Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả tài trợ XNK tại Ngân hàng ĐT & PT chi nhánh Hà Nội - Pdf 28

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu và đa dạng hóa nền kinh tế, Việt Nam
đang vươn mình để có thể sánh vai cùng với các quốc gia trên toàn thế giới.
Ngày 7/11/2006 là mốc thời gian quan trọng đối với kinh tế Việt Nam, lễ ký kết
ra nhập WTO làm đã thỏa mãn được sự mong mỏi của các doanh nghiệp trong
việc hội nhập với nên kinh tế. Không chỉ trong lĩnh vực xây dựng, sản xuất mà
trong lĩnh vực tài chính cũng có những bước thay đổi đáng kể. Ngân hàng ĐT &
PT Việt Nam nói chung và Chi nhánh ĐT & PT Hà Nội nói riêng cũng đã có sự
chuyển mình nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu ấy.
Trải suốt 50 năm qua, cùng với các ngân hàng khác, Ngân hàng ĐT & PT
Hà Nội đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, lập được nhiều thành tích góp
phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng đất nước, trong đó có thủ đô Hà Nội.
Ngân hàng đã chủ động tăng cường hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực về vay
vốn, tài trợ XNK, ủy thác thanh toán, bảo lãnh, ngân hàng đại lý… Trong lĩnh
vực đại lý ngân hàng đã thiết lập quan hệ với 800 ngân hàng trên thế giới. Với
nhiều phòng ban chuyên sâu về các lĩnh vực khác nhau như: phòng tín dụng,
phòng nguồn vốn, phòng thanh toán quốc tế, phòng giao dịch…
Tuy nhiên, hiện nay lại đang tồn tại một thực tế là có rất nhiều doanh
nghiệp đang cần vốn cho hoạt động XNK nhưng không biết vay vốn ở đâu,
trong khi các tổ chức tín dụng bao gồm các tổ chức Tài chính và Ngân hàng lại
thừa vốn mà không biết cấp cho ai. Điều này khiến cho cả Ngân hàng và doanh
nghiệp bỏ qua rất nhiều cơ hội kinh doanh.
Đứng trước tình hình đó, sau một thời gian thực tập tại Chi nhánh Hà
Nội và cụ thể là tại phòng giao dịch số 10, dưới sự giúp đỡ của các cán bộ nhân
viên ngân hàng và qua các kiến thức thu được trong thu được trong quá trình
học tập tại trường Học viện Ngân hàng, tôi đã đi sâu vào nghiên cứu các nội
dung của hoạt động tín dụng XNK đối với các ngân hàng thương mại và đi đến
quyết định lựa chọn đề tài: "Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả tài
trợ XNK tại Ngân hàng ĐT & PT chi nhánh Hà Nội”.
* Mục đích nghiên cứu của đề tài.

2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
ĐT&XD : Đầu tư và Xây dựng
DVKH : Dịch vụ khách hàng
TCTD : Tổ chức tín dụng
NHNN : Ngân hàng nhà nước
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
HTX : Hợp tác xã
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TÀI TRỢ
XUẤT NHẬP KHẨU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu.
Trong xu hướng toàn cầu hoá, nền kinh tế của từng quốc gia luôn chịu
ảnh hưởng và tác động của nền kinh tế thế giới. Trong bối cảnh đó, không một
quốc gia nào muốn phát triển mà lại cho phép mình đứng ngoài “cuộc chơi”
chung. Thông qua hoạt động kinh tế quốc tế, tiềm năng và thế mạnh của nền
kinh tế được phát huy, đồng thời tận dụng được vốn và công nghệ tiên tiến của
các nước phát triển.
Mặt khác, nhu cầu của nên kinh tế là rất đa dạng và không ngừng tăng lên
cả về số lượng lẫn chất lượng, mà khả năng của nền sản xuất trong nước thì
SV: Lê Quang Tuân (TTQTC – K7)
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
không thể đáp ứng đầy đủ hàng hoá và dịch cho nhu cầu sản xuất tiêu dùng của
nền kinh tế. Bên cạnh đó, khả năng về tài chính và uy tín trên thị trường quốc tế
lại là một rào cản rất lớn trong hoạt động của một số DN. Đây chính là nguyên
nhân làm nảy sinh quan hệ tín dụng và bảo lãnh của các ngân hàng thương mại
với các DN kinh doanh XNK. Nhờ các loại hình tài trợ XNK của ngân hàng mà
nhu cầu về tài chính hoặc uy tín của thương nhân trong giao dịch thương mại
quốc tế được đáp ứng, mà những nhu cầu này chính là một nét đặc trưng của
giao dịch quốc tế hiện đại. Vì vậy, có thể nói sự ra đời của tín dụng tài trợ XNK

cao của các doanh nghiệp. Nhờ đó, nghiệp vụ tín dụng tài trợ XNK của ngân
hàng cũng phát triển dưới nhiều hình thức, góp phần phục vụ tích cực và có hiệu
quả cho hoạt động XNK.
Tóm lại: Tín dụng tài trợ XNK là một dịch vụ của ngân hàng thương mại
hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho các nhà kinh doanh XNK trong hoạt động ngoại
thương, nhằm tạo điều kiện cho họ thực hiện thành công giao dịch thương mại
quốc tế và gia tăng hiệu quả kinh tế của thương vụ, từ đó thúc đẩy quan hệ buôn
bán và mối quan hệ kinh tế giữa các nước trên thê giới phát triển.
1.2. Vai trò của hoạt động tín dụng tài trợ XNK.
Tín dụng tài trợ XNK là một mảng dịch vụ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng
không những đối với các doanh nghiệp mà còn đối với cả Ngân hàng và nền
kinh tế. Nhờ hoạt động tài trợ XNK của ngân hàng mà tất cả các bên tham gia
vào thương mại quốc tế đều được hưởng lợi từ chính hoạt động này.
1.2.1. Đối với nền kinh tế.
Thông qua các hình thức tín dụng tài trợ XNK của các ngân hàng thương
mại, hoạt động mua bán hàng hoá XNK theo yêu cầu của thị trường được thực
hiện thường xuyên, liên tục, các sản phẩm trong nước có thể thâm nhập thị
trường quốc tế dễ dàng hơn. Hoạt động tài trợ XNK góp phần nâng cao tính
năng động của nền kinh tế và giúp ổn định thị trường.
Bên cạnh đó, hoạt động tài trợ XNK của ngân hàng còn giúp các doanh
nghiệp nói chung và các doanh nghiệp XNK nói riêng tồn tại và đứng vững
trong cơ chế thị trường, mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao uy tín và danh
tiếng trên thị trường quốc tế. Và chính sự phát triển của các doanh nghiệp là
động cơ thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Thông qua tín dụng tài trợ XNK của
ngân hàng mà các doanh nghiệp có vốn để thay đổi dây chuyền công nghệ, hiện
đại hoá máy móc thiết bị nhằm tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm,
tạo ra sản phẩm phong phú đa dạng về mẫu mã chủng loại để đáp ứng nhu cầu
SV: Lê Quang Tuân (TTQTC – K7)
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

những giúp thắt chặt mối quan hệ bền vững giữa ngân hàng với các doanh
SV: Lê Quang Tuân (TTQTC – K7)
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nghiệp kinh doanh XNK mà còn giúp mở rộng hoạt động và nâng cao uy tín của
ngân hàng trên thị trường quốc tế.
Ngoài ra, thông qua hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu ngân hàng
thương mại còn mở rộng được các quan hệ với các doanh nghiệp và ngân hàng
nước ngoài, nâng cao uy tín ngân hàng trên thị trường quốc tế, đây cũng là một
hiệu quả cho ngân hàng từ hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu.
Hoạt động tín dụng tài trợ XNK phát triển tạo điều kiện để phát triển các
dịch vụ khác như dịch vụ mở tài khoản, dịch vụ thanh toán quốc tế…
1.2.3. Đối với các doanh nghiệp.
Thông qua hoạt động tín dụng tài trợ XNK của ngân hàng mà nhu cầu tài
chính cho các thương vụ lớn của các thương nhân được đáp ứng. Trong kinh
doanh quốc tế, có những thương vụ ngoại thương đòi hỏi 1 nguồn vốn rất lớn để
thanh toán tiền hàng mà nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp nhiều khi không
đáp ứng kịp thời cho nhu ccầu thanh toán hàng nhập hoặc chuẩn bị hàng xuất.
Chính nhờ hoạt động tài trợ của ngân hàng mà doanh nghiệp có thể thực hiện
được những hợp đồng lớn này.
Bên cạnh đó, hiệu quả của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện hợp
đồng tăng lên nhờ có nghiệp vụ tài trợ ngoại thương. Đối với doanh nghiệp xuất
khẩu, vốn tài trợ giúp doanh nghiệp thu mua hàng đúng thời vụ, gia công chế
biến và giao hàng đúng thời điểm. Đối với doanh nghệp nhập khẩu, vốn tài trợ
của ngân hàng giúp doanh nghiệp mua được những lô hàng lớn, giá cả hạ hơn.
Cả 2 trường hợp này đều giúp tăng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Tín dụng tài trợ XNK cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp
tiểu thủ công nghiệp phát triển sản xuất, tăng nhanh sản lượng, đa dạng hoá mặt
hàng xuất khẩu, giúp cho cấc sản phẩm trong nước có thể thâm nhập thị trường
nước ngoài dễ dàng hơn.

+ Đối với L/C trả chậm, dư nợ bảo lãnh phải nằm trong hạn mức cho vay
vốn nước ngoài được ngân hàng nhà nước phê duyệt.
- Thẩm định hồ sơ mở L/C:
Sau khi kiểm tra hồ sơ mở L/C sẽ chuyển qua phòng tín dụng thẩm định:
Đánh giá tình hình tài chính, tư cách pháp nhân, mặt hàng nhập khẩu trên thị
trường, thẩm định tài sản thế chấp.
- Quyết định mức ký quỹ mở L/C:
SV: Lê Quang Tuân (TTQTC – K7)
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trên cơ sở thẩm định, ngân hàng quyết định mức ký quỹ L/C. Ký quỹ
L/C được xem là một hình thức bắt buộc tại ngân hàng thương mại. Ký quỹ
nhằm đảm bảo khách hàng nhận hàng và thanh toán L/C. Thông thường mức ký
quỹ cao hay thấp phụ thuộc vào các yếu tố sau:
+ Khả năng thanh toán của khách hàng, khả năng thanh toán của khách
hàng càng cao mức ký quỹ càng thấp và ngược lại.
+Đối tượng khách hàng: Khách hàng có uy tín với ngân hàng mức ký quỹ
thấp và ngược lại.
+ Loại L/C: L/C trả chậm thì mức ký quỹ thì mức ký quỹ thường thấp
hơn L/C trả ngay, vì mục đích của L/C trả chậm là để vay vốn nước ngoài, thời
gian khá dài, mức ký quỹ cao sẽ làm ứ đọng vốn của khách hàng.
+ Loại hàng hóa nhập, khả năng tiêu thụ hàng và tình hình biến động giá
cả hàng hoá trên thị trường, những mặt hàng dễ tiêu thụ, thị trường ổn định và
giá cả ít biến động thì mức ký quỹ có thể thấp
Trên cơ sở kết hợp các yếu tố trên các định mức ký quỹ L/C, ngân hàng
quyết định mức ký quỹ cụ thể. Ký quỹ được thực hiện bằng cách trích tài khoản
ngoại tệ của khách hàng để chuyển vào tài khoản ký quỹ thanh toán L/C, theo
quy định hiện nay thì số tiền ký quỹ được hưởng lãi bằng với lãi tiền gửi thanh
toán. Nếu không đủ số dư trên tài khoản ngoại tệ hoặc đối với các đơn vị nhập
uỷ thác có thể kèm đơn xin mua ngoại tệ nộp tiền đồng để mua ngoại tệ ký quỹ

Hiện nay có nhiều hình thức bảo lãnh: Bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh dự thầu,
bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đặt cọc… nhưng thực tế bảo lãnh thực hiện
hợp đồng, ở nước ta chưa quen sử dụng các dịch vụ ngân hàng để bảo vệ quyền lợi
của mình. Bảo lãnh vay vốn là hình thức chủ yếu tại các ngân hàng và tái bảo lãnh
cũng ít thực hiện. Bảo lãnh ở nước ta chủ yếu để tài trợ cho nhà nhập khẩu vay
vốn, được thực hiện dưói hình thức sau:
+ Phát hành thư bảo lãnh
+ Mở L/C trả ngay và L/C trả chậm
+ Ký bảo lãnh trên hối phiếu ( Bill of Exchange ) nhận nợ nước ngoài.
+ Ký bảo lãnh trên lệnh phiếu (Promissory Note) nhận nợ nước ngoài.
+ Ký xác nhận bảo lãnh ngay trên giấy nhận nợ do khách hàng (vay nợ) lập
nhận nợ nước ngoài.
Đối với nghiệp vụ tái bảo lãnh hình thức duy nhất thực hiện là phát hành thư
SV: Lê Quang Tuân (TTQTC – K7)
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
bảo lãnh
1.3.2. Tín dụng tài trợ xuất khẩu.
Là khoản tín dụng mà ngân hàng cho các doanh nghiệp vay để phục vụ
cho hoạt động xuất khẩu, quá trình này bao gồm từ khâu doanh nghiệp dùng khoản
vay này để tiến hành mua nguyên vật liệu, máy móc trang thiết bị, cơ sở vật chất
kỹ thuật cho hoạt động sản xuất để phục vụ cho việc xuất khẩu cho đến khi
doanh nghiệp nhận được tiền thanh toán. Tín dụng tài trợ xuất khẩu có một số
hình thức sau:
a. Tài trợ vốn lưu động để thu mua, chế biến sản xuất hàng xuất khẩu theo
đúng L/C quy định, trên cơ sở hợp đồng ngoại thương đã ký kết, hoặc đơn đặt
hàng.
Hình thức này được tiến hành trước khi giao hàng, thường được áp dụng
trong trường hợp Ngân hàng tài trợ là ngân hàng thanh toán cho L/C xuất, nhà
xuất khẩu trình bộ chứng từ và được thanh toán tại Ngân hàng. Để giám sát và

đến khi được ghi có trên tài khoản phải trải qua một thời gian nhất định để xử lý
và luân chuyển chứng từ. Nếu nhà xuất khẩu cần tiền để có thể thương lượng
với ngân hàng để chiết khấu bộ chứng từ, hoặc ứng trước tiền hàng tại ngân
hàng đã được chỉ định rõ trong L/C, hoặc ở bất kỳ ngân hàng nào, hình thức tài
trợ này được tiến hành sau khi giao hàng. Để đảm bảo việc thu hồi nợ được dễ
dàng, nhanh chóng, ngân hàng thương mại thường yêu cầu các L/C hàng xuất
của khách hàng phải được thông báo qua ngân hàng, ngân hàng tài trợ vừa là
ngân hàng thông báo, hoặc vừa là ngân hàng thanh toán L/C. Tài trợ vốn trong
thanh toán thường được thể hiện dưới các hình thức sau:
* Chiết khấu chứng từ hàng xuất khẩu
Để đáp ứng nhu cầu vốn, nhà xuất khẩu sau khi giao hàng xong có thể
thương lượng với ngân hàng, thực hiện chiết khấu bộ chứng từ hoặc ứng trước
tiền khi bộ chứng từ được thanh toán. Như vậy, đối với nhà xuất khẩu, L/C
không những là công cụ đảm bảo thanh toán mà là công cụ đảm bảo tín dụng.
Chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu là hình thức ngân hàng tài trợ nhà xuất
khẩu thông qua việc mua lại hoặc cho vay trên cơ sở giá trị bộ chứng từ xuất
khẩu hoàn hảo được người xuất khấu xuất trình. Trong đó ngân hàng mở L/C
phải có uy tín trên thị trường quốc tế và có quan hệ giao dịch thường xuyên với
ngân hàng chiết khấu. Khách hàng vay vốn phải có tình hình sản xuất kinh
doanh và tình hình tài chính ổn định, có khả năng thanh toán, có uy tín với ngân
hàng.
SV: Lê Quang Tuân (TTQTC – K7)
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sau khi tiếp nhận hồ sơ từ phía khách hàng, ngân hàng thẩm định về mục
đích vay, tình hình tài chính, khả năng thanh toán… kiểm tra tính hợp lệ và sự
phù hợp trên bề mặt chứng từ so với các điều khoản đã ghi trong L/C để có căn
cứ chính xác trước khi quyết định cho vay. Số tiền chiết khấu tuỳ thuộc mỗi
ngân hàng, nhưng thường không quá 90% giá trị hối phiếu.
Có 2 hình thức chiết khấu: chiết khấu miễn truy đòi và chiết khấu được

tiền gửi của khách hàng. Nếu trên tài khoản của khách hàng không đủ tiền trong
vòng 7 ngày làm việc Ngân hàng sẽ chuyển số tiền chiết khấu, hoặc ứng trước
sang nợ quá hạn. Khi được thanh toán từ phía Ngân hàng nước ngoài, sẽ khấu
trừ trực tiếp khoản tiền vay cùng các chi phí khác có liên quan.
1.4. Các nhân tố tác động đến hoạt động tín dụng tài trợ XNK.
Cũng như các hoạt động kinh doanh khác, hoạt động tín dụng tài trợ
XNK của ngân hàng thương mại chịu sự tác động của nhiều yếu tố, những yếu
tố này có thể mang đến những kết quả tích cực nhưng cũng có thể gây ra những
kết quả tiêu cực cho cả hai bên là bên tài trợ và bên nhận tài trợ. Nếu là kết quả
tích cực nó có thể thúc đẩy sự phát triển và làm tăng tính hiệu quả của khoản tín
dụng, còn nếu kết quả là không tích cực nó sẽ kìm hãm sự phát triển của hoạt
động tín dụng. Các yếu tố tác động đến hoạt động này có thể chia làm 2 nhóm:
Là các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài
1.4.1. Các nhân tố bên trong.
Là các nhân tố thuộc thuộc về các bên có liên quan trực tiếp đến khoản
tín dụng. Cụ thể ở đây là doanh nghiệp và ngân hàng.
a. Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp.
- Khả năng tài chính của doanh nghiệp được thể hiện thông qua các chỉ
tiêu như : quy mô vốn chủ sở hữu, hệ số vốn tự có, hệ số nợ, khả năng sinh
lợi… Đây là cơ sở ban đầu để ngân hàng quyết định có cấp tín dụng cho ngân
hàng hay không và hạn mức của khoản tín dụng là bao nhiêu.
- Uy tín hay vị trí của doanh nghiệp trên thị trường: Đây chính là một
trong những yếu tố tiên quyết để ngân hàng có xem xét có thực hiện khoản tín
dụng này hay không.
- Chiến lược, chính sách kinh doanh của doanh nghiệp: Thông thường để
nhận được các khoản cho vay từ phía ngân hàng, doanh nghiệp ngoài việc cung
cấp các giấy tờ chứng minh về tình hình tài chính, về tài sản thế chấp, họ còn
phải nộp cho ngân hàng các bản đề án kinh doanh với mục đích làm tăng tính
SV: Lê Quang Tuân (TTQTC – K7)
14

những yếu tố hết sức quan trọng quyết định cho sự thành công của một khoản
tín dụng. Cơ sở vật chất tốt sẽ góp phần đẩy nhanh các bước của quá trình cấp
SV: Lê Quang Tuân (TTQTC – K7)
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tín dụng, tiết kiệm thời gian và chi phí cho cả ngân hàng và khách hàng.
1.4.2. Các nhân tố bên ngoài.
Các nhân tố này mặc dù không tác động trực tiếp tới hoạt động tài trợ tín
dụng xuất nhập khẩu, những tác động của nó cũng gây ra những ảnh hưởng
không nhỏ tới hoạt động này. Các nhân tố bên ngoài được đề cập đến ở đây bao
gồm: Chính sách về xuất nhập khẩu của nhà nước, môi trường kinh tế, chính trị,
xã hội trong và ngoài nước.
Thứ nhất là chính sách về xuất nhập khẩu của nhà nước: Ngày nay hoạt
động ngoại thương đóng một vai trò rất to lớn trong nền kinh tế của mỗi quốc
gia. Nó giúp các quốc gia vươn mình ra thế giới nhưng bên cạnh đó cũng tiềm
ẩn những rủi ro khá cao. Chính vì vậy, mỗi quốc gia thường đưa ra những chính
sách ngoại thương phù hợp với những điều kiện của quốc gia mình. Nếu như
chính phủ của một quốc gia có những chính sách đối ngoại mở rộng, thì nó sẽ
kích thích hoạt động xuất nhập khẩu và tất yếu nhu cầu về hoạt động tài trợ tín
dụng xuất nhập khẩu sẽ rất cao.
Thứ hai, là môi trường kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nước:
Về môi trường kinh tế, điều kiện kinh tế của khu vực mà ngân hàng kinh
doanh, ảnh hưởng tới quy mô và hiệu quả của hoạt động tín dụng nói chung và
tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu nói riêng. Một nền kinh tế ổn định, tăng trưởng
cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế quôc tế phát triển, từ đó làm
cho hoạt động tín dụng được mở rộng và đạt hiẹu quả cao.
Về môi trường chính trị, pháp luật: Nếu một quốc gia có nền chính trị ổn
định, bền vững thì chắc chắn nó sẽ tạo ra một môi trường thuận lợi cho mọi hoạt
động của nền kinh tế phát triển, trong đó có hoạt động xuất nhập khẩu. Cũng chính
từ đó sẽ làm phát sinh nhu cầu về tài trợ xuất nhập khẩu.

51 năm trước, Ngân hàng Kiến thiết Hà Nội (tiền thân của Ngân hàng ĐT &
PT Thành phố Hà Nội ngày nay) nằm trong hệ thống Ngân hàng kiến thiết Việt
Nam được thành lập. Nhiệm vụ của ngân hàng chủ yếu là nhận vốn từ Ngân hàng
Nhà nước để tiến hành cấp phát cho vay trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản.
Năm 1982, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư
và Xây dựng Việt Nam tách khỏi Bộ Tài Chính, trực thuộc Ngân hàng Nhà Nước
Việt Nam. Do đó, Chi nhánh Kiến thiết Hà Nội đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và
Xây dựng Hà Nội thuộc hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam.
SV: Lê Quang Tuân (TTQTC – K7)
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tháng 5/1990, Hội đồng Nhà nước ban hành 2 Pháp lệnh về Ngân hàng
nhằm mục đích hoàn thiện hệ thống Ngân hàng cho phù hợp với cơ chế thị
trường, theo đó hệ thống Ngân hàng bao gồm: Ngân hàng trung ương là Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam và các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng ĐT & PT,
Công ty tài chính, HTX tín dụng. Ngày 26/11/1990, Ngân hàng ĐT & XD Việt
Nam đổi tên thành Ngân hàng ĐT & PT Việt Nam với vốn điều lệ 1100 tỷ đồng
và có các chi nhánh trực thuộc các tỉnh, Thành phố, đặc khu trực thuộc trung
ương. Theo đó, Ngân hàng ĐT & XD Hà Nội đổi tên thành Ngân hàng ĐT &
PT Hà Nội.
Từ ngày thành lập tới cho tới năm 1995, Ngân hàng ĐT & PT Hà Nội đã
trải qua 3 giai đoạn phát triển cơ bản như sau:
-Giai đoạn 1957-1960: Phục vụ công cuộc khôi phục kinh tế sau chiến
tranh chống Pháp và kế hoạch 5 năm lần thứ nhất.
-Giai đoạn từ năm 1965- 1975: Phục vụ chống chiến tranh phá hoại của
giặc Mỹ leo thang ra đánh phá miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam
thống nhất đất nước.
-Giai đoạn từ năm 1975- 1995: Phục vụ công cuộc phục hồi, phát triển
kinh tế trong cả nước.
Ngày 01/01/1995, bộ phận cấp phát vốn ngân sách tách khỏi ngân hàng

*Sơ đồ tổ chức.
SV: Lê Quang Tuân (TTQTC – K7)
19
GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
KINH DOANH
PHÓ GIÁM ĐỐC
KINH DOANH
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

2.1.3. Tình hình hoạt động chung của chi nhánh Ngân hàng ĐT & PT Hà
Nội:
Qua hơn 45 năm tồn tại và phát triển, chi nhánh ngân hàng ĐT&PT Hà
nội đã không ngừng lớn mạnh. Với những bước thăng trầm của nền kinh tế Việt
SV: Lê Quang Tuân (TTQTC – K7)
20
PHÓ GIÁM ĐỐC
KINH DOANH
P. ĐIỆN TOÁN P. TĐ & QLTD
P. TÍN
DỤNG 1
PHÓ GIÁM ĐỐC
KINH DOANH
P. TỔ CHỨC CÁN
BỘ
P. TÀI CHÍNH KẾ
TOÁN
P. TIỀN TỆ KHO
QUỸ
P. THANH TOÁN

DỊCH 11
P. GIAO
DỊCH
P. PHÓ GIÁM
ĐỐC KINH
DOANH
ĐIỂM GIAO
DỊCH
DIỂM GIAO
DỊCH 1
DIỂM GIAO
DỊCH 1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nam, ngân hàng đã phải trải qua không ít những thời kì khó khăn. Năm 1995,
việc chuyển toàn bộ nguồn vốn do ngân sách nhà nước cấp về Tổng cục đầu tư
và phát triển trực thuộc Bộ tài chính, theo thống kê khoảng 900 tỷ, đã ảnh
hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Cùng lúc đó, điều kiện
kinh tế xã hội có nhiều biến động. Tuy nhiên, với sự thay đổi phương thức hoạt
động cùng sự nỗ lực cố gắng của toàn thể cán bộ, ngân hàng đã vượt qua được
những khó khăn trước mắt. Thời điểm này có thể được coi là một mốc đánh dấu
sự chuyển mình không chỉ của chi nhánh mà còn của toàn hệ thống NHĐT&PT
Việt Nam. Với sự thay đổi phương thức hoạt động, từ việc hoạt động theo cơ
chế kế hoạch hóa tập trung sang kinh doanh đa năng tổng hợp, ngân hàng đã
thực sự trở thành một ngân hàng thương mại quốc doanh. Điều này khẳng định
qua tình hình lợi nhuận mà chi nhánh thu đựơc qua các năm, được thể hiện cụ
thể qua bảng lợi nhuận 3 năm gần nhất dưới đây:
Bảng 2.1 : Tổng lợi nhuận của chi nhánh
( Đơn vị: Tỷ VND)
kinh tế. Trong năm 2007, thị trường vốn trong nước rất sôi động. Trên địa bàn
Hà Nội các ngân hàng thương mại cạnh tranh nhau gay gắt bằng việc đưa ra các
mức lãi suất và các hình thức huy động vốn hết sức hấp dẫn. Hòa chung trong
không khí đó NH ĐT&PT Hà nội cũng nỗ lực không ngừng, ngân hàng đã sử
dụng rất nhiều các hình thức huy động vốn hấp dẫn như: Thực hiện chính sách
lãi suất linh hoạt, đa dạng hóa các hình thức huy động, thực hiện tốt công tác
khách hàng…do đó trong năm 2007 công tác huy động vốn tại ngân hàng đã đạt
được nhiều kết quả tích cực.
Bảng 2.2 : Tổng hợp huy động vốn

(Đơn vị:Triệu VND)

Các chỉ
31/12/2005 31/12/2006 31/12/2007
VNĐ Ngoại tệ
quy đổi
VNĐ Ngoại tệ
quy đổi
VNĐ Ngoại tệ
quy đổi
Tiền Gửi 2.628.466 268.372 3.756.038 139.941 4.787.26 315.571
SV: Lê Quang Tuân (TTQTC – K7)
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
TC 6
Tiền gửi
Tiết kiệm
752.316 531.729 954.058 592.222 1.067.21
7
702.898

từng đối tượng khách hàng trên địa bàn Hà Nội nói chung và các tỉnh, thành phố
khác nói riêng.
b. Hoạt động tín dụng.
Công tác tín dụng là một hoạt động nghiệp vụ chủ yếu tại BIDV chi
nhánh Hà Nội, bởi đây là hoạt động mang lại lợi nhuận lớn cho không chỉ BIDV
SV: Lê Quang Tuân (TTQTC – K7)
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chi nhánh Hà Nội nói riêng mà với tất cả các ngân hàng thương mại nói chung.
Với mục đích là cấp tín dụng cho các Tổng công ty, doanh nghiệp ngoài quốc
doanh, chi nhánh đã xây dựng nên các cơ chế, chính sách và sản phẩm phù hợp
để có thể hỗ trợ tốt cho khách hàng cũng như không ngừng tăng cường hỗ trợ
phát triển khách hàng. Với nỗ lực không ngừng của mình, năm 2007 chi nhánh
đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.
Bảng 2.3: Tổng hợp sử dụng nguồn vốn
( Đơn vị: Triệu VND)
( Nguồn: báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2005-2007)
Qua bảng tổng hợp trên ta thấy việc sử dụng vốn của ngân hàng là chủ
yếu cấp tín dụng cho các khoản vay ngắn hạn. Nguyên nhân là do các ngân
hàng luôn mong muốn giảm thiểu rủi ro trong các khoản vay và nhanh thu hồi
các khoản vay khó đòi. Do đó, hạn chế các khoản vay với thời hạn hoàn vốn và
lãi trong khoảng thời gian 3-7 năm là cách thức chi nhánh mong muốn áp dụng
với các khoản tín dụng lớn đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Năm 2005 là năm quan trọng với các hoạt động tín dụng của ngân hàng,
SV: Lê Quang Tuân (TTQTC – K7)
Các chỉ
tiêu
31/12/2005 31/12/2006 31/12/2007
VNĐ Ngoại tệ
quy đổi

- Theo số liệu cho đến ngày 31/12/2006 thì tổng số vốn cho vay là
3.823.014 triệu VNĐ và tăng 363.640 triệu VNĐ so với năm 2005 ( Tăng
10.51%). Trong đó, vay ngắn hạn đã tăng lên 466.411 triệu VNĐ và tăng 18,5%
so với năm 2005. Trong khi đó, các khoản vay trung và dài hạn chỉ khoảng
761.801 triệu VNĐ đã giảm so với năm trước khoảng 32.119 triệu VNĐ ( giảm
4,1%).
- Tính đến ngày 31/12/2007 thì tổng số vốn cho vay chỉ khoảng
3.790.552 triệu VND và giảm 32.462 triệu VNĐ so với năm 2006. Nguyên nhân
diễn ra tình trạng trên là do lãi suất gửi tiết kiệm tăng nhằm mục đích tăng
lượng vốn cho các hoạt động tài chính khác, tuy nhiên dẫn đến lãi suất cho vay
cũng tăng lên làm hạn chế bớt các khoản vay. Các khoản vay dài hạn có dấu
hiệu tăng nhưng vẫn chưa đáng kể đối với nhu cầu vay trong thời gian ngắn hạn
Nhìn chung, Chi nhánh Hà Nội không chỉ phục vụ tài chính cho các
khách hàng doanh nghiệp, các Tổng công ty mà chi nhánh con mở rộng phạm vi
phục vụ của mình ra mảng khách hàng cá nhân. Các khoản vay không chỉ dừng
lại ở các hoạt động trong nước mà còn cả các hoạt động kinh doanh với các
doanh nghiệp nước ngoài. Trong các năm gần đây, các hoạt động tài trợ ngày
càng phổ biến và hoạt động vay ngoại tệ kinh doanh được đẩy mạnh.
c. Hoạt động dịch vụ
Nhằm hướng tới đem đến cho khách hàng của mình sự phục vụ hoàn hảo
và chuyên nghiệp, chi nhánh luôn chú trọng đến việc phát triển các loại hình
dịch vụ và triển khai các dịch vụ mới thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng
như: Thu đổi các loại ngoại tệ, thu mua séc du lịch, chi trả kiều hối, thanh toán
không dùng tiền mặt…
Bảng 2.4: Thu dịch vụ của chi nhánh
SV: Lê Quang Tuân (TTQTC – K7)
25

Trích đoạn Đối với Ngân hàng ĐT & PT Việt Nam Đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status