Đánh giá các yếu tố tác động đến sự phát triển liên minh Châu Âu từ đầu thế kỷ 21 đến nay - Pdf 25

i

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BÙI THẾ ĐỨC ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ
PHÁT TRIỂN LIÊN MINH CHÂU ÂU TỪ ĐẦU
THẾ KỶ 21 ĐẾN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quan Hệ Quốc Tế Hà Nội-2013
ii

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TỪ ĐẦU THẾ KỶ 21 ĐẾN NAY 9
1.1. Liên minh Châu Âu – mô hình điển hình của khu vực hoá 9
1.1.1. Khái niệm về khu vực hoá 9
1.1.2. Châu Âu – điển hình của khu vực hoá 11
1.2. Quá trình phát triển liên minh Châu Âu từ đầu thế kỷ 21 14
1.2.1. Các hiệp ƣớc xây dựng liên minh Châu Âu 16
1.2.2. Những lần mở rộng hƣớng đến một Châu Âu không biên giới 26
CHƢƠNG 2: PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA CÁC YẾU TỐ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH
PHÁT TRIỂN CỦA EU TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI 32
2.1. Các yếu tố chính trị 32
2.1.1. Các yếu tố ngoại sinh 32
2.1.2. Các yếu tố nội sinh 41
2.2. Các yếu tố kinh tế 43
iv

2.2.1. Tác động tích cực do yếu tố kinh tế mang lại cho sự phát triển của EU 43
2.2.2. Những tác động tiêu cực của kinh tế 47
2.3. Các yếu tố văn hóa 50
2.3.1. Văn hóa với tƣ cách là nền tảng 51
2.3.2. Văn hóa với tƣ cách là động lực phát triển 53
CHƢƠNG 3: ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU ĐẾN
NĂM 2020. 59
3.1. Những thách thức đối với Liên minh Châu Âu trong giai đoạn mới 59
3.1.1. Những thách thức bên trong 59
3.1.2. Những thách thức bên ngoài 75
3.2. Những mục tiêu phát triển của Liên minh Châu Âu đến năm 2020 79
3.2.1. Thúc đẩy thị trƣờng thống nhất mạnh hơn, mở rộng hơn để phát triển 79
3.2.2. Đầu tƣ cho phát triển bền vững 80
3.2.3. Tích cực khai thác công cụ chính sách đối ngoại 80
3.2.4. Các giải pháp thực hiện mục tiêu phát triển của Liên minh Châu Âu đến

:
Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương
WCU
:
Liên minh phòng thủ Tây Âu
R&D
:
Nghiên cứu và phát triển
EURO
:
Đồng tiền chung châu Âu
EC
:
Ủy ban Châu Âu
EP
:
Nghị viên Châu Âu
OSCE
:
Tổ chức an ninh và hợp tác Châu Âu
SNG
:
Cộng đồng các quốc gia độc lập
ACP
:
Các nước Châu Phi, Vùng Ca-ri –bê và Thái Bình Dương
IMF
:
Quỹ tiền tệ thế giới
WB
1

LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều tổ chức hay những liên minh khác nhau
tùy thuộc vào mục đích như chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh, quân sự hay hỗn
hợp… nhằm bảo vệ lợi ích của những nước thành viên và của tập thể, và tạo ra nền
tảng vững chắc cho sự phát triển toàn diện của các quốc gia. Tùy thuộc vào phạm
vi, cơ cấu tổ chức và hoạt động mà người ta có thể chia thành các tổ chức toàn cầu
như Liên hợp quốc, liên khu vực như APEC, hay các tổ chức khu vực như Liên
minh châu Âu (EU). Mặc dù là một tổ chức khu vực, nhưng EU lại có tầm ảnh
hưởng, uy tín sâu rộng và là mẫu hình về hội nhập khu vực tốt nhất trên thế giới.
Về chính trị, EU đã đạt đến trình độ của một tổ chức « siêu quốc gia ». EU
có đầy đủ các cơ quan quyền lực của một quốc gia có chủ quyền như cơ quan lập
pháp, hành pháp và tư pháp.
Về kinh tế, EU đã đạt đến trình độ hội nhập kinh tế đày đủ, có liên minh tiền
tệ và tài chính cho các hoạt động chung trong toàn liên minh.
Về mặt văn hóa-xã hội, EU đã xây dựng được một bản sắc chung, chuẩn mực
và các giá trị chung, các quyền cơ bản của con người được tôn trọng và bảo đảm.
Về an ninh-quốc phòng, EU đang hướng tới một chính sách đối ngoại và an
ninh chung, nhằm đảm bảo hòa bình và anh ninh cho các thành viên cũng như toàn
khu vực.

Liên minh Châu Âu (EU) nhìn từ góc độ liên văn hoá” & “Nhân tố văn
hoá trong tiến trình khu vực hoá và toàn cầu hoá - trường hợp Liên minh
Châu Âu” của TSKH Lương Văn Kế - ĐH KHXH & NV Hà Nội…
3

Các nghiên cứu về văn hoá trên đã đề cập đến khá rõ những ảnh hưởng cũng
như tác động của yếu tố văn hoá trong quá trình hình thành và mở rộng Liên
minh Châu Âu, quá trình thống nhất Châu Âu nhờ các quá trình liên văn hoá,
trong đó có các chính sách văn hoá chung đã làm hình thành nên quan niệm
giá trị chung, đây là cơ sở sâu xa để Châu Âu thực hiện nhất thể hoá sâu sắc
và toàn diện hơn nữa trong tương lai. Mặc dù vậy thì đề tài sẽ đóng góp thêm
cho những nghiên cứu trên về việc thực tế trạng thái văn hoá các quốc gia
thành viên vẫn còn nhiều khác biệt. Tính đa dạng văn hoá đó là một trong
những trở ngại trên con đường hợp nhất để từ đó có thể phân tích, đánh giá
một cách khách quan yếu tố văn hoá trong quá trình phát triển của Liên minh
Châu Âu từ đầu thế kỷ 21 đến nay qua đó phần nào thấy được rằng đối với
văn hoá mà nói, sự khác biệt chưa hẳn là yếu tố cản trở, cũng như sự tương
đồng chưa chắc là yếu tố thúc đẩy sự hoà nhập giữa các quốc gia thành viên.
Sự khác biệt giữa các nền văn hoá không tạo nên mâu thuẫn mà trái lại, nếu
biết phát huy nó sẽ làm cho đời sống vật chất và tinh thần loài người thêm đa
dạng.
Kinh tế Châu Âu với những nghiên cứu: “khủng hoảng nợ công - mối lo
không chỉ của Hy Lạp” của Lò Thị Phương Nhung - tạp chí những vấn đề
kinh tế - chính trị thế giới; “một số chính sách sau khủng hoảng của Liên
minh Châu Âu” của Nguyễn An Hà - tạp chí nghiên cứu Châu Âu….
Những nghiên cứu trên về nền kinh tế Liên minh Châu Âu đã phần nào giúp
chúng ta có được cái nhìn chân thật hơn về thành tựu vượt bậc về kinh tế mà
Liên minh Châu Âu từ đầu thế kỷ 21 đến nay như trong phần lớn thập kỷ đầu
của thế kỷ 21 đã duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao, kiểm soát được
lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp thấp, đồng tiền Euro trở thành một trong những

trở thành một sức mạnh toàn cầu như Mỹ hoặc Trung Quốc” thì vấn đề này
vẫn đang còn tồn tại rất nhiều yếu tố và vấn đề nhức nhối cần giải quyết mặc
dù hứa hẹn sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Đề tài cũng đồng ý với những phân
5

tích và đánh giá của các nghiên cứu trên rằng sẽ rất khó khăn trong tiến trình
hoàn thành hiến pháp mới của EU do dự thảo chế định hiến pháp phải được
quốc hội của 27 nước thành viên phê chuẩn hoặc qua trưng cầu dân ý mới có
hiệu lực nên hiện nay quá trình này còn chưa kết thúc và cần thời gian xem
xét, chỉnh sửa cũng như để tất cả các thành viên thông qua.
Tất cả những nghiên cứu trên đều có những hướng nghiên cứu riêng, nhưng
tựu chung lại đã làm cho những nghiên cứu về Châu Âu thêm phần phong
phú và sâu sắc, mỗi nghiên cứu như trên đều đóng góp ít nhiều cho việc tìm
hiểu các góc độ của Châu Âu - tổ chức khu vực có thể nói là thành công nhất
cho đến lúc này nhưng cũng phần nào tiềm ẩn những khó khăn, khủng hoảng
nhất định, với những tiền đề như vậy, luận văn hy vọng sẽ kế thừa và phát
triển thêm nữa cho việc nghiên cứu về Châu Âu.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của luận văn là phân tích các yếu tố tác động đến cộng đồng
Châu Âu từ đầu thế kỷ 21 đến nay, bao gồm các yếu tố: chính trị - an ninh, kinh tế
và văn hóa, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm và đưa ra một số dự báo về triển
vọng phát triển của Cộng đồng Châu Âu trong tương lai.
Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn, tác giả đã sử dụng chủ yếu các phương pháp xử lý tư
liệu cơ bản như phương pháp thống kế, so sánh, tổng hợp, lịch sử, ngoài ra còn sử
dụng các phương pháp chuyên ngành quan hệ quốc tế như phương pháp truy
nguyên, phân tích, đánh giá để rút ra những nhận định một cách khách quan, chân
thực và thực tiễn những yếu tố tác động đến Liên minh Châu Âu từ đầu thế kỷ 21
đến nay, bên cạnh đó là dự báo kết hợp với các phương pháp nghiên cứu quốc tế để
có thể nêu ra những kết luận cũng như triển vọng phát triển của Liên minh Châu Âu

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN LIÊN MINH CHÂU
ÂU TỪ ĐẦU THẾ KỶ 21 ĐẾN NAY
1.1. Liên minh Châu Âu – mô hình điển hình của khu vực hoá
1.1.1. Khái niệm về khu vực hoá
Trong hơn một thập kỷ trở lại đây xu thế toàn cầu hoá gia tăng ngày càng
mạnh mẽ. Trước những thay đổi đó, đã xuất hiện những lý giải và thái độ khác nhau
về các xu thế phát triển này. Khái niệm khu vực hóa được hình thành khi xu thế
toàn cầu hóa được mở rộng tại các quốc gia, khu vực. Do đó, để hiểu thế nào là khu
vực hóa, trước hết chúng ta tìm hiểu khái niệm về toàn cầu hóa.
Có quan điểm cho rằng toàn cầu hoá chỉ mới xuất hiện gần đây. Toàn cầu
hoá được hiểu là chính sách của Mỹ nhằm bành trướng quyền lực, thống trị thế giới
theo kiểu Mỹ, thưc chất toàn cầu hoá là Mỹ hoá.Quan niệm này đã đẩy tới thái độ
phải chống lại quá trình này nhằm đảm bảo cho sự phát triển độc lập, đa dạng của
các quốc gia.[11]
Loại quan điểm thứ hai là quan điểm thừa nhận tính tất yếu khách quan của
quốc tế hoá, toàn cầu hoá. Nhưng trong quan điểm này cũng có nhiều ý kiến khác
nhau. Có người cho rằng toàn cầu hoá xét về bản chất là quá trình tăng lên mạnh mẽ
những mối liên hệ, sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả
các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới. Có người lại cho rằng:
“Toàn cầu hoá là giai đoạn cao của quá trình phát triển của lực lượng sản xuất trên
thế giới, là kết quả tất yếu của phát triển kinh tế thị trường và khoa học công nghệ”
[31].
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về toàn cầu hoá nhưng điểm quan
trọng mà ta nhận thấy là toàn cầu hoá không chỉ là quá trình phản ánh sự gia tăng
của các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, mà quan trọng hơn nó phản ánh qui mô
của các hoạt động liên quốc gia. Từ đó ta có thể đưa ra môt khái niệm mang tính
chất khái quát về toàn cầu hoá: “Toàn cầu hoá là sự gia tăng mạnh mẽ các mối quan
10

hệ gắn kết, tác động phụ thuộc lẫn nhau, là quá trình mở rộng qui mô và cường độ

Khu vực hóa được xem như một sự liên kết giữa các quốc gia hay các tổ
chức bên trong của các nước cùng khu vực địa lý nhằm giải quyết các vấn đề nội bộ
khu vực cũng như tăng sức cạnh tranh quốc tế của cả khu vực [13].
Vậy khu vực hóa là quá trình trung gian hai mặt, hay diễn ra theo hai hướng
tương phản nhau: hướng ngoại (toàn cầu hóa) khi nhìn nhận từ các quốc gia và
hướng nội (bản địa hóa) khi xét từ góc độ cạnh tranh toàn cầu. Khuynh hướng khu
vực hóa từ những thập niên gần đây càng được gia tăng trên khắp các châu lục, từ
đó hình thành khái niệm chủ nghĩa khu vực và trở thành một đối tượng của toàn cầu
hóa.
1.1.2. Châu Âu – điển hình của khu vực hoá
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều tổ chức hay những liên minh khác nhau cụ
thể như: các liên minh về kinh tế- chính trị- văn hóa,…Những liên minh hay tổ chức
này được thành lập nên bởi nhiều nước cùng tham gia sáng lập và có nhiều quy định
khác nhau tùy thuộc vào những mục đích như thế nào mà các quốc gia cùng liên kết
với nhau lại thành lập nên. Những tổ chức hay liên minh này thành lập ra để nhằm
bảo vệ quyền lợi của những nước thành viên của nó, và tạo ra một bức tường vững
chắc cho sự phát triển về mặt kinh tế - xã hôi của các quốc gia. Và có những tổ chức
và liên minh được cả thế giới biết đến như: ASEAN, OPEC, WTO, EU,
Liên minh châu Âu hay Liên hiệp châu Âu (tiếng Anh: European Union),
viết tắt là EU, là một liên minh kinh tế chính trị bao gồm 27 quốc gia thành viên
thuộc Châu Âu. Liên minh châu Âu được thành lập bởi Hiệp ước Maastricht vào
ngày 1 tháng 11 năm 1993 dựa trên Cộng đồng châu Âu (EC). Với khoảng 492,9
triệu dân (2006), Liên minh châu Âu chiếm 30% (18,4 nghìn tỉ đô la Mỹ năm 2008)
GDP danh nghĩa và khoảng 22% (15,2 nghìn tỉ đô la Mỹ năm 2008) GDP sức mua
tương đương của thế giới [42].
12

Liên minh châu Âu đã phát triển một thị trường chung thông qua hệ thống
luật pháp tiêu chuẩn áp dụng cho tất cả các nước thành viên nhằm đảm bảo sự lưu
thông tự do của con người, hàng hóa, dịch vụ và vốn. EU duy trì các chính sách

được áp dụng ở Bắc Cyprus vì trên thực tế vùng lãnh thổ này nằm dưới quyền quản
lý của Cộng hòa Bắc Cyprus thuộc Thổ Nhĩ Kỳ - một quốc gia tự tuyên bố độc lập
và chỉ được Thổ Nhĩ Kỳ thừa nhận [42].
Liên minh châu Âu kéo dài về phía đông bắc đến Phần Lan, tây bắc về phía
Ireland, đông nam về phía Cộng hòa Síp và tây nam về phía bán đảo Iberia, là lãnh
thổ rộng thứ 7 thế giới và có đường bờ biển dài thứ 2 thế giới sau Canada. Điểm cao
nhất trên lãnh thổ Liên minh châu Âu đó là đỉnh Mont Blanc, cao 4810,45 m trên
mực nước biển và điểm thấp nhất là Zuidplaspolder ở Hà Lan, thấp hơn mực nước
biển 7m. Dân cư của Liên minh châu Âu có tỉ lệ đô thị hóa cao. 75% người dân
Liên minh châu Âu sống ở các thành phố (con số này dự kiến sẽ là 90% ở 7 quốc
gia thành viên vào năm 2020). Giải thích cho điều này có hai nguyên nhân chính:
một là mật độ dân cư đô thị hạn chế vươn ra những khu vực tự nhiên, hai là trong
một số trường hợp nguồn vốn của Liên minh châu Âu được dồn vào một khu vực
nào đó, chẳng hạn như Benelux. [42]
Nhằm thực hiện những mục tiêu chung đã được đề ra trong các hiệp ước, EU
đã xây dựng cho mình một hệ thống thể chế “ siêu quốc gia” để điều hành, giám sát
quá trình liên kết của các quốc gia thành viên. Hệ thống thể chế này bao gồm các cơ
quan chính sau: Hội đồng châu Âu, Hội đồng bộ trưởng, Uỷ ban châu Âu, Nghị
viện châu Âu, Toà án châu Âu, Toà kiểm toán châu Âu, Uỷ ban kinh tế và xã hội,
Uỷ ban về khu vực, Ngân hàng Đầu tư châu Âu. [44] Chúng ta sẽ tìm hiểu về
nguyên tắc hoạt động của các cơ quan này tại chương 2 của luận văn.
14

1.2. Quá trình phát triển liên minh Châu Âu từ đầu thế kỷ 21
Để có cơ sở tìm hiểu về quá trình phát triển của liên minh Châu Âu từ đầu
thế kỷ 21 đến nay, trước hết chúng ta điểm qua một số nét khái quát về lịch sử của
liên minh từ khi thành lập đến nay.
Mốc lịch sử đánh dấu sự hình thành EU là bản tuyên bố Schuman của bộ
trưởng ngoại giao Pháp Robert Schuman vào ngày 9/5/1950 với đề nghị đặt toàn bộ
nền sản xuất gang thép của Cộng hòa Liên bang Đức và Pháp dưới một cơ quan

thế kỷ trước và đã khẳng định mình là một tổ chức hùng mạnh, đặc biệt là trong lĩnh
vực kinh tế. Năm 2000, tốc độ tăng trưởng GDP của EU cao hơn năm 1999 gần
1,1% và đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 3% trong các năm 2001- 2002. Khoảng
cách phát triển giữa các quốc gia trong khối ngày càng thu hẹp. Trong số các quốc
gia thuộc EU thì các nước nhỏ Bắc Âu tỏ ra tiến mạnh mẽ nhất, nước Đức khổng lồ
thường bị tụt hậu mấy năm gần đây cũng đã bắt kịp với tốc độ tăng trưởng kinh tế
chung của cả khối. Chỉ có Italia, hơi yếu về khả năng cạnh tranh cũng đã đạt tốc độ
tăng trưởng 2,6% trong năm 2005, tuy nhiên vẫn bị coi là mức thấp nhất khối. Theo
ủy ban châu Âu, kinh tế EU vẫn đang phát triển khả quan. Các chuyên gia kinh tế
của IMF và OECD cũng rất lạc quan vào sự tiếp tục phát triển của EU bởi ngân
hàng trung ương châu Âu tiếp tục kiểm soát chặt chẽ mức cấp tiền và duy trì mức
lãi suất khá ổn định ở mức 4,5%. Theo báo cáo của OECD, trong năm 2007, tốc độ
tăng trưởng của kinh tế EU luôn ổn định ở mức trên dưới 2,6%, tỷ lệ thất nghiệp sẽ
giảm đáng kể từ 8,8% năm 2008. Với xu hướng phát triển như hiện nay, các nhà
kinh tế cho rằng EU tăng trưởng chậm nhưng chắc và vẫn tin tưởng khẳng định xu
hướng đi lên của kinh tế EU trong năm 2015 và tầm nhìn tới năm 2020. [43] 16

1.2.1. Các hiệp ước xây dựng liên minh Châu Âu
Nhìn lại hơn 50 năm hình thành và phát triển của Liên minh châu Âu, có thể thấy
quá trình này gắn với các hiệp ước chủ yếu sau đây ( từ năm 1952 đến nay).
1.2.1.1. Hiệp ước Paris
Hiệp ước Paris thành lập cộng đồng than- thép châu Âu (ECSC) được ký ngày
18/4/1951 với sự tham gia của 6 nước: Pháp, Đức. Italia, Bỉ, Hà Lan và
Luxembourg, nhằm thống nhất việc sản xuất và phân phối hai sản phẩm chính là
thép và than trên toàn lãnh thổ châu Âu. Hiệp ước Paris có hiệu lực từ ngày
23/7/1952 và hết hạn ngày 23/7/2002, đúng 50 năm sau khi có hiệu lực [43]. Hiệp
ước này được coi như nền tảng trong việc đem các nước châu Âu xích lại với nhau

thành viên (lúc này, số thành viên của EC là 12 nước bao gồm: Pháp, Đức, Bỉ, Italy,
Hà Lan, Luxembourg, Anh, Đan mạch, Ailen, Hy Lạp, Bồ Đào Nha và Tây Ban
Nha) nhằm thành lập một “không gian châu Âu” thống nhất về kinh tế, chính trị, an
ninh, quốc phòng và các chính sách về xã hội [43]. Như vậy, EU đã được bổ sung
thêm các nội dung liên kết mới (an ninh, chính trị , đối ngoại) mà các tổ chức tiền
thân của nó chưa có, để đạt được các mục tiêu toàn diện hơn như: duy trì bảo vệ hoà
bình và thịnh vượng, thiết lập nền tảng phát triển, tiến tới hợp nhất về kinh tế vì lợi
ích chung của các dân tộc châu Âu thông qua việc tạo ra một khu vực kinh tế rộng
lớn, một khu vực thị trường tự do, thống nhất, tạo điều kiện cho việc thống nhất về
chính trị và hài hoà về xã hội trong liên minh. Với mục tiêu như vậy, EU đã thực sự
bước vào một thời kỳ mới, tồn tại như một thực thể thống nhất, hay những nói đúng
hơn là đóng vai trò như một “Đại quốc gia” ở châu Âu, một “Ngôi nhà chung châu
Âu”.
Hiệp ước này đánh dấu một bước ngoặt trong tiến trình nhất thể hóa Châu Âu. Cụ
thể:

18

Liên minh chính trị:
- Tất cả các công dân của các nước thành viên được quyền tự do đi lại và cư
trú trong lãnh thổ của các nước thành viên.
- Được quyền bầu cử và ứng cử chính quyền địa phương và Nghị viện châu
Âu tại bất kỳ nước thành viên nào mà họ đang cư trú.
- Thực hiện một chính sách đối ngoại và an ninh chung trên cơ sở hợp tác liên
chính phủ với nguyên tắc nhất trí để vẫn bảo đảm chủ quyền quốc gia trên
lĩnh vực này.
- Tăng cường quyền hạn của Nghị viện châu Âu.
- Mở rộng quyền của Cộng đồng trong một số lĩnh vực như môi trường, xã
hội, nghiên cứu
- Phối hợp các hoạt động tư pháp, thực hiện chính sách chung về nhập cư,

tiền bản tệ và bắt đầu giai đoạn đổi tiền. Và kể từ ngày 1/7/2002, các đồng bản tệ
của 11 nước thuộc EU- 11 đã chính thức kết thúc lịch sử tồn tại của mình vĩnh viễn
rút khỏi hệ thống lưu thông, chính thức nhường chỗ hoàn toàn cho đồng EU đang là
đồng tiền chung, duy nhất lưu hành trong tất cả các quan hệ kinh tế- xã hội những
nước thành viên, một ngôi nhà chung châu Âu đã được hình thành.
1.2.1.6. Hiệp ước Nice
Hiệp ước Nice (7/11- 12/2000) được tập trung vào các vấn đề cái cách thể chế để
đón nhận các thành viên mới gồm các vấn đề:
- Cải cách thể chế: đổi mới thành phần ủy ban châu Âu (ủy ban châu Âu sẽ có
không quá 27 ủy viên, trong đó mỗi nước sẽ có một ủy viên, được chỉ định theo
nguyên tắc luân phiên, sẽ thực hiện từ năm 2005. Chủ tịch ủy ban sẽ được trao
thêm một số quyền mới, đặc biệt trong lĩnh vực ngoại thương được biểu quyết
theo nguyên tắc đa số đủ thẩm quyền; phân định số phiếu bầu trong Hôi đồng
Bộ trưởng, cụ thể: Pháp, Đức, Anh, Italia có cùng số phiếu bầu là 29, Tây Ban
Nha có số phiếu bầu là 27 phiếu, Hà Lan có số phiếu bầu là 13 phiếu, Bỉ có số
phiếu bầu là 12 phiếu, và các nước còn lại sẽ có từ 3 - 7 phiếu. Tổng số phiếu
bầu sẽ là 345 khi số thành viên EU là 25 nước nguyên tắc bỏ phiếu theo đa số
20

đủ thẩm quyền: hiện đang áp dụng cho 80% quyết định, 20% vấn đề còn lại các
nước vẫn giữ nguyên quyền phủ quyết của mình, đặc biệt đối với những vấn đề
nhạy cảm, động chạm đến lợi ích quốc gia) [43].
- Tăng cường vai trò của nghị viện châu Âu, số ghế nhiều nhất là 99 (tăng 12 so
với cũ). Pháp, Anh, Italia chỉ còn 74 (giảm 13 so với số cũ). Tổng số nghị sĩ
tương lai sẽ là 738.
- Về chính trị an ninh và quốc phòng: EU thành lập lực lượng phản ứng nhanh
(RRF) từ năm 2003, bao gồm 60000 quân và 100 tầu chiến và 400 máy bay
trong thời gian 60 ngày. RRF sẽ có cơ cấu điều hành thường trực gồm ủy ban
quân sự và bộ tham mưu đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của EU. Như vậy, từ
ECSC đến EU hiện nay là cả một quá trình phát triển phức tạp với các hình

ngạch xuất khẩu hàng hóa dịch vụ chiếm khoảng 21,9% kim ngạch nhập khẩu
của toàn thế giới.
1.2.1.7. Hiệp ước Lisbon
Ngày 1 tháng 12 năm 2009, Hiệp ước Lisbon chính thức có hiệu lực và đã
cải tổ nhiều khía cạnh của Liên minh châu Âu. Đặc biệt, Hiệp ước Lisbon đã thay
đổi cấu trúc pháp lý của Liên minh châu Âu bằng cách sáp nhập cấu trúc 3 trụ cột
thành một chính thể pháp lý duy nhất. [29]


Sự ra đời của Hiệp ước Lisbon

Các quy chế hoạt động của EU kể từ Hiệp ước Maastricht - Hiệp ước thành
lập EU - có hiệu lực (11/1993) đến trước Hiệp ước Lisbon (12/2009) đã ngày càng
trở nên lạc hậu so với thời cuộc. Sự liên kết khu vực của EU theo Maastricht dựa
trên ba trụ cột chính: 1) Liên kết kinh tế; 2) Ngoại giao và an ninh chung; 3) Hợp
tác tư pháp và nội vụ. Cùng với quá trình liên kết theo chiều rộng, tức là kết nạp
thêm thành viên (từ 12 lên 15 nước sau khi kết nạp 3 nước Áo, Phần Lan, Thụy
Điển vào năm 1995, từ 15 lên 25 sau khi kết nạp thêm 8 nước thuộc vùng Trung –
Đông Âu, vùng Ban-tich, Man-ta và Cộng hòa Síp vào năm 2004, từ 25 lên 27 vào
năm 2007 sau khi kết nạp Bungary và Romany), liên kết theo chiều sâu cũng ngày
càng phát triển. Trụ cột kinh tế đã đạt mức độ liên kết gần như hoàn hảo với thị

Trích đoạn Những mục tiêu phát triển của Liên minh Châu Âu đến năm 2020 Tích cực khai thác công cụ chính sách đối ngoại Các giải pháp thực hiện mục tiêu phát triển của Liên minh Châu Âu đến
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status