Con người cá nhân trong văn học việt nam từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVII - Pdf 24

Con người cá nhân
trong văn học Việt Nam
từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVII
Các nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam đều khẳng định rằng tư tưởng
Tam giáo ở Việt Nam đã có một quá trình phân hoá và thâm nhập vào nhau,
đáp ứng nhu cầu tinh thần nhiều mặt của con người. Từ chỗ đạo Phật chiếm ưu
thế ở thời Lý – Trần, đến thế kỷ XV Nho giáo đã vượt lên, chiếm vị trí được tôn
sùng trong xã hội, còn đạo Phật thì suy vi. Thời Hồng Đức có nhiều bài thơ chế
giễu việc tu thiền là không thực tế : “Nói những thiên đường cùng địa ngục –
Pháp sao chẳng độ được mình ta”. Sự biến đổi ấy đã làm thay đổi hình thái con
người cá nhân trong văn học Việt Nam thời kỳ này, thể hiện ở việc lựa chọn con
đường ứng xử của họ trong đời.
I
Con người cá nhân trong thơ Nôm Nguyễn Trãi (1380 – 1442)
Sự lựa chọn của lịch sử thường không trùng với sự lựa chọn của cá nhân. Con
người cá nhân của Nguyễn Trãi chính là được thể hiện trong sự lựa chọn không
bao giờ xong của ông. Trước nay mỗi khi nói đến Nguyễn Trãi, người ta thường
nói tới một con người nhân nghĩa, yêu nước, thương dân, rồi đi tìm cội nguồn
lịch sử và dân tộc của con người đó cũng như cội nguồn ảnh hưởng nước ngoài
của nó. Nhưng đó chỉ là con đường đi tìm cái chung. Thật vậy, cá nhân Nguyễn
Trãi được thể hiện nổi bật trong bản thân sự lựa chọn day dứt giữa các tư
tưởng, các con đường lập thân, dưỡng thân và nhất là bảo thân, nhưng rốt cuộc
vẫn không thoát được lưỡi gươm oan nghiệt của số phận. Dĩ nhiên sự lựa chọn ở
mỗi thời kỳ đều không giống nhau, nhưng bỏ qua sự lựa chọn là bỏ qua cá nhân
của Nguyễn Trãi.
Chẳng khó gì trong việc khẳng định Nguyễn Trãi là một nhà nho đích thực qua
rất nhiều câu thơ. Chính ông cũng nói rằng ông một đời “phỏng dạng đạo tiên
nho”.
− Lúc trẻ rừng nho nức hương thơm
([1])
− Lòng hãy cho bền đạo Khổng môn

nguyện :
Dầu bụt dầu tiên ai kẻ hỏi,
Ông này đã có thú ông này…
(Mạn thuật – VI)
Mâu thuẫn thường trực của Nguyễn Trãi là mâu thuẫn giữa xuất và xử, lánh
trần hay nhập thế. Một mặt ông muốn “cởi tục, tìm thanh”, nhưng mặt khác lại
vẫn đeo đẳng : “Bui có một niềm chăng nỡ trễ – Đạo làm con với đạo làm tôi”.
Đây là vấn đề đặt ra thường xuyên cho nhà nho xưa nay. Nhưng đối với Nguyễn
Trãi thì vấn đề trở thành day dứt, đau đớn.
Một mặt, ông muốn “an phận, an lòng”, hưởng thân nhàn :
− Lều nhàn vô sự ấy lâu đài,
Nằm ở chẳng từng khuất nhiễu ai.
(Tự thán − XIV)
− Tuyết đượm chè mai câu dễ động,
Trì in bóng nguyệt hứng đêm dài…
(Tự thán − XIV)
Đó là nơi lý tưởng, quý báu để nghỉ ngơi thân xác và tâm hồn, rất khó đạt tới :
Một phút thanh nhàn trong buổi ấy,
Nghìn vàng ước đổi được hay chăng ?
(Tự thán − VII)
Mặt khác ông cũng biết quá rõ : thế thái nhân tình ở đời rất hiểm độc :
− Dưới công danh đeo khổ nhục,
Trong dại dột có phong lưu.
(Ngôn chí − II)
− Hai chữ công danh chăng dám cóc,
Một trường ân oán những hăm he.
(Trần tình − VIII)
− Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn,
Lòng người quanh nữa nước non quanh !
(Bảo kính cảnh giới − IX)

− Hễ tiếng dữ lành tai quản đắp,
Cầu ai khen với liễn ai chê !
(Thuật hứng − IV)
− ở thế thường hiềm khác tục ngươi,
Đến đây rằng hết tiếng chê cười.
(Tự thán − VI)
− Ai hay ai chẳng hay thì chớ,
Bui một ta khen ta hữu tình.
(Tự thán − XIII)
Lời “khen, chê” đây hẳn là lời chê, lời phủ nhận. Và Nguyễn Trãi có khi đã lớn
tiếng tranh luận để tự khẳng định mình, tự động viên mình :
Thu đến cây nào chẳng lạ lùng,
Một mình lạt thuở ba đông.
Lâm tuyền ai rặng già làm khách ?
Tài đống lương cao ắt cả dùng !
Đống lương tài có mấy bằng mày ?
Nhà cả đòi phen chống khoẻ thay.
Cột rễ bền, dời chẳng động,
Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày !
Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày,
Có thuốc trường sinh càng khoẻ thay.
Hổ phách, phục linh nhìn mới biết,
Dành, còn để trợ dân này !
(Tùng)
ý thức cá nhân ở đây biểu hiện thành ý thức tự khẳng định, chống hoà đồng với
thói phàm, đứng ngoài thói tục. ý thức này quyện chặt với ý thức nghĩa vụ, sứ
mệnh nêu trên, quyện chặt với quan niệm con người rất sâu sắc của Nguyễn
Trãi là con người “hữu tài thời hữu dụng”, mà vô dụng là vô nghĩa. Ông nói :
“Vận trị cùng loàn chỉn mặc thì – Bằng ta sinh uổng có làm chi – Ơn vua luống
nhiều lần đội – Việc nước nào ích mấy bề !” (Tự thán −XXX). Ông thẹn : “Quốc

Không a tòng với thói tục, không chịu lẫn lộn phượng với diều, việc đó khiến
nhà thơ cô đơn, cô độc một cách thanh cao, kiên định, khép kín :
− Người tri âm ít, cầm nên lặng,
Lòng hiếu sinh nhiều, cá ngại câu.
(Tự thuật – X)
− Khó ngặt hãy bền lòng khó ngặt,
Chê khen mựa ngặt tiếng chê khen.
(Bảo kính cảnh giới – XIII)
− Cội rễ bền, dời chẳng động…
(Tùng)
− Vàng thực âu chi lửa thiêu…
(Tự thuật – V)
Nguyễn Trãi biết sức mình có hạn, điều kiện khó khăn :
Thuyền mọn còn chèo chăng khứng đỗ,
Trời ban tối, ước về đâu
(Ngôn chí – XIII)
nhưng “mạnh gắng”, “bền lòng” vẫn là đặc điểm nổi bật.
Với thơ Nôm Nguyễn Trãi, ta gặp một con người có ý thức cao với đức tài, lý
tưởng đại dụng, khôn khéo, sâu sắc, tự tin, dũng cảm tự khẳng định, chọi lại
thói phàm tục của người đời, không trùng khít hoàn toàn với khuôn mẫu nào
hết. Đó là một nhân cách lớn hết sức phong phú.
II
Con người cá nhân trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491- 1585)
và Nguyễn Hàng (thế kỷ XVI)
Như trên đã nói, ý thức cá nhân và ý thức tự khẳng định sự tồn tại, giá trị riêng
của con người, gắn liền với ý nghĩa nhân sinh của con người. Trong thời Lê,
Nguyễn Trãi tự khẳng định con người cá nhân của mình bằng cách đối lập “ta”
với “chúng ngươi”, “ta” với “miệng thế”, “lòng người”, “ta” với “bụt, tiên”.
Đến thế kỷ XVI xã hội phong kiến Việt Nam bắt đầu suy tàn, chính sự rối ren,
lòng người ly tán, con người cá nhân trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm tự khẳng

Khôn thì thốt trước lại lo sau.
− Thế gian hễ sự lành càng dữ,
Hễ thấy ai han, hãy lắc đầu…
Nhà thơ hầu như không tin vào việc người đời hiểu được lòng tri kỷ :
Có ai biết được lòng tri kỷ,
Vòi vọi non cao, nguyệt một vừng.
Bằng đối lập, con người cá nhân tự khẳng định mình trong loại : công danh –
nhàn vô sự, khen – chê, giàu – nghèo, khôn – dại, được – mất, ngu – hèn,
cương – nhu, nhọn – tù, cũng tức là tự khẳng định mình trong lẽ biến dịch,
trong phẩm chất trí tuệ thâm thuý. Trọng tâm ý thức cá nhân là giữ mình cho
an toàn, thanh thản, yên phận. Tình cảm cá nhân hầu như không được biểu
hiện, ngoài cảm xúc về sự ưu việt trí tuệ biết nhìn xa của mình. So với con người
cá nhân trong thơ Nguyễn Trãi ta thấy con người cá nhân trong thơ Nguyễn
Bỉnh Khiêm vẫn thanh cao nhưng khép kín hơn, quyết liệt, tuyệt giao hơn. Ông
không có sự ngập ngừng, trăn trở như Nguyễn Trãi nữa. Khuynh hướng cá
nhân khép kín, ẩn dật cũng thể hiện ở Tịch cư ninh thể phú của Nguyễn Hãng :
“Dẫu ai đón hỏi nguồn cơn. Mặc kẻ thăm tìm dấu tích,
Lắng tai mảng rành rành lời trước ; phải đoái thương tính mệnh, ngoại vật dẫu
lọn thuở thừa lưa. Kẻo mình còn lúc nhúc tài hèn : luống dày đội càn khôn,
trong đời chửa chút gì bổ ích.
Ngươi chẳng thấy : cánh buồm nhẹ rong chơi bể Bắc, kìa ai lánh đục về trong.
Cuộc đời tàn, ngồi mát non Đông, nọ kẻ phù nghiêng đỡ lệch.
Thong thả một năm mười hai tháng, gặp thời bình trị được làm người. Rong
chơi ba vạn sáu nghìn ngày, tới cõi trường sinh càng dõi mạch.
Dù ai rằng thơ thẩn ngẩn ngơ. Thì ta cũng vu va vu vích”.
Có thể nhận thấy sự xác lập địa vị chủ đạo của Nho giáo đã tạo nên bước ngoặt
cho ý thức cá nhân biểu hiện ở tính tích cực lựa chọn xuất – xử, niềm kiêu hãnh
từ bỏ phàm tục, đối lập với kẻ khác, gắn mình với thanh cao, và ở điểm này ý
thức tự do nội tâm gắn liền với tư tưởng Phật, Lão – Trang. Nhưng nhìn chung
vẫn là ý thức cá nhân trong tinh thần siêu nghiệm.

Hài của Trang Tử. Bản thân chữ “chí quái” ở Trung Quốc cũng bắt đầu từ Trang
Tử. Về sau do Nho học suy vi, Đạo học, Huyền học, Phật học thịnh hành mà loại
văn học này xuất hiện rầm rộ từ thời Nguỵ Tấn.
viết trong−Nhưng các tác giả Việt Nam lại còn dựa vào truyền thống Việt Nam.
Kiều Phú (1447- ?) – có thuyết nói là Trần Thế Pháp (thế kỷ XIV) Cổ thuyết
tựa dẫn “Lĩnh Nam chích quái” : “Nhưng nay xét theo phong tục ở phương
Nam, cần phải nêu cao nền văn hiến rực rỡ của ta, một nền văn hiến được xây
dựng từ xưa, sáng như mặt trời, mặt trăng, giữa khoảng biển trời xứ nóng bao
la. Do đó không thể san định tuỳ tiện”.
Đồng thời người Việt có truyền thống tôn trọng tâm linh, không hoàn toàn duy
lý, vì duy lý triệt để cũng có bế tắc. Vũ Quỳnh trong bài Tựa thuyết nói : “ở đây
có những chuyện huyền hoặc, hay những câu nói quái lạ. Nhưng nếu cho đó là
không cũng vị tất đã là không, mà cho đó là có cũng vị tất đã là có. Có thể, nó
chỉ ở cái khoảng không không có có mà thôi, cho nên, sao lại không đáng chép
vào sách này ? [3]Ôi, gạt bỏ việc quái đản, để lọc ra cái thường tình, phép thánh
hiền vốn dạy như vậy. Nhưng loại truyện cầu cúng, ma quỷ, sách “âm chất”
cũng có chép. Còn như lấy lý ra mà bàn thì đến cả sử sách xưa truyền lại cũng
chưa hẳn đã đáng tin”
([4])
. Vậy là có ý thức không rập khuôn thánh hiền.
Tác giả các Lời bàn trong Truyền kỳ mạn lục cũng suy nghĩ như vậy : “Than ôi,
nói chuyện quái sợ loạn chuyện thường, cho nên thánh hiền không nói. Nhưng
việc Từ Thức lấy vợ tiên, cho là thực không ư ? Chưa hẳn là không ; cho là thực
có ư, chưa hẳn là có. Có, không lờ mờ, câu chuyện tựa hồ quái đản. Nhưng có
âm đức thì tất có dương báo, cũng là lẽ thường. Những bậc quân tử sau này khi
để mắt đến sẽ liệu mà thêm bớt, bỏ chỗ quái, mà để chỗ thường thì phỏng có gì
là hại ?”
([5])
. Như vậy ghi chuyện quái cũng không hẳn trái thánh hiền, vì “viễn
chi” cũng có nghĩa là “tồn chi” để xét sau vậy.

gỡ ngoài lễ giáo, hôn thú, thuần tuý cá nhân, những mối tư tình lấy hưởng thụ
làm mục đích, dĩ nhiên không được nhà nho chấp nhận về mặt đạo lý, song về
mặt tình cảm, lại được ngòi bút tác giả ưu ái miêu tả khá đẹp với những vần thơ
tình tứ đặc sắc. Những bài thơ của Nhị Khanh, của hai nàng Liễu, Đào tả những
cảm xúc ân ái thật táo bạo, hiếm có trong văn học thời ấy, và cũng khó xuất
hiện dưới dạng phi truyền kỳ. Nhân vật Hà Nhân bình luận : “Tình trạng trong
chốn buồng xuân tả đến như thế thì thật tuyệt diệu, lời hoa ý gấm khó lòng theo
kịp”. Cùng với Hà Ô Lôi trong Lĩnh Nam chích quái, một số truyện
trong Thánh Tông di thảo (thế kỷ XV) như Bài ký một giấc mộng, phần lời bàn
nói cái chổi lâu ngày hoá thành tinh quyến rũ con trai – có thể nói đây là lần
đầu tiên yếu tố tình dục được đưa vào văn học dưới dạng lưỡng tính, vừa phủ
định vừa khẳng định. Điều đặc biệt là tình yêu cá nhân tự do không gắn với giá
thú, nghĩa vụ, được khẳng định trong văn học dưới hình thái tội lỗi, cấm kỵ,
một thứ tội lỗi chỉ có ở loài yêu quái nhưng lại đáng yêu, khiến ta thích thú như
ăn một trái cấm ở đời. Mối tình đẹp đẽ của Nhuận Chi và Tuý Tiêu bị “lời bàn”
của sách lên án, mạt sát : Tuý Tiêu là một ả xướng ca, chẳng là người chính
chuyên, không hiểu Nhuận Chi ham luyến về cái gì ? Vì nàng hiền chăng ?
Nhưng hết làm vợ họ Trương lại làm hầu họ Lý. Vì nàng đẹp chăng ? Thì hết
làm mê Hạ Sái lại làm hoặc Dương Thành. Vậy mà lại khinh thường sự đi, sự
lại, nhẫn nhục tới ở với người, sờ đầu cọp, vuốt râu cọp, xuýt nữa thì không
thoát miệng cọp. Như chàng Nhuận Chi thật là một người ngu vậy”
([6])
. Với con
người cá nhân lúc này, người ta có thể lấy tình mà thương, mà tha, chứ chưa có
lý để khẳng định, bảo vệ. Hà Ô Lôi trước khi chết ngâm bài thơ :
Thác về thanh sắc nên là thác,
Chết việc ốm đau cơm gạo nào !
có thể coi là một lời tuyên bố về khát vọng cá nhân mà chưa có lý chứng giải !
Tóm lại, trong văn học giai đoạn thế kỷ XV đến XVII, con người cá nhân xuất
hiện dưới hai hình thái chính : hoặc là lìa bỏ công danh, lìa bỏ thị phi, khen


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status