS. Dương Văn Thảo và ThS. Lê
Văn Phúc đã dành nhiều thời gian quý báu, tận tình hướng dẫn tôi trong suốt
thời gian thực tập và hoàn thành luận văn này.
Cảm ơn gia đình và những người thân, bạn bè đã giúp đỡ về mọi mặt để
tôi hoàn thành được khoa học này.
Do thời gian có hạn, trình độ chuyên môn còn hạn chế và bản thân mới
bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, nên đề tài không tránh
khỏi những thiếu sót. Kính mong quý thầy, cô giáo và bạn bè quan tâm giúp
đỡ để đề tài hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Lô Văn Bảo
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
BQL : Ban quản lý
CCR : Chữa cháy rừng
CVĐC : Công viên địa chất
FAO : Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc
D
1.3
MỤC LỤC
Phần 1.MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích nghiên cứu 3
1.3. Mục tiêu nghiên cứu 3
1.4. Ý nghĩa của đề tài 4
1.4.1. Trong học tập và nghiên cứu khoa học 4
1.4.2. Trong thực tiễn và sản xuất 4
Phần 2. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
2.1. Cơ sở khoa học 5
2.2. Trên thế giới 5
2.3. Ở Việt Nam 8
2.4. Các nhân tố sinh thái đối với đời sống thực vật 10
2.4.1. Nhân tố nhiệt độ đối với đời sống thực vật 10
2.4.2. Nhân tố ánh sáng đối với đời sống thực vật 10
2.4.3. Nhân tố nước và độ ẩm đối với đời sống của thực vật 11
2.4.4. Nhân tố đất đối với đời sống thực vật 11
2.4.5. Nhân tố không khí đối với đời sống thực vật 12
2.4.6. Nhân tố kinh tế - xã hội đối với đời sống thực vật 13
2.5. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Giang 13
2.5.1. Vị trí địa lý 13
2.5.2. Địa hình 14
2.5.3. Thủy văn 15
2.5.4. Khí hậu 15
2.5.5. Tài nguyên rừng 16
2.6. Một số dẫn liệu về loài Thiết sam giả lá ngắn 17
4.4.1. Giải pháp về quản lý và bảo vệ rừng 38
4.4.2. Giải pháp về khoa học và công nghệ 42
4.4.3. Giải pháp về kinh tế: 43
4.4.4. Giải pháp về xã hội 44
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47
5.1. Kết luận 47
5.2. Kiến nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Hiện nay sự suy giảm về đa dạng sinh học đang diễn mạnh mẽ, đặc biệt
là các loài cây quý hiếm có nhiều giá trị về mặt sinh thái và kinh tế như loài
Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifovila W. C Cheng & L.K.Fu, 1975)
họ Thông (Pinaceae) còng đang đứng trước nguy cơ đó. Trong quá trình phát
triển kinh tế - xã hội tiếp theo đòi hỏi chúng ta có nhận thức và hành động để
(Mông) có phân bố ở Trung Quốc (Quý Châu, Quảng Tây) và Việt Nam có ở
các tỉnh vùng Đông Bắc như Bắc Kạn (Na Rì), Cao Bằng (Nguyên Bình, Trà
Lĩnh, Hạ Lang, Bảo Lạc), Hà Giang (Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc), trong
10 năm trở lại đây, kích thước quần thể suy giảm tới trên 50%, diện tích phân
bố hiện < 2000 km
2
, quần thể bị chia cắt, mọc rải rác trên các đỉnh núi đá vôi
ở vùng Đông Bắc, có chỗ mọc gần như thuần loài (Kim Hỉ) (Bộ NN & PTNT,
2010) [3]. Là một trong số 33 loài cây lá kim bản địa ở Việt Nam. TSGLN là
cây có gỗ đẹp và bền, thường mọc trên các đỉnh núi đá vôi có độ cao từ 500 –
1500m so với mặt nước biển. Loài này mang nhiều ý nghĩa về sinh thái, giá trị
thương mại, giá trị sử dụng, giá trị văn hóa cảnh quan. Hiện nay vùng phân bố
tự nhiên bị thu hẹp nhanh chóng và một số cá thể trưởng thành của loài bị
giảm sút nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do khai thác
gỗ vì mục đích thương mại và xây dựng, làm hàng mỹ nghệ, điều kiện hoàn
cảnh sống thay đổi, quần thể bị chia cắt, khả năng tái sinh kém. Vì vậy, loài
này đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Cần phải có ngay biện pháp kịp
thời để bảo tồn và hướng tới phát triển nhân rộng loài cây gỗ quý, hiếm ở
vùng núi đá vôi.
3
Thiết sam giả lá ngắn được đề nghị là loài bổ sung vào danh lục các
loài quý hiếm và nguy cấp theo nghị định 32/NĐ-CP/2006 nghiêm cấm khai
thác và sử dụng với mục đích thương mại. Thuộc bậc VU theo sách đỏ Việt
Nam 2007 và danh lục đỏ IUCN. Nếu không có những biện pháp bảo vệ và
nhân rộng thì loài này sẽ có nguy cơ bị tuyệt chủng.
Những nghiên cứu về Thiết sam giả lá ngắn trên núi đá vôi ở nước ta
còn nhiều hạn chế, các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào việc sơ bộ mô tả đặc
điểm hình thái, sinh thái, những thông tin về khả năng tái sinh ngoài tự nhiên
còn rất ít.
Để bảo tồn loài quý hiếm này cần thiết phải có những nghiên cứu sâu
Hạn chế và ngăn ngừa sự suy thoái của loài Thiết sam giả lá ngắn, trên
cơ sở đó bước đầu đề xuất được các giải pháp tăng số lượng và chất lượng
loài Thiết sam giả lá ngắn.
5
Phần 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học
Sự tồn tại và phát triển của một loài cây rừng phụ thuộc vào sự ảnh
hưởng của các nhân tố sinh thái tổng hợp, ngoài các nhân tố sinh thái có tính
khu vực như khí hậu, đất đai, thì nó còn bị sự ảnh hưởng của các nhân tố tiểu
hoàn cảnh rừng như địa hình, ánh sáng dưới tán rừng, nhiệt độ trong rừng,
quan hệ tổ thành loài, đai cao, vị trí sống, dinh dưỡng, độ ẩm đất, thực bì,
thảm mục…và các nhân tố này lại có mối quan hệ qua lại chặt chẽ, do vậy
nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển cây rừng phải
dựa trên quan điểm tổng hợp, không tách rời từng nhân tố. Phương pháp tiếp
cận vấn đề này của đề tài sẽ dựa vào thu thập số liệu sinh thái tổng hợp liên
quan đến phân bố, tái sinh loài trên hiện trường, áp dụng phương pháp kế thừa
số liệu của các công trình đã công bố kết hợp với điều tra khảo sát, bố trí thí
nghiệm ngoài thực địa, phân tích trong phòng để làm cơ sở nghiên cứu đối
tượng Thiết sam giả lá ngắn.
2.2. Trên thế giới
Nhiều nhà khoa học đã dày công nghiên cứu về sinh thái, đặc biệt là
tán rừng nhiệt đới thường xanh (A.A.Aleceev, 1965, 1982; B.C.Belov, 1974,
1880; X.N.Xelnov, 1977, 1980 dẫn theo Nguyễn Minh Đức, 1998) [4] .
Đối với nhiệt độ không khí, sự biến đổi theo chiều thẳng đứng trong và
ngoài rừng rất khác nhau. Ở chỗ trống, ban ngày mặt đất chịu tác động trực
tiếp và mạnh mẽ của bức xạ mặt trời, nhiệt độ biến đổi theo quy luật: nhiệt độ
không khí ở mặt đất cao nhất, càng lên cao nhiệt độ càng giảm. Ban đêm do
7
bức xạ mạnh của mặt đất nên tình hình biến đổi theo chiều ngược lại, nhiệt độ
mặt đất thấp nhất và càng lên cao nhiệt độ càng tăng (trong phạm vi một độ
cao nhất định). Tán rừng là nơi ban ngày nhận được bức xạ nhiều nhất còn
mặt đất thì được tán rừng che phủ, ban ngày nhận ít bức xa mặt trời, ban đêm
bức xạ tỏa nhiệt bị tán cây chắn lại Phùng Ngọc Lan (1986) [5] . Nhiệt độ là
nhân tố sinh tồn giữ vai trò quyết định các hoạt động sinh lý như quang hợp,
hô hấp, thoát hơi nước, hút các chất dinh dưỡng…nhiệt độ là nhân tố quan
trọng trong kích thích hạt giống nảy mầm (Phùng Ngọc Lan và cs, 1992) [6].
Rừng đảm bảo những điều kiện sinh thái cần thiết để duy trì các hoạt
động sản xuất và đời sống của người dân. Những cố gắng trong việc quản lý
bảo vệ các khu rừng cấm quốc gia thường gây nên những mâu thuẫn lợi ích
giữa cá nhân, cộng đồng dân cư địa phương với quốc gia. Từ đây, người ta
nhận thức được rằng công tác QLRBV phải hướng đến phục vụ các nhu cầu
xã hội. Việc đáp ứng các nhu cầu đó phải được thực hiện thường xuyên, liên
tục và ổn định lâu dài. Theo tài liệu của FAO, công cụ để QLRBV phải bao
gồm các quy trình công nghệ, cả các chính sách kinh tế xã hội. Nó đảm bảo
các hoạt động quản lý rừng thoả mãn đồng thời những nguyên lý về kinh tế,
xã hội và môi trường. Có thể nói quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững là
phương thức quản lý được xã hội chấp nhận, có cơ sở về mặt khoa học, có
tính khả thi về mặt kỹ thuật và hiệu quả về mặt kinh tế.
Trong giai đoạn đầu của thế kỷ 20, hệ thống quản lý tài nguyên rừng
tập trung đã thực hiện ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở những quốc gia phát
triển. Trong giai đoạn này, vai trò của cộng đồng trong quản lý rừng ít được
Cường độ ánh sáng dưới tán rừng giảm dần theo độ khép tán của rừng…
- Nhân tố sinh thái giới hạn: ( 1) Những nhân tố sinh thái nằm ở lân cận
vùng gây ra ức chế hoặc tử vong của sinh vật. (2) Những nhân tố sinh thái
làm cho sinh vật lâm vào tình trạng bị ức chế hoặc tử vong. Ví dụ: Nhiệt độ
(ánh sáng, độ ẩm…) quá cao hoặc quá thấp đối với hoạt động bình thường của
thực vật.
- Tính chống chịu sinh thái của loài: Khả năng của sinh vật có thể chịu
đựng được sự tác động của nhân tố sinh thái ở mức độ nào đó
9
Còn trong giáo trình Sinh thái học của (Nguyễn Đình Sinh, 2009) [9]
thì nhân tố sinh thái là tất cả các nhân tố môi trường có ảnh hưởng trực tiếp hay
gián tiếp tới đời sống sinh vật. Tất cả các nhân tố sinh thái gắn bó chặt chẽ với
nhau thành một tổ hợp sinh thái và cùng tác động lên cơ thể sinh vật.
Sự phân chia các nhóm nhân tố sinh thái. Theo Mai Sỹ Tuấn (Phạm
Văn Lập, chủ biên, 2008), các nhân tố sinh thái được chia thành hai nhóm:
Nhóm các nhân tố vô sinh là tất cả các nhân tố vật lý và hóa học của môi
trường xung quanh sinh vật. Nhóm các nhân tố hữu sinh là thế giới hữu cơ
của môi trường, là những mối quan hệ giữa một sinh vật (hoặc nhóm sinh vật)
này với một sinh vật (hoặc nhóm sinh vật) khác sống xung quanh. Trong
nhóm nhân tố sinh thái hữu sinh, nhân tố con người được nhấn mạnh là nhân
tố có ảnh hưởng lớn tới đời sống của nhiều sinh vật.
Theo Thái Văn Trừng (1978) [12] khi nghiên cứu về thảm thực vật
rừng Việt Nam, đã kết luận: Ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điều
khiển quá trình tái sinh tự nhiên ở cả rừng nguyên sinh lẫn rừng thứ sinh. Nếu
các điều kiện khác của môi trường như: đất rừng, nhiệt độ, độ ẩm dưới tán
rừng chưa thay đổi thì tổ hợp các loài cây tái sinh không có những biến đổi
lớn và cũng không diễn thế một cách tuần hoàn trong không gian và theo thời
gian mà diễn thế theo những phương thức tái sinh có quy luật nhân quả giữa
sinh vật và môi trường.
Phạm Hoàng Quốc (2011) [8] đã nghiên cứu ảnh hưởng của một số
nảy mầm đến khi ra hoa, đậu quả). Quang hợp của thực vật chỉ xuất hiện ở
phổ ánh sáng mà mắt thường có thể nhìn thấy được với các bước sóng từ 380-
780n.m. Cường độ ánh sáng khác nhau sẽ ảnh hưởng khác nhau tới thực vật.
Ảnh hưởng của ánh sáng đến quá trình sinh trưởng của thực vật mang
tính chất rất phức tạp, nó liên quan tới rất nhiều yếu tố ngoại cảnh (Nguyễn
Đình Sinh, 2009) [9].
11
2.4.3. Nhân tố nước và độ ẩm đối với đời sống của thực vật
Nước có vai trò quan trọng trong đời sống sinh vật, là thành phần
không thể thiếu được của các cơ thể sống. Nước là nguyên liệu cho cây quang
hợp; là phương tiện vận chuyển các chất trong cơ thể thực vật, là môi trường
cho các phản ứng sinh hóa diễn ra trong tế bào của cơ thể sống; nó tham gia
vào quá trình trao đổi chất, trao đổi năng lượng và điều hòa nhiệt độ cơ thể.
Nước có vai trò tích cực trong việc phát tán nòi giống và trong sinh sản
của sinh vật: thụ tinh, phát tán bào tử, hạt, quả.
Nước chiếm tới 80-95% khối lượng của các mô sinh trưởng, chỉ cần
giảm sút một ít hàm lượng nước trong tế bào đã làm giảm các chức năng sinh
lý của cơ thể (Nguyễn Đình Sinh, 2009) [9].
2.4.4. Nhân tố đất đối với đời sống thực vật
Đất không chỉ là “yếu tố” của môi trường mà còn là sản phẩm hoạt
động sống của sinh giới; đất là kết quả tổng hợp của các tác động khí hậu và
sinh vật, đặc biệt là thực vật trên vật liệu gốc.
Trước hết cấu trúc của đất ảnh hưởng tới quá trình nảy mầm của hạt. Những
hạt nhỏ và nhẹ thường nảy mầm nhanh hơn trong đất nhỏ, do hạt nhỏ dễ tiếp
xúc với các thành phần đất mịn tốt hơn. Đất vừa là giá thể cho cây đứng vững,
vừa cung cấp nước và các chất khoáng cần thiết cho cây.
Ảnh hưởng của môi trường đất đến thực vật: Chế độ ẩm, độ thông khí
và nhiệt độ cùng với cấu trúc của lớp đất mặt đã ảnh hưởng đến sự phân bố
các loại cây và hệ rễ của chúng. Hệ rễ của những cây gỗ ở những vùng bị
đóng băng phân bố nông và rộng. Những nơi không có sự đóng băng thì hệ rễ
13
2.4.6. Nhân tố kinh tế - xã hội đối với đời sống thực vật
Rừng không chỉ cung cấp những sản phẩm phục vụ sinh hoạt hằng
ngày như gỗ, củi, lương thực, thực phẩm, dược liệu vv mà còn cung cấp
những sản phẩm phục vụ nhu cầu công nghiệp, thủ công nghiệp và xuất khẩu.
Do công tác quản lý rừng và tài nguyên đất đai vùng đầu nguồn kém
hiệu quả dẫn đến mất rừng, gây ra những biến đổi khí hậu, gia tăng tần suất và
mức độ thiệt hại của hạn hán, lũ lụt. Hằng năm nhà nước phải đầu tư hàng
nghìn tỉ đồng để củng cố đê điều và chống lũ. Mất rừng cũng là nguyên nhân
chính gây nên sự xói mòn mạnh và sự hoang hoá diện tích đất đồi núi. Quản
lý rừng không hiệu quả và thiếu quy hoạch cũng làm cho nhiều vùng đất
trũng, đất ngập mặn trù phú bởi các thảm rừng tràm, rừng đước với hàng trăm
loài động vật hoang dã có giá trị cao đã và đang bị thay thế bởi các vùng nuôi
tôm, các rừng trồng công nghiệp với mức độ mặn hoá, phèn hoá ngày càng
nghiêm trọng.
Sự gia tăng dân số, thiếu thốn về lương thực, phá rừng lấy đất canh tác,
khai thác lâm sản quá mức, rừng còn bị ảnh hưởng bởi sự huỷ diệt trầm trọng
của các cuộc chiến tranh kéo dài và làm cho tài nguyên rừng bị giảm sút vì
bom đạn, chất độc hoá học tàn phá nặng nề.
2.5. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Giang
2.5.1. Vị trí địa lý
Hà Giang là một tỉnh miền núi biên giới ở cực bắc của Tổ quốc, có vị
trí chiến lược đặc biệt quan trọng. Phía bắc và tây có đường biên giới giáp với
nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa dài 274 km; phía đông giáp tỉnh Cao
Bằng; phía nam giáp tỉnh Tuyên Quang; phía tây và tây nam giáp tỉnh Lào
Cai và Yên Bái.
Hà Giang có diện tích tự nhiên là 7.914,8892km
2
, trong đó theo đường
chim bay, chỗ rộng nhất từ tây sang đông dài 115 km và từ bắc xuống nam
vòm, quả lê, yên ngựa xen kẽ các dạng địa hình dốc, đôi khi sắc nhọn hoặc
lởm chởm dốc đứng, bị phân cắt mạnh, nhiều nếp gấp.
Vùng núi thấp bao gồm địa bàn các huyện, thị còn lại, kéo dài từ Bắc
Mê, thị xã Hà Giang, qua Vị Xuyên đến Bắc Quang. Khu vực này có những
dải rừng già xen kẽ những thung lũng tương đối bằng phẳng nằm dọc theo
sông, suối.
15
2.5.3. Thủy văn
Các sông lớn ở Hà Giang thuộc hệ thống sông Hồng. ở đây có mật độ
sông - suối tương đối dày. Hầu hết các sông có độ nông sâu không đều độ dốc
lớn, nhiều ghềnh thác, ít thuận lợi cho giao thông đường thuỷ.
Sông Lô là một sông lớn ở Hà Giang, bắt nguồn từ Lưu Lung (Vân ,
Trung Quốc), chảy qua biên giới Việt - Trung (khu vực Thanh Thuỷ), qua thị
xã Hà Giang, Bắc Quang về Tuyờn Quang. Đây là nguồn cung cấp nước
chính cho vùng trung tâm tỉnh.
Sông Chảy bắt nguồn từ sườn tây nam đỉnh Tây Côn Lĩnh và sườn
đông bắc đỉnh Kiều Liên Ti, mật độ các dòng nhánh cao (1,1km/km2), hệ
số tập trung nước đạt 2,0km/km
2
. Mặc dù chỉ đoạn đầu nguồn thuộc địa
phận tỉnh nhưng là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho khu vực phía tây của
Hà Giang.
Sông Gâm bắt nguồn từ Nghiêm Sơn, Tây Trù (Trung Quốc) chảy qua
Lũng Cú, Mèo Vạc về gần thị xã Tuyên Quang nhập vào Sông Lô. Đây là
nguồn cung cấp nước chính cho phần đông của tỉnh.
Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Hà Giang còn có các sông ngắn và nhỏ hơn
như sông Nho Quế, sông Miện, sông Bạc, sông Chừng, nhiều khe suối lớn
nhỏ cung cấp nguồn nước phục vô cho sản xuất và đời sống dân cư.
2.5.4. Khí hậu
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa và là miền núi cao, khí hậu Hà
mây (lượng mây trung bình khoảng 7,5/10, cuối mựa đông lên tới 8 - 9/10)
và tương đối ít nắng (cả năm có 1.427 giờ nắng, tháng nhiều là 181 giờ,
tháng ít chỉ có 74 giờ).
Các hướng gió ở Hà Giang phụ thuộc vào địa hình thung lũng. Thung
lũng sông Lô quanh năm hầu như chỉ có một hướng gió đông nam với tần suất
vượt quá 50%. Nhìn chung gió yếu, tốc độ trung bình khoảng 1 - l,5m/s. Đây
còng là nơi có số ngày giông cao, tới 103 ngày/năm, có hiện tượng mưa phùn,
sương mù nhiều nhưng đặc biệt ít sương muối. Nét nổi bật của khí hậu Hà
Giang là độ ẩm trong năm cao, mưa nhiều và kéo dài, nhiệt độ mát và lạnh,
đều có ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống.
2.5.5. Tài nguyên rừng
Hà Giang có diện tích 7.914,8892 km
2
, trong đó diện tích rừng tự nhiên
là 553.138,3 ha chiếm gần 69,9% diện tích đất tự nhiên, với nhiều sản vật quý