MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài :
Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng: các chế độ chính trị xã hội thay đổi
theo tiến trình phát triển của lịch sử, song tổ chức gia đình và dòng tộc thỡ
luụn trường tồn cùng non sông đất nước. Mỗi dòng tộc, nhất là cỏc dũng tộc
lớn, đều có truyền thống văn hóa, bản sắc riêng của mình. Những nột riờng đú
góp lại hình thành nên nền văn hóa dân tộc. Nói cỏch khác, văn hóa cỏc dũng
họ chính là cơ sở, nền tảng của truyền thống và bản sắc văn hóa quốc gia.Vỡ
vậy, việc nghiên cứu về dòng họ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc
nhận thức, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Dòng họ là nơi bảo tồn những di sản văn hóa của các thành viên trong
họ như: văn bia, câu đối, nhà thờ, thơ văn, gia phả, sách truyện, nghề truyền
thống,…Việc tìm hiểu về văn hóa các dòng họ, một mặt góp phần vào sự
nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá, mặt khác góp phần củng cố và khơi
dậy ý thức, biết ơn và tự hào về công đức của tổ tiên, để từ đó tiếp tục phát
huy truyền thống gia tộc, xây dựng gia đình, quê hương, đất nước. Vì thế việc
nghiên cứu về lịch sử - văn hóa của các dòng họ là một yêu cầu bức thiết.
Hiện nay, trong xã hội đang hình thành một xu hướng, một trào lưu là
trùng tu nhà từ đường, chắp nối gia phả …Đõy là biểu hiện của ý thức “uống
nước nhớ nguồn”, một truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Tuy nhiên, cùng với
ý nghĩa nhân văn của xu hướng này đã thấy có những mặt trái của nó. Đú
chớnh là việc xây dựng nhà thờ một cách bừa bãi, học hỏi văn hóa lai căng,…
Vì vậy việc tìm hiểu đầy đủ và nghiêm túc về lịch sử - văn hóa của các dòng
họ còn là việc “Gạn đục khơi trong”, giữ gìn bản sắc cho các dòng họ, cho
đất nước.
1
Một dòng họ thường tõp trung sinh sống ở một địa phương hoặc một số
địa phương nhất định. Do đó, việc nghiên cứu về lịch sử, văn hóa của một
dòng họ trên một địa phương cụ thể không chỉ góp phần làm phong phú hơn
bộ sử địa phương mà còn góp phần thiết thực vào việc nâng cao nhận thức về
lịch sử dân tộc, vì lịch sử địa phương là một bộ phận của lịch sử dân tộc .
Năm 1987, ông Nguyễn Văn Bến, cán bộ Viện nghiên cứu Hỏn Nụm với
bút danh Lâm Giang viết bài “Bước đầu tìm hiểu về hội Tao đàn” đã nhắc đến
cụ Đàm Thận Huy là một trong Thập nhị bỏt tỳ với 9 bài thơ họa Quỳnh uyển
cửu ca của vua Lờ Thỏnh Tụng. Sau đó 2 năm ông lại viết bài “Đàm Thận Huy
và tác phẩm Sĩ hoạn châm quy” đăng ở tạp chí Hỏn Nụm, trình bày khỏ rừ về
con người và sự nghiệp của cụ Thận Huy; đồng thời tác giả đó nờu những căn cứ
để xác định văn bản Sĩ hoạn châm quy, lưu tại viện Hỏn Nụm là của Cụ.
Cũng vào năm 1987, trờn báo Nhân Dân số 12075, nhà báo Nhã Long
cho đăng bài viết về cụ Đàm Công Hiệu với sự tích ngôi nhà thờ đặc biệt. Đú
chính là “Giảng đường Văn Miếu xưa”. Bài báo giới thiệu cho người đọc về
ngôi nhà thờ của cụ Quốc sư Đàm Công Hiệu ở Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc
Ninh, chính là giảng đường nơi cụ Quốc sư Đàm Công Hiệu thường ngồi dạy
Chúa Trịnh. Khi cụ Công Hiệu ốm, để cho thầy đỡ nhớ nơi giảng đường,
Chúa đã cho người chuyển từ kinh đô về dựng lại ở quê thầy ở Hương Mạc .
Sau này, khu giảng đường trở thành nhà lưu niệm danh nhân văn hóa Quốc sư
Đàm Công Hiệu .
Năm 1987, Sở văn hóa thông tin Hà Bắc, phòng Bảo tồn Bảo tàng đã cử
cán bộ tiến hành khảo sát di tích đền thờ các danh nhân họ Đàm, sau đó báo
cáo lên Bộ Văn hóa. Kết qủa là sau 1 năm Bộ Văn hoỏ đó ra quyết định số
3
28VH/QĐ vào sổ Danh mục di tích lịch sử. Năm 1990, đền thờ lưu niệm danh
nhân văn hóa Đàm Thận Huy và Đàm Công Hiệu được vinh dự đón nhận
Bằng công nhận di tích lịch sử- văn hóa.Trong hồ sơ di tích, các cán bộ khảo
sát đi sâu vào sự tích cỏc ngụi đền, khái quát tổng quan về cấu trúc đền thờ và
đánh giá về các giá trị lịch sử, nghệ thuật của các di tích. Dòng họ Đàm từ sau
sự kiện này càng được nhiều người biết tới.
Sau đó, một loạt các tác phẩm viết về các nhân vật lịch sử, các danh nhân
văn hóa đã chép lại những giai thoại, những công trạng của Cụ Đàm Thận
Huy, Đàm Công Hiệu,…như: Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam-1991 (tác
giả: Nguyễn Bá Thế, Nguyễn Quang Thắng); Các nhà khoa bảng Việt Nam
là Hoàng Hậu Phi Nhân.
Người tiếp theo là nhà báo Phú Nga viết về những người phụ nữ của
dòng họ Đàm trong bài: Người đàn bà được phong Vương (tạp chí Hà Bắc-
1995).Trong bài báo, người phụ nữ đầu tiên mà tác giả nhắc đến là thân mẫu
của thượng thư Đàm Thận Huy; người thứ 2 là phu nhân của Thượng thư
Đàm Thận Huy là bà Nghiêm Thị và cuối cùng là 2 con gái của cụ là tiểu thư
Quế Dung và Quế Hoa đã dũng cảm theo cha chống quân Mạc.
Năm 1994, Bộ Văn hóa cũng đã lập hồ sơ công nhận đền thờ Hai Cô (Quế
Dung và Quế Hoa) ở thôn Cầu Khoai, xã Tam Hiệp, huyện Yên Thế là di tích
lịch sử - văn hóa (quyết định số 295-QĐ/BT ngày 15-2-1994).
Ở thời kỳ cận hiện đại, họ Đàm cũng vẫn có những gương mặt xuất sắc
có nhiều công trạng đóng góp cho đất nước. Cuốn sách Giáo sư Việt Nam-do
Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước công bố năm 2004 có giới thiệu về 3
người con của họ Đàm. Đó là Giáo sư Đàm Trung Đồn, Đàm Trung Bảo,
Đàm Hiếu Nhuệ ( tức Đàm Văn Nhuệ). Ngoài ra cũn cú một số bài báo đưa
5
tin về Đàm Thanh Sơn - người đoạt giải nhất kỳ thi Toán Quốc tế lần thứ 25
năm 1984; Đàm Hiếu Chí - đạt giải 3 kỳ thi Tin học quốc tế năm 1991…
***
Tất cả những cuốn sách, bài báo, bài viết trờn đó ít nhiều đề cập đến một
số thành viên của dòng họ Đàm, tuy nhiên còn mang tính sơ lược, riêng lẻ,
chưa đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về lịch sử - văn hóa
dòng họ Đàm ở Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh; những đóng góp của dòng họ
cho quê hương, đất nước.Từ đó đặt ra cho chúng tôi nhiệm vụ nghiên cứu sâu
hơn, toàn diện hơn về lịch sử - văn hóa dòng họ này, cũng là một việc nhỏ
góp phần giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ khoa học của đề tài:
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu nguồn gốc và lịch sử phát triển của dòng họ Đàm Thận
ở xã Hương Mạc, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh; những đóng góp với lịch sử
+Đại Nam nhất thống chí-Quốc sử quán nhà Nguyễn
+Đại Việt thông sử, Kiến văn tiểu lục…Lờ Quý Đôn
…
4.1.2. Tài liệu nghiên cứu:
-Các tài liệu về lịch sử,văn hóa ,như:
+Việt Nam văn hóa sử cương –Đào Duy Anh
+Đất nước Việt Nam qua các đời-Đào Duy Anh
+Phong thổ Hà Bắc đời Lê-Trần Văn Giáp biên dịch và khảo thích
+Bắc Ninh dư địa chí-Đỗ Trọng Vỹ
+Lịch sử Hà Bắc-Hội đồng lịch sử tỉnh Hà Bắc
+Tìm hiểu bản sắc văn hóa Việt Nam –Trần Ngọc Thêm
7
+Văn hiến Kinh Bắc-Trần Đình Luyện chủ biên
…
-Các tài liệu viết về những nhân vật nổi tiếng của dòng họ Đàm Thận, như:
+Các nhà khoa bảng Việt Nam-Ngô Đức Thọ
+Văn bia Văn miếu Bắc Ninh-Nguyễn Quang Khải
+Văn bia văn miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội-Đỗ Văn Ninh
+Danh nhân lịch sử Kinh Bắc-Trần Quốc Thịnh
+Giáo sư Việt nam-Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước
…
4.1.3. Tài liệu điền dã:
Để tìm tư liệu phục vụ cho đề tài, chúng tôi đã nhiều lần đến đền thờ
danh nhân Đàm Thận Huy, đền thờ danh nhân Đàm Công Hiệu ở xã Hương
Mạc, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh …để nghiên cứu thực địa, chụp ảnh thu
thập tư liệu. Đồng thời chúng tôi đã gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với người đại
diện của dòng họ Đàm Thận, dòng họ Nguyễn ở Phự Khờ, Từ Sơn … các bậc
cao lão trong địa phương nhằm tìm hiểu về họ Đàm và văn hóa địa phương.
4.1.4. Các tài liệu khác :
Ngoài các nguồn tài liệu trên, chúng tụi cũn tham khảo những bài viết ở
sưu tầm, như: những nhân vật, sự kiện chép trong gia phả với thông tin trong
các bộ chính sử như: Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều tạp kỷ, Đại Nam nhất
thống chớ,… để từ đó phân tích, rút ra nhưng kết luận, những đánh giá tổng
hợp, tìm ra những mối liên hệ và sự tác động qua lại giữa dòng họ Đàm Thận
với địa phương, dân tộc.
9
5. Đóng góp khoa học của đề tài:
Luận văn “Lịch sử - văn hóa dòng họ Đàm Thận ở Hương Mặc, Từ
Sơn, Bắc Ninh từ thế kỷ XV đến nay.” là một công trình khảo cứu công phu,
nghiêm túc về đề tài đã trình bày, cung cấp cho người đọc bức tranh toàn cảnh
về nguồn gốc, lịch sử phát triển của dòng họ Đàm Thận trong lịch sử dân tộc,
đặc biệt là văn hóa truyền thống của dòng họ với nề nếp gia phong mẫu mực,
là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ noi theo.
Luận văn góp phần làm sáng tỏ một số sự kiện lịch sử, một số nhân vật
lịch sử có nhiều đóng góp cho đất nước mà các bộ chính sử mới chỉ nhắc đến
sơ sài hoặc chưa nhắc đến, như: Đàm Thận Huy, Đàm Thận Giản , Đàm Công
Hiệu, Đàm Thận Lễ, Đàm Nghĩa Am (tức Thận Đức), …
Khi xem luận văn này những người trong dòng họ hiểu rõ cội nguồn gia
tộc mình với những truyền thống nhân văn cao quý sẽ noi theo gương sáng
của người xưa mà nhận biết trách nhiệm, xây dựng lý tưởng cho mình. Đó là
đáp ứng niềm mong mỏi của tiên tổ như lời cụ Đàm Duy Tạo biên trong phần
đầu cuồn gia phả: “…Con cháu có biết cái nguồn gốc chung của gia đình ,
cội rễ thủa xưa thì mới gây được cáớ tình thân mật giữa mọi người, trong các
chi phái. Con cháu có biết cái công lao làm ăn hàn gắn tu nhân tích đức của
tổ tiên thì mới nẩy lòng tự phấn tự lệ, tương trừng tương khuyến, hết sức học
hành tu tỉnh, ngõ hầu trước mong noi theo vết hay của tổ tiên, sau mở đường
hay cho con chỏu,để giữ lấy danh giá của gia tộc cho trong sạch, vẻ vang mãi
mãi … ” [68b,7].
Hơn thế nữa, những người ngoại tộc biết đến dòng họ Đàm Thận cũng
cảm nhận được sức lan tỏa của văn hóa dòng họ Đàm mẫu mực mà hăng hái
vùng đất Từ Sơn đã có nhiều bộ tộc người Việt sinh sống dọc theo đôi bờ
sông Tiêu Tương thuộc địa phận cỏc xó Đỡnh Bảng, Đồng Nguyên, Tam
Sơn, Tương Giang.
Thời các vua Hùng chia nước Văn Lang thành 15 bộ, Từ Sơn nằm trong
bộ Vũ Ninh.
Đời nhà Đường đô hộ, Từ Sơn thuộc địa phận của Long Châu.
Thời Lê Đại Hành (989-1005) gọi là Cổ Pháp.
Thời nhà Lý ( 1010-1025) được đổi thành phủ Thiên Đức.
Thời nhà Trần (1225-1400) được gọi là huyện Đông Ngàn, rồi huyện
Từ Sơn.
12
Phủ Từ Sơn được thành lập từ đầu thời Lê (1428-1788) và bắt đầu từ
thời Hồng Đức, Từ Sơn thuộc trấn Kinh Bắc, gồm 5 huyện: Tiên Du, Đông
Ngàn, Võ Giàng, Quế Dương, Yên Phong.
Năm Minh Mệnh thứ 13 (1832) tách 2 huyện Quế Dương và Võ Giàng để
thành lập phân phủ Từ Sơn (năm 1852, phân phủ này bị bãi bỏ). Sau đó huyện
Đông Ngàn bị cắt 3 tổng Tuân Lệ, Xuân Canh, Cổ Loa nhập vào huyện Đông
Anh, tỉnh Vĩnh Phúc.
Dưới thời Pháp thuộc, chính quyền thực dân tiến hành các cuộc cải cách
hành chính, điều chỉnh địa giới ở một số địa phương, xóa bỏ cấp phủ trung
gian giữa tỉnh và huyện. Từ Sơn lúc này gọi là huyện Đông Ngàn. Năm 1925
lại đổi thành phủ Từ Sơn. Phủ Từ Sơn thời kỳ này chỉ còn lại 10 tổng là Dục
Tú, Hạ Dương, Hà Lỗ, Hội Phụ, Mẫn Xá, Nghĩa Lập, Phù Chẩn, Phù Lưu,
Tam Sơn, Yên Thường, và chỉ quản lý một huyện Từ Sơn.
Sau Cách mạng tháng 8-1945, các đơn vị hành chính dưới tỉnh có huyện,
xã, bãi bỏ phủ. Thi hành quyết định của chính phủ ngày 8-6-1961, Ủy ban
hành chính tỉnh Bắc Ninh đã bàn giao cho Ủy ban hành chính thành phố Hà
Nội các xó thuục huyện Từ Sơn được cắt về ngoại thành Hà Nội, về huyện
Đông Anh là cỏc xó Liờn Hà,Võn Hà, Mai Lâm, Đông Hội, Dục Tú.; về
huyện Gia Lâm là cỏc xó Đỡnh Xuyờn, Ninh Hiệp, Tiền Phong, thị trấn Yờn
hai vùng văn hóa Thăng Long – Bắc Ninh, đây chính là nơi địa linh nhân kiệt.
1.1.2. Đặc điểm kinh tế của huyện:
Với nhưng ưu thế về điều kiện tự nhiên, Từ Sơn đó cú một nền nông
nghiệp tương đối phát triển. Nhiều sản vật của Từ Sơn rất nổi tiếng như Hoài
báng ở Đình Bảng (đây là loại thuốc quý trồng ở rừng Báng, thường dùng để
14
tiến vua). Các giống lúa ở đây phong phú, đa dạng, chất lượng tốt như: nếp
cái hoa vàng, tám thơm.
Với quan niệm “thứ nhất canh trì, thứ nhì canh viờn” nghề nuôi cá
trong ao hồ phát triển. Tân Hồng là xó cú nghề nuôi cá phát triển nhất huyện.
Công việc của nhà nông thường bận rộn vào những ngày mùa. Tận
dụng thời gian nông nhàn, người nông dân đã phát huy tính cần cù, khộo kộo
và sáng tạo của mình để làm ra những sản phẩm thủ công phong phú và đa
dạng.
Sách Bắc Ninh phong thổ tạp ký chép về một số kỹ nghệ dân gian ở vựng
Đụng Ngàn – Từ Sơn, thời kỳ trước cách mạng Tháng Tám năm 1945 như
sau: - Nghề nấu rượu có ở cỏc xó Xỏ, Yờn Thường, Quan Đình, Dương Lụi,
Võn Điềm, Hà Lỗ, Kim Bảng.
- Nghề thợ mộc: chạm khắc gỗ, chế tác đồ thủ công mỹ nghệ nổi tiếng
ở cỏc xó Phự Khờ, Hương Mạc, Đồng Kỵ.
- Nghề thợ sơn , sơn mài, nhuộm vải có nhiều ở Đình Bảng, Tân Hồng.
- Nghề đồng đỏ, dệt vải trắng có ở Xuân Trạch, Phù Ninh, Trang Liệt,
Tam Sơn.
- Làng Đa Hội xó Chõu Khờ chuyờn làm nghề rèn sắt cung cấp công cụ
lao động và sinh hoạt cho cả vùng. Ở Đa Hội hiện nay vẫn có đền thờ Quận
công Trần Đức Huệ, người được coi là ông tổ của nghề rèn sắt.
Nhân dân Từ Sơn đã tận dụng vị trí thuận lợi, nằm ở cửa ngõ thủ đô, lại
cú cỏc con đường giao thông quan trọng chạy qua để phát triển buôn bán. Phù
Lưu là một làng buôn bán nổi tiếng của nước ta. Hệ thống chợ ở Từ Sơn cũng
rất phát triển. Chợ thường họp ở những nơi trung tâm của một làng hay một
Văn Miếu Bắc Ninh là di tích có giá trị tiêu biểu nhất phản ánh truyền thống
hiếu học và khoa cử vẻ vang của vùng Bắc Ninh – Kinh Bắc. Công trình này
được xây dựng từ thời Lê, là nơi lưu danh của hơn 600 vị Trạng nguyên, Bảng
nhãn, Thám hoa ,… trong tổng số 3000 vị đại khoa của cả nước.
Câu nói truyền miệng của người Bắc Ninh : “Một giỏ ông Đồ, một bồ ông
Cống, một đống ụng Nghố, một bè Tiến sỹ, một bị Trạng nguyên, một thuyền
Bảng nhãn” thật chẳng ngoa chút nào.
Chúng ta sẽ tìm hiểu rõ hơn về điều này khi nghiên cứu về lịch sử - văn
hóa dòng họ Đàm Thận với gương mặt tiêu biểu.
1.1.4. Truyền thống lịch sử - văn hóa:
Truyền thống lịch sử
Từ Sơn là vùng đất của những truyền thuyết, nhưng chiến tích anh hùng.
Vì thế mà ngày nay trên quê hương này dày đặc các di tích lịch sử, văn hóa từ
thời Hùng Vương, thời Bắc thuộc, các vương triều Đinh, Lý, Trần, Lê,
Nguyễn cho đến các di tích cách mạng kháng chiến…
Ở thời Hùng Vương giặc Xích Tỷ nhà Ân đã xang xâm lược nước ta,
Thiên Cương là vị tướng làng Đồng Kỵ đã đánh tan quân giặc vào ngày 4
tháng giêng âm lịch. Dân ở đây đã tôn ông làm thành hoàng làng và hàng năm
tổ chức lễ đốt pháo diễn lại chiến công lẫy lừng đó.Sau này, Thỏnh Gióng
đánh giặc Ân, làng Phù Chẩn là nơi mà ngựa Gióng đã đi qua và phun lửa
cháy cả lũy tre, còn làng Thọ Trai có vết chân của ngựa Gióng để lại biến
thành những ao hồ.
Khi Triệu Đà thôn tính nước Việt, Tây Vu vương (là thủ lĩnh đất Tõy
Vu-vựng Từ Sơn) đã lãnh đạo nhân dân chống lại Triệu Đà.
Vào Thời Bắc thuộc, sự cai trị tàn bạo của nhà Hỏn đó làm dấy lên các
phong trào đấu tranh chống Bắc thuộc. Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Hai Bà
Trưng nổ ra năm 40, đã thu hút đông đảo nhân dân Từ Sơn tham gia. Trong
17
hàng ngũ tướng sĩ của Hai Bà có nhiều bậc anh hùng hiện nay vẫn được nhân
dân Từ Sơn tôn thờ ở các đình miếu: ở Đồng Nguyờn cú đền thờ Diệu Tiên
thủ lĩnh của phong trào như: Khán Dị, Nguyễn Hữu Cầu. Phự Khờ, Đỡnh
Bảng còn là những cơ sở tin cậy của nghĩa quân Đề Thỏm…
Các chí sĩ yêu nước ở Từ Sơn cũng tham gia tích cực vào các phong trào
yêu nước khác như phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục. Đó là các cụ Ngô Gia
Du ở Tam Sơn, Nguyễn Văn Châu, Nguyễn Văn Duyên, Ba Đồ ở Phự Khờ.
Truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm bảo vệ nền độc lập dân tộc
của các thế hệ ông cha trong lịch sử vô cùng vẻ vang còn được nhân dân Từ
Sơn phát huy trong sự nghiệp đánh đuổi thực dân xâm lược Pháp, Mỹ với các
tên tuổi như: Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ…
Từ Sơn tự hào là quê hương của đồng chí Nguyễn Văn Cừ, tổng bí thư
của Đảng những năm 1938-1940. Hiện nay ở Phự Khê, Từ Sơn có khu nhà
lưu niệm đồng chí Nguyễn Văn Cừ. Ngoài ra, Tam Sơn còn là quê hương của
đồng chí Ngô Gia Tự, một trong những Đảng viên của Đảng cộng sản Việt
Nam. Tỉnh ủy Hà Bắc đã cho xây dựng khu nhà lưu niệm đồng chí Ngô Gia
Tự. Ngôi nhà này không chỉ là nơi sinh ra và lớn lên của đồng chí Ngô Gia
Tự mà còn là một cơ sở cách mạng-nơi diễn ra cuộc họp của kì bộ Việt Nam
cách mạng thanh niên Bắc Kì. Ngay trước cổng của ngôi nhà vẫn còn câu đối
do Ngô Gia Tự viết:
Cổng độc lập tha hồ khép mở
Nhà tự do mặc sức ra vào
19
Đôi câu đối đã thể hiện ý chí, hoài bão đấu tranh về độc lập tự do và
tinh thần cách mạng của đồng chí Ngô Gia Tự.
Trong thời kì Đảng ta còn hoạt động bí mật, Từ Sơn cũng là một cơ sở
cách mạng quan trọng của trung ương. Chùa làng Đồng Kị là một di tích lịch
sử-cỏch mạng tiêu biểu. Đây là cơ sở của Ban thường vụ Trung ương đảng, là
nơi đồng chí Trường Chinh đã hoạt động trong những năm 1940-1945. Hội
nghị ban chấp hành Trung ương đảng lần thứ bảy đã được tổ chức tại nhà cụ
Nguyễn Tiến Tuân. Ngôi nhà này đã được nhà nước công nhận là di tích lịch
sử cách mạng.
trong những làng có truyền thống khoa bảng vào bậc nhất trên đất Bắc Ninh
thì được coi là nhà của quan Thừa tướng cha của Mỵ Nương. Về truyền
thuyết Thỏnh Giúng, dân làng Phù Chẩn kể rằng: khi Thỏnh Giúng cưỡi ngựa
đánh giặc, ngựa sắt đã phun lửa làm cháy cả một vùng, vì thế làng đó ngày
nay vẫn được gọi là làng Cháy (Rích Gạo). Người dân làng Thọ Trai (Giai)
thì vẫn tin rằng ngựa sắt của Thỏnh Giúng đã đi qua làng họ và dấu chân ngựa
sắt đã tạo thành những ao hồ tồn tại đến tận ngày nay.
Từ Sơn còn là vùng đất có nhiều lễ hội. Bắt đầu từ ngày mồng 4 tháng
giêng âm lịch là hội Đồng Kỵ, kết thúc vào ngày 16-3 âm lịch là hội đền Lý
Bát Đế. Hội Đền Đô ngày 16-3 âm lịch hàng năm thường chọn thanh niên
đóng giả nam tướng và nữ tướng để rước thánh mẫu và Bát Đế từ Đền Đô đến
chùa Cổ Pháp rồi lại rước từ chùa về đền. Hội làng Đồng Kỵ ngày 4-1 gắn với
sự tích về tướng Thiên Cương thời Hùng Vương. Cứ vào ngày mồng 4 tháng
giêng từ giờ Mùi đến giờ Dậu dân làng đốt pháo để mừng chiến công của
Thiên Cương, người đã được tôn làm Thành Hoàng làng. Pháo đốt ở hội
21
Đồng Kỵ rất đặc biệt, là loại pháo được giao cho cỏc giỏp tự làm, đường kính
lớn khoảng 1m, dài 10-15m, pháo được trang trí rất đẹp rồi rước ra đình để dự
thi. Mỗi tiếng pháo nổ vang trời lại gợi lên niềm tự hào về truyền thống hào
hùng của người anh hùng dân tộc, vị Thành Hoàng làng.
Phần hội là phần thu hút được nhiều người tham gia và tạo nên tính hấp
dẫn của lễ hội.Cú thể đó là một hội thi để thể hiện tài nghệ, khéo léo của
người chơi như thi đấu vật, cờ người ở làng Đồng Kỵ, Đình Bảng, thi đọc
mục lục, thi cỗ ở Phự Khờ, thi làm bánh dày ở Đồng Kỵ. Hội cũng có thể chỉ
là những trò chơi dân gian đơn giản như đánh đu, tranh cõy ụm cột… Hội
diễn ra cả ngày và đờm, cú nơi chỉ kéo dài 1 ngày, có nơi kéo dài tới 4-5
ngày. Đối với người dân, lễ hội là dịp vui chơi giải trí, thoát ra khỏi sự nhọc
nhằn vất vả sau những ngày lặn lội với ruộng đồng, là nơi để mọi người gặp
gỡ nhau. Lễ hội còn là dịp để con cháu đi xa trở về sum họp nơi quê cha đất
tổ. Lễ hội luôn luôn là một nét đẹp truyền thống của mỗi làng quê và dù thế
tộc phả cổ còn lưu ở từ đường xó Phù Chẩn thì cụ Cao tổ đời đầu của dòng họ
sống vào khoảng năm 1370, đời vua Trần Nghệ Tông , tại xó Phự Chẩn,
huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc (nay là xó Phự Chẩn, huyện Từ Sơn, tỉnh
Bắc Ninh ). Tính đến thời điểm năm 2009, dòng họ đó cú đến đời thứ 22 và
chia thành 18 chi nhánh , tập trung ở Bắc Ninh , Bắc Giang, Thỏi Nguyờn.
Đây cũng là một dòng họ có truyền thống khoa cử. Gia phả ghi lại : đời thứ 4,
thứ 5, 6, 8, 9,10 đều có người đỗ đạt và làm quan trong triều. Sau này ỏ thời
hiện đại cũng có nhiều người có danh vọng (Thứ trưởng Bộ Giaú dục Nguyễn
Văn Vọng là người thuộc họ Nguyễn Xuân –đời thứ 19 )
Tiêu biểu cho dòng họ thời phong kiến là Trạng nguyên Nguyễn Xuõn
Chớnh-đời thứ 6:
23
Năm 16 tuổi Nguyễn Xuõn Chớnh thi đỗ Giải Nguyên thời vua Lê. Năm
37 tuổi ông thi đỗ khoa Hoành Từ, được bổ làm Huấn đạo phủ Nghĩa Hưng.
Sau đó ông từ quan về nhà dạy học, tiếp tục dùi mài kinh sử để thi đỗ đại
khoa. Đến khoa thi Đinh Sửu thời Lê trung hưng (1637), Nguyễn Xuõn
Chớnh thi đậu Trạng Nguyên. Lúc này ụng đó 50 tuổi.
Trạng nguyên Nguyễn Xuõn Chớnh là người văn võ song toàn, có tài
hùng biện. Ông nhiều lần được cử giao tiếp với sứ thần Trung Hoa. Ông làm
quan đến chức Hàn lâm Thị thực, Lễ bộ Hữu thị lang , Binh bộ Tả thị lang,
Công bộ Thượng thư, tước Thọ Ngạn hầu.
Dòng họ Nguyễn ở Phự Khờ, Từ Sơn , Bắc Ninh :
Dòng họ này vốn là hậu duệ của Nguyễn Trãi, đến Phự Khờ sau khi xảy ra
vụ án Lệ chi viên năm Nhâm Tuất (1442), đã được Câu lạc bộ UNESCO
thông tin các dòng họ Việt Nam xác minh và chứng nhận.
Cụ Hồng Quỳ là con thứ 3 của Đại Hành khiển Nguyễn Trói, đó về đây
lánh nạn và trở thành cụ tổ đời thứ nhất của chi họ Nguyễn ở Phự Khờ, tính
đến nay đã trải qua 22 đời. Mặc dù mắc phải cái họa sát tộc, nhưng sau này
con cháu dòng họ Nguyễn vẫn phát huy được truyền thống của gia tộc, trở
thành một dòng họ danh gia vọng tộc ở Phự Khờ. Bằng chứng là dòng họ đã
được phong tặng tước Thái bảo .
Nguyễn Giản Thanh : sinh năm 1482, là con Nguyễn Giản Liờm, là học
trò Đàm Thận Huy. Năm Mậu Thìn thời Lê (1508), Nguyễn Giản Thanh dự
thi Đình, được đỗ Trạng nguyên. Ông làm quan đến chức Đụng cỏc Đại học
sĩ. Thời Mạc, ông từng đi sứ phương Bắc, thăng chức Thượng thư bộ Lễ,
Chưởng hàn lâm viện sự, tước Trung phụ bá, sau khi mất được phong tước
Trung phụ hầu. Trong dân gian thường gọi ông là Trạng Me với nhiều giai
25