MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ
Biểu đồ 2.1: CPI cả nước các tháng 2010 và 2011
Biểu đồ 2.2: CPI cả nước từ 12/2011-12/2012
Biểu đồ 2.3: CPI thành phố Hà Nội các tháng năm 2012
Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ người dân biết đến chính sách bình ổn giá theo mức thu nhập
Biểu đồ 2.5:Tỷ lệ người mua hàng bình ổn giá
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Biến động giá một số hàng tiêu dùng tại Hà Nội qua một số thời điểm
Bảng 2.2: Lượng tiền doanh nghiệp bình ổn giá tại Hà Nội nhận đoạn giai đoạn
2010-2012
Bảng 2.3: Nhu cầu hàng hóa của tổng số dân trên địa bàn Hà Nội
(tính cho 8 triệu dân) (Số liệu trung bình năm 2011)
Bảng2.4: Lượng hàng hóa tham gia bình ổn và khả năng đáp ứng tại Hà Nội
năm 2010
Bảng 2.5: Khả năng đáp ứng nhu cầu của hàng hóa bình ổn tại Hà Nội năm 2011
Bảng2.6: Khả năng đáp ứng nhu cầu của lượng hàng hóa bình ổn tại Hà Nội
năm 2012
Bảng 2.7: So sánh giá giữa điểm bình ổn và không bình ổn tại thời điểm 24/3/2013
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ năm 2008 đến nay, tình hình kinh tế thế giới đầy biến động đã gây ra
những ảnh hưởng không nhỏ đối với Việt Nam như: lạm phát, thất nghiệp, giảm
mức sống dân cư,…Nghị quyết Hội nghị T.Ư 3 (khóa XI) tháng 10-2011 đã xác
định giai đoạn 2011-2015, ưu tiên hàng đầu của kinh tế Việt Nam là kiềm chế lạm
phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội đi đôi với đổi mới mô hình tăng
trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế. Chính vì vậy, Chính phủ đã ban hành nhiều chính
sách nhằm ổn định nền kinh tế trong đó có Chính sách Bình ổn giá (chính sách giúp
người dân có thu nhập thấp đảm bảo nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng thiết yếu).
Giai đoạn 2010-2012, cùng với cả nước, Thành phố Hà Nội cũng đã quan tâm
và triển khai thực hiện chính sách bình ổn giá thông qua các chương trình bình ổn
Nội. Số liệu này được xử lí bằng phần mềm Excel 2007 phục vụ cho việc phân tích
và nghiên cứu của đề tài.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu chính sách bình ổn giá cho mặt hàng tiêu dùng
thiết yếu bao gồm: lương thực thực phẩm, đường, dầu ăn, văn phòng phẩm…
Phạm vi nghiên cứu là các chương trình bình ổn giá trên địa bàn thành phố Hà
Nội. Ngoài ra, đề tài còn thu thập thêm một số dẫn chứng về kết quả thực hiện
chương trình bình ổn giá ở một số tỉnh thành trong nước và của một số nước trên
thế giới làm cơ sở so sánh.
5. Đóng góp của đề tài
Bàn về chính sách bình ổn giá, hiện có rất ít đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này.
Phần lớn vẫn là những đánh giá, nhận định mang tính chủ quan, chưa được kiểm
chứng cụ thể.
Bài nghiên cứu thực hiện so sánh, phân tích số liệu về chính sách bình ổn giá theo
báo cáo của cơ quan chức năng với thực tế bình ổn trên thị trường. Đối chiếu giữa mục
tiêu mà chính sách hướng tới với kết quả nó đạt được. Phân tích tác động của chính sách
tới từng đối tượng trong nền kinh tế nói riêng và tới nền kinh tế nói chung.
2
Với việc đưa ra nhưng bất cập và khó khăn trong thực hiện chính sách bình ổn
giá hàng tiêu dùng, bài nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp mang tính khả thi
cao, đảm bảo hiệu quả của chính sách: đúng mục tiêu, đúng đối tượng, tiết kiệm,
hợp lý và toàn diện.
6. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài nghiên cứu khoa học được chia
thành 3 chương với bố cục như sau:
Chương 1: Cơ sở pháp lý của chính sách bình ổn giá
Chương 2 :Thực tế thực hiện chương trình bình ổn giá giai đoạn 2010-2012 tại
Hà Nội
Chương 3: Giải pháp cho chính sách bình ổn giá tại Hà Nội giai đoạn tiếp
theo.
•Định giá: Là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức, cá nhân sản
xuất, kinh doanh quy định giá cho hàng hóa, dịch vụ.
1.2. Sự cần thiết của chính sách bình ổn giá tại Hà Nội
1.2.1. Nhóm hàng, mặt hàng tiêu dùng thiết yếu cần bình
ổn giá của Thành phố
Ngoài những hàng hóa, dịch vụ trong danh mục bình ổn giá trên phạm vi cả
nước được quy định tại Thông tư số 122/2010/TT-BTC ngày 12/8/2010 của Bộ Tài
chính sửa đổi bổ sung Thông tư số 104/2008/TT-BTC ngày 13/11/2008 của Bộ Tài
chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 170/2003/NĐ-CP ngày 25/12/2003 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh giá và Nghị định số
75/2008/NĐ-CP ngày 9 tháng 6 năm 2008 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định số 170/2003/NĐ-CP ngày 25/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành một số điều của Pháp lệnh giá; Thành phố xác định các nhóm, mặt hàng cần
bình ổn thị trường có những tính chất sau đây:
- Có tính chất thiết yếu và nhu cầu sử dụng lớn đối với đời sống sinh hoạt
hàng ngày của người dân thành phố.
- Có tính nhạy cảm về cung cầu, giá cả, nhưng thành phố khó chủ động về số
lượng và nguồn hàng cung ứng một cách ổn định.
- Các mặt hàng lương thực thực phẩm cân đối cung - cầu tại chỗ trên địa bàn
Thành phố còn thiếu phải khai thác thu mua ở thị trường ngoài Thành phố.
Theo đó, nhóm mặt hàng cần tập trung bình ổn thị trường trong giai đoạn
2010-2012, bao gồm:
1) Gạo tẻ
2) Thịt lợn
3) Thịt gà, vịt
4) Trứng gà, vịt
5) Thực phẩm chế biến từ thịt gia súc, gia cầm, cá
6) Thủy hải sản tươi, đông lạnh
7) Dầu ăn
8) Đường RE
an sinh xã hội trên địa bàn Thành phố.
1.4. Các hình thức và công cụ thực hiện chính sách bình ổn giá
6
Căn cứ Pháp lệnh giá số: 40/2002/PL-UBTVQH10, Luật giá số
11/2012/QH13 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013, Nghị định 170/2003/NĐ-
CP của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Giá, có các
hình thức và công cụ bình ổn giá sau:
o Điều hòa cung cầu hàng hoá sản xuất trong nước và hàng hoá xuất khẩu,
nhập khẩu; hàng hoá giữa các vùng, các địa phương trong nước thông qua việc tổ
chức lưu thông hàng hóa; mua vào hoặc bán ra hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ
lưu thông;
o Các biện pháp về tài chính, tiền tệ phù hợp với quy định của pháp luật;
o Trong trường hợp cần thiết, lập quỹ bình ổn giá đối với mặt hàng cần bình
ổn giá thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá nhằm mục tiêu hỗ
trợ cho bình ổn giá; sử dụng quỹ bình ổn giá khi giá của hàng hóa, dịch vụ đó biến
động bất thường hoặc tác động xấu đến nền kinh tế và đời sống. Quỹ bình ổn giá
được lập từ các nguồn sau:
•Trích từ giá hàng hóa, dịch vụ;
• Tự nguyện đóng góp của tổ chức, cá nhân;
• Viện trợ của nước ngoài;
•Các nguồn tài chính hợp pháp khác, Chính phủ quy định chi tiết về mặt hàng
được lập quỹ bình ổn giá, việc lập, quản lý và sử dụng quỹ bình ổn giá;
o Đăng ký giá đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc diện bình ổn giá. Các tổ chức,
cá nhân sản xuất, kinh doanh chỉ thực hiện đăng ký giá đối với hàng hóa, dịch vụ
thuộc diện bình ổn giá trong thời gian Nhà nước áp dụng biện pháp bình ổn giá.
o Kiểm tra yếu tố hình thành giá; kiểm soát hàng hoá tồn kho; kiểm tra số
lượng, khối lượng hàng hóa hiện có;
o Áp dụng biện pháp hỗ trợ về giá phù hợp với quy định của pháp luật và
cam kết quốc tế;
o Định giá cụ thể, giá tối đa, giá tối thiểu hoặc khung giá phù hợp với tính
•Kiểm soát hàng hoá tồn kho;
•Các biện pháp tài chính, tiền tệ.
o Bộ trưởng Bộ TC quyết định và công bố áp dụng các biện pháp bình ổn giá
đối với hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục thực hiện bình ổn giá trên phạm vi cả
nước và khu vực, bao gồm:
• Quy định giá tối đa, giá tối thiểu, khung giá;
• Kiểm soát các yếu tố hình thành giá;
• Đăng ký giá, kê khai giá;
• Công khai thông tin về giá.
8
o Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức thực hiện các
biện pháp bình ổn giá do Thủ tướng Chính phủ và các Bộ quyết định; đồng thời, căn
cứ tình hình thực tế tại địa phương quy định bổ sung các biện pháp thực hiện bình
ổn giá tại địa phương.Các biện pháp đó là:
•Các biện pháp theo thẩm quyền để điều hòa cung cầu hàng hóa, dịch vụ;
•Các biện pháp tài chính, tiền tệ;
•Đăng ký giá, kê khai giá;
• Công khai thông tin về giá;
• Các biện pháp kinh tế, hành chính khác theo thẩm quyền
o Trường hợp hàng hoá, dịch vụ cụ thể mà Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài
chính đã quyết định và công bố áp dụng các biện pháp bình ổn giá thì ủy ban nhân
dân cấp tỉnh thực hiện các biện pháp đó.
1.7. Kinh nghiệm bình ổn giá một số nước trên thế giới
Nhiều nước phát triển cũng như đang phát triển vẫn thực hiện công tác điều
tiết giá cả theo các mức độ nhất định và bằng những biện pháp thích hợp thông
qua các biện pháp kinh tế vĩ mô (tài chính, tiền tệ, đầu tư, xuất nhập khẩu…) cũng
như chính sách pháp luật về giá. Malaysia ban hành Đạo luật kiểm soát giá cả vào
năm 1946, lần sửa đổi gần đây nhất là năm 2006; Hàn Quốc với Luật Bình ổn giá
(số 2798) cuối năm 1975; Australia ban hành Đạo luật kiểm soát giá cả năm
1983…Các biện pháp quản lý giá thường được áp dụng tại các nước này bao gồm:
tuân thủ sẽ bị phạt.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ CÁC CHƯƠNG TRÌNH
BÌNH ỔN GIÁ GIAI ĐOẠN 2010-2012 TẠI HÀ NỘI
2.1. Xu hướng biến động giá cả hàng tiêu dùng giai đoạn 2010 -2012
2.1.1. Biến động giá tiêu dùng trong nước
Giai đoạn 2010-2012 nhóm hàng tiêu dùng trên thị trường Việt Nam có sự
biến động giá cả tương đối mạnh. Điều này được thể hiện qua sự biến động của chỉ
số giá tiêu dùng qua các tháng trong năm cũng như giữa các tháng cùng kỳ năm
trước. Dưới đây là đồ thị tổng hợp biến động giá hàng tiêu dùng qua các tháng của
năm 2010, năm2011 và 2012.
10
Biểu đồ 2.1: CPI cả nước các tháng 2010 và 2011
(Nguồn :Tổng cục Thống kê)
Biểu đồ 2.2: CPI cả nước từ 12/2011-12/2012
( Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Năm 2010 và 2011, CPI các tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước và có sự
11
dao động lớn vào thời điểm đầu và cuối năm. Đa phần các mặt hàng đều tăng giá,
trong đó nhóm lương thực thực phẩm luôn nằm trong nhóm tăng cao nhất. Theo số
liệu từ Tổng cục Thống kê, CPI tháng 12/2010 tăng ở 10/11 nhóm hàng trong rổ
hàng hóa đưa vào tính chỉ số giá tiêu dùng, với mức tăng từ 0,07 - 3,31%. Trong
đó, mức tăng giá mạnh nhất trong tháng là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống; trong
đó, lương thực tăng 4,67%, thực phẩm tăng 3,28%, ăn uống ngoài gia đình tăng
1,86%. Chỉ số giá tiêu dùng năm 2010 tăng đột biến là do các nguyên nhân chủ yếu
như: dịch bệnh trên gia súc và gia cầm trên cả nước chưa được khống chế, tốc độ tái
đàn sau dịch bệnh còn chậm, thiên tai nặng nề, mặt bằng giá lương thực thế giới
tăng cao…
Tương tự, sang năm 2011, tháng 12/2011 chỉ duy nhất có một nhóm hàng hóa,
dịch vụ giảm giá là nhóm bưu chính viễn thông, giảm 0,09%. Còn lại 10 trong số 11
tính cả năm 2011, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống là nhóm hàng có chỉ số giá
tăng cao nhất, tới 31,32% so năm trước. Trong đó, nhóm hàng thực phẩm tăng
mạnh kéo dài suốt tám tháng qua, chỉ đến tháng 9 mới có xu hướng giảm.
Bình quân 12 tháng năm 2012, CPI tại Hà Nội tăng 8,57% so với năm 2011.
Năm 2012, chỉ số giá nhóm giáo dục tăng mạnh nhất với 12,5%, kế đến là nhóm
may mặc, mũ nón, dày dép tăng 10,67%. Có quyền số cao nhất, nhóm hàng ăn và
dịch vụ ăn uống tăng 9,33%. Ngược lại, nhóm bưu chính viễn thông là nhóm duy
nhất giảm 0,62%
Biểu đồ 2.3: CPI thành phố Hà Nội các tháng năm 2012
13
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Để có thể nhìn rõ nét hơn sự biến động giá so với các tháng cùng kỳ năm
trước, dưới đây là sẽ bảng giá thị trường của một số mặt hàng:
Bảng 2.1 : Biến động giá một số hàng tiêu dùng tại Hà Nội
qua một số thời điểm
STT
Tên hàng
hóa
Đơn vị
Giá hàng hóa( đơn vị: đồng)
Tháng
3/2012
Tháng
5/2012
Tháng
7/2012
Tháng
9/2012
Tháng
11/2012
20.000
16.500-
20.000
16.500-
20.000
16.500-
20.000
3
Thịt lợn
thăn
1 kg
120.000
-
130.000
110.000
-
115.000
110.000
-
115.000
110.000
-
115.000
105.000
-
110.000
110.000
-
115.000
4
-85.000
6 Cá thu 1 kg
150.000
-
200.000
150.000
-
200.000
150.000
-
200.000
150.000
-
200.000
150.000
-
200.000
150.000
-
250.000
7 Rau bắp cải 1kg
8.000-
10.000
5.000-
8.000
4.000-
5.000
7.000-
8.000
8.000-
22.000-
25.000
21.000-
22.000
22.000-
23.000
21.000-
22.000
21.000-
22.000
21.000-
22.000
11
Vở Hồng
Hà 1001
(120tr)
Quyển 7.500 7.500 7.500 8.000 8.000 8.000
(Nguồn: Sở tài chính HN)
So sánh với CPI qua các tháng ở Hà Nội năm 2012, biến động giá một số mặt
hàng có những sai lệch.
So với tháng 3, mức CPI ở mức khá cao thì đến tháng 5 đã có dấu hiệu hạ
nhiệt, biểu hiện ở giá gạo tẻ thường giảm 1000-2000đ/kg, giá gạo thơm giảm từ
500-1000đ/kg, giá thịt lợn thăn giảm từ 10000-15000đ/kg, cà chua, bắp cải giảm từ
2000-3000đ/kg. Tuy nhiên giá thịt bò lại có xu hướng tăng, trung bình 20000-
30000đ/kg do từ tháng 4 xuất hiện dịch lợn tai xanh, người dân chuyển sang dùng
thịt bò làm giá thịt bò theo đó tăng giá.
15
Cuối tháng 7, CPI đạt mức thấp nhất -0,29%, tuy nhiên giá hàng hóa cũng
giảm không đáng kể, gạo và thịt vẫn giữ múc giá cũ, cà chua và bắp cải giảm từ
2000-3000đ/ kg. Mặt khác, đường và muối lại có xu hướng tăng giá, trung bình từ
Bắt đầu từ tháng 6/2010 và kết thúc vào tháng 3/2011.
Danh mục hàng bình ổn và cam kết về giá:
Nhóm mặt hàng cần tập trung bình ổn thị trường trong năm 2011, bao gồm 9
loại: Gạo tẻ; thịt lợn; thịt gà, vịt; trứng gà, vịt; thực phẩm chế biến từ thịt gia súc,
gia cầm, cá; thủy hải sản tươi, đông lạnh; dầu ăn; đường RE; rau củ tươi.Hàng hóa
bình ổn phải đảm bảo có giá bán thấp hơn giá thị trường tối thiểu 10% khi có biến
động bất thường về giá.
Quy mô vốn bình ổn và lãi suất ưu tiên:
Theo phương án được thông qua, Thành phố sẽ tạm ứng 400 tỷ đồng (tương
đương 11% tổng mức tiêu thụ hàng tháng của 9 mặt hàng thiết yếu) cho 14 doanh
nghiệp được lựa chọn để mua dự trữ, phục vụ bình ổn giá. Số vốn tạm ứng có lãi
suất 0% này cùng với lượng dự trữ chủ động của các doanh nghiệp, dự kiến, có thể
đáp ứng được trên 15% tổng mức tiêu thụ của thành phố. Ngoài ra, Liên Sở Công
Thương - Tài chính cũng thống nhất dành thêm 100 tỷ đồng nhằm dự trữ hàng phục
vụ cứu trợ khi có thiên tai, bão lụt, úng ngập…Như vậy tổng số vốn cung cấp cho
chương trình bình ổn năm 2010 của Hà Nội là khoảng 500 tỷ đồng.
Tiêu chí lựa chọn doanh nghiệp:
• Doanh nghiệp muốn tham gia bình ổn giá phải đáp ứng các điều kiện:
•Có quy mô kinh doanh lớn; hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả;
• Có phương án tổ chức kinh doanh đáp ứng mục tiêu, nhiệm vụ bình ổn thị
trường, đặc biệt là những giải pháp phát triển mạng lưới bán lẻ; ưu tiên lựa chọn
doanh nghiệp lớn đang hoạt động kinh doanh thương mại những mặt hàng cần bình
ổn giá trên địa bàn.
Giải pháp thực hiện:
• Đẩy mạnh khai thác, thu mua hàng hóa trong và ngoài thành phố
o Ưu tiên khai thác nguồn hàng của các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản
xuất trên địa bàn Thành phố. Chủ động phối hợp với các tỉnh trong việc khai thác
hàng hóa nhằm bù đắp lượng hàng thiếu của Hà Nội thông qua các đợt đưa doanh
17
nghiệp đi tìm hiểu khai thác, ký kết các hợp đồng thu mua hàng tại các tỉnh.
dự trữ hàng hóa và việc thực hiện cam kết bình ổn giá các mặt hàng thiết yếu của
18
các doanh nghiệp theo 2 đối tượng: Nơi phát nguồn hàng - kiểm tra số lượng, chủng
loại, chất lượng nguyên liệu, thành phẩm tại nơi sản xuất, kho dự trữ của các doanh
nghiệp và kênh phân phối hàng hóa - kiểm tra giá bán, chủng loại, chất lượng hàng
hóa tại các điểm bán lẻ thuộc danh sách đăng ký tham gia bình ổn giá các mặt hàng
thiết yếu của các doanh nghiệp.
• Đối với hoạt động chung của thị trường trên địa bàn Thành phố:
o Triển khai thực hiện một cách nhất quán, liên tục và kiên quyết Nghị định
số 107/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 09 năm 2008 của Chính phủ quy định xử phạt
hành chính và các hành vi đầu cơ, găm hàng, tăng giá quá mức, đưa tin thất thiệt,
buôn lậu và gian lận thương mại. Các lĩnh vực cần quan tâm trong công tác quản lý
thị trường như: chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng thực phẩm công
nghiệp chế biến, phòng ngừa dịch cúm gia cầm, lở mồm long móng, kinh doanh giết
mổ gia súc, gia cầm, vi phạm về chất lượng đo lường, sở hữu công nghiệp, ghi nhãn
hàng hóa và các vi phạm khác trong hoạt động thương mại.
o Chú trọng các biện pháp phòng ngừa, xử lý các trường hợp về đầu cơ hàng hóa
bởi đó là nguyên nhân chính của những cơn sốt giá đột biến. Tổ chức các đoàn kiểm tra,
không để các chủ thể sản xuất, kinh doanh lợi dụng tình hình biến động thị trường để
tăng giá bất hợp lý, trái pháp luật, làm tổn hại đến lợi ích của người tiêu dùng.
Xử lý vi phạm:
•Các doanh nghiệp tham gia bình ổn giá các mặt hàng thiết yếu nhưng không
thực hiện theo quy định của pháp luật về giá và nhóm mặt hàng bày bán tại các
điểm đăng ký bán hàng bình ổn giá ít hơn 2/3 tổng số nhóm mặt hàng đã đăng ký thì
áp dụng mức xử phạt vi phạm hành chính đối với từng trường hợp vi phạm cụ thể
theo quy định hiện hành.
•Trường hợp doanh nghiệp sử dụng vốn được tạm ứng không đúng mục đích,
không thực hiện đúng cam kết về cung ứng lượng hàng bình ổn: doanh nghiệp phải
hoàn trả toàn bộ phần vốn đã được giao bình ổn. Nếu doanh nghiệp không thực hiện
trả vốn vay đầy đủ và đúng hạn theo Quyết định của Ủy ban nhân dân Thành phố,
cầm; trứng gia cầm; thủy hải sản; thực phẩm chế biến; dầu ăn; đường; rau, củ), đảm
bảo các tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, phát triển mạng lưới phân
phối bán lẻ trên địa bàn Thành phố với giá bình ổn.
Năm 2010, thành phố đã tổ chức được 397 điểm bình ổn đạt 79,4% so với kế
hoạch (500 điểm bình ổn ).Tuy nhiên các điểm bình ổn vẫn tập trung chủ yếu ở các
quận nội thành như : Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Cầu
Giấy, Nhận định chung về chương trình bình ổn giá 2010 của Hà Nội được thể
20
hiện ở báo cáo của Bộ Tài chính: “Năm 2010, 23/23 tỉnh, thành phố (được thanh tra
và gửi báo cáo) đều triển khai, thực hiện công tác bình ổn giá trên địa bàn theo các
văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương. Tuy nhiên, việc triển khai, thực hiện
tại từng địa phương còn nhiều bất cập, chưa chặt chẽ, các địa phương chưa ban
hành quy chế, chưa tổng kết, đánh giá hiệu quả việc tạm ứng ngân sách thực hiện
bình ổn giá trên địa bàn.”
1
2.2.2. Chương trình bình ổn giá 2011
2.2.2.1. Kế hoạch thực hiện
Sau khi kết thúc chương trình bình ổn giá năm 2010, Thành phố Hà Nôi tiếp tục
thực hiện chương trình bình ổn giá 2011 theo các phương án bình ổn giá tại Quyết định
số 1907/QĐ-UBND ngày 26 tháng 4 năm 2011 về việc phê duyệt “Phương án bình ổn
giá các mặt hàng thiết yếu trên địa bàn Thành phố Hà Nội năm 2011”.
Thời gian ứng vốn:
Vốn tạm ứng chuẩn bị nguồn hàng và tổ chức bán ra các mặt hàng bình ổn giá
phục vụ nhu cầu bình ổn giá thị trường của thành phố từ tháng 5/2011 đến hết tháng
4/2012. Riêng mặt hàng giấy vở học sinh, thời gian bình ổn từ tháng 6/2011 đến hết
tháng 10/2011.
Danh mục hàng bình ổn và cam kết về giá:
Danh mục hàng bình ổn có 10 mặt hàng bao gồm 9 mặt hàng của năm 2010 và
mặt hàng giấy vở học sinh được bổ sung thêm. Hàng hóa đảm bảo có giá bán thấp
hơn giá thị trường tối thiểu 10% khi có biến động bất thường về giá.
vở học sinh. Thời gian thực hiện từ tháng 6/2011 đến hết tháng 4/2012. Riêng Công
ty TNHH MTV sách - thiết bị và trường học được ứng vốn thời gian từ tháng 6 đến
hết tháng 10. Các doanh nghiệp được ứng vốn để bình ổn giá gồm: Tổng Công ty
Thương mại Hà Nội: 155 tỷ đồng; Công ty TNHH Nhà nước MTV đầu tư và phát
triển nông nghiệp Hà Nội: 25 tỷ đồng; Công ty cổ phần Nhất Nam (Fivimart): 30 tỷ
đồng; Công ty cổ phần Intimex Việt Nam: 15 tỷ đồng; Công ty TNHH Công nghệ
thực phẩm Vinh Anh: 20 tỷ đồng; Công ty TNHH MTV Lan Chi Bussiness: 25 tỷ
đồng; Công ty TNHH phát triển Thành Đồng II: 15 tỷ đồng; Công ty TNHH 2-9 Hà
Tây: 15 tỷ đồng; Công ty TNHH Minh Hiền: 5 tỷ đồng; Công ty TNHH MTV sách,
thiết bị và trường học: 9,5 tỷ đồng; Công ty cổ phần Sản xuất và Thương mại An
22
Việt 5 tỷ đồng.
Đợt 2, Thành phố tạm ứng 155,5 tỷ đồng cho các doanh nghiệp để dự trữ 9
nhóm mặt hàng thiết yếu, gồm gạo, thịt lợn, thịt gà, vịt, trứng gà, vịt; thực phẩm
chế biến từ thịt gia súc, gia cầm, thủy sản, dầu ăn, đường.Mức phân bổ vốn tạm ứng
cụ thể là Tổng công ty Lương thực miền Bắc 30 tỷ đồng, Tổng công ty Thương mại
Hà Nội 55,5 tỷ đồng, công ty CP Intimex 10 tỷ đồng…
Trong năm 2011, Hà Nội đã thiết lập được 665 điểm bán hàng bình ổn giá,
tăng gần gấp đôi so với năm 2010, trong đó 304 điểm bán hàng ở khu vực ngoại
thành, tăng gấp 4 lần so với năm 2010 và 68 điểm bán hàng tại các chợ truyền
thống. Chương trình bình ổn giá đã mở được 6 điểm bán hàng tại các khu công
nghiệp, đưa hàng bình ổn tới 50 bếp ăn tập thể của các trường học, các công ty trên
địa bàn để phục vụ khoảng 25.000 đối tượng thu nhập thấp. Thành phố đã triển khai
9 trung tâm thương mại bán hàng lưu động tại các huyện Gia Lâm, Sóc Sơn, Thanh
Trì, Ba Vì, Phúc Thọ, Chương Mỹ, Thạch Thất, Ứng Hòa. Các DN thực hiện 6
phiên chợ Tết tại huyện Từ Liêm, Quốc Oai, Hoài Đức, Thường Tín, Đông Anh,
Gia Lâm và 6 điểm bán hàng lưu động (tại Khu công nghiệp Bắc Thăng Long,
Quang Minh và một số quận, huyện); 28 chuyến hàng lưu động tại khu nhà cho
công nhân. Số doanh nghiệp tham gia bình ổn năm 2011 là 17 doanh nghiệp. Các
doanh nghiệp nổi bật trong công tác bình ổn thị trường trên địa bàn thành phố có thể
Sang năm 2012,công tác bình ổn giá hàng tiêu dùng trên địa bàn Hà Nội vẫn
được duy trì và được triển khai theo Quyết định 2629/QĐ-UBND của UBND thành
phố Hà Nội.
Thời gian ứng vốn:
Vốn tạm ứng chuẩn bị nguồn hàng và tổ chức bán ra các mặt hàng bình ổn giá
phục vụ nhu cầu bình ổn giá thị trường của thành phố từ tháng 5/2012 đến 4/2013.
Danh mục hàng bình ổn và cam kết về giá:
Danh mục hàng bình ổn năm 2012 bao gồm 10 nhóm hàng như năm 2011.Yêu
cầu cam kết về giá đối với hàng bình ổn là thấp hơn ít nhất 10% so với giá thị
trường tại thời điểm có biến động giá.
24