Hình tượng con người công dân và con người cá nhân trong văn học Việt nam potx - Pdf 17

Hình tượng con người công dân và con người
cá nhân trong văn học Việt nam trung đại-phần2

Thứ tư, cảm hứng hành lạc và khát vọng nhu cầu trần thế của
con người cá nhân .

Cao hơn khát vọng tự do, khát vọng tự khẳng định vẻ đẹp hình
thể, trí tuệ của mình, văn học Việt Nam trung đại những năm cuối
thế kỷ XVIII đến hết TK XIX còn thể hiện cảm hứng hành. Tất cả
chuyện phòng the, chăn gối được Hồ Xuân Hương mở màn như
phát súng lệnh:

Bốn mảnh quần hồng bay phất phới
Hai hàng chân ngọc duỗi song song

Hay:

Hiền nhân quân tử ai là chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo

Đến Nguyễn Công Trứ, con người ngất ngưởng ấy tự trào khi
nằm cạnh cô đào trẻ về tuổi của mình rằng: Ngũ thập niên tiền
nhị thập tam, và cũng đã không ít lần ông “tương tư”, ông “bỡn
đào già”, “bỡn vợ lẽ”, …

Đây, một đoạn trong bài thơ Lời tiểu thiếp tự tình

Chốn cô phòng nănn nỉ với cầm chi
Đường viễn hoạch ngxo hầu tình chăng nhẽ?
Sau ông, Tú Xương không ngại ngần thể hiện:
Một trà một rượu một đàn bà

trong Nam triều công nghiệp chí của Nguyễn Khoa Chiêm, hình
tượng người nông dân nghĩa sĩ trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
của Nguyễn Đình Chiểu, … Song tần số xuất hiện ít hơn so với
hình tượng con người cá nhân.

Nói khác đi, ở những thể loại văn học nghệ thuật (chúng tôi phân
biệt văn h Việt Nam trung đại xét về chức năng có thể loại chính:
văn học hành chức (cáo chiếu, hịch, biểu, thư, luận, thuyết, …) và
văn học mang tính hình tượng (phú, thơ Đường luật, truyện thơ
lục bát, ngâm khúc, hát nói, …), hình tượng con người cá nhân
thể hiện rõ nét hơn.

Tuy nhiên, ta không thể và cũng không cần phân biệt rạch ròi
giữa hai hình tượng con người công dân và con người cá nhân
trong cùng một … con người! Bởi nó luôn luôn tồn tại những hai
mặt của cuộc sống. Sự ảnh hưởng qua lại này, thấy rõ ở quan
niệm xuất – xử của các tác gia Nho sĩ mà chúng tôi đề cập ở
phần loại hình tác gia, phía sau .

Thể loại thơ Đường luật sự vận động từ con người công dân đến
con người cá nhân rõ nét hơn. Ta dễ dàng nhận thấy hình tượng
của những nhân vật trữ tình nguyện một lòng vì dân vì nước (con
người công dân) như trong Quốc tộ (Đỗ Pháp Thuận), Thuật hoài
(Phạm Ngũ Lão), Tụng giá hoàn kinh sư (Trần Quang Khải), Cảm
hoài (Đặng Dung), … đến những bài thơ thất ngôn xen lục ngôn
trong tập Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi), …

Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lí thái bình
Vô vi cư điện các

Sớm gõ thuyền chừ Nguyên, Tương
Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt
Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt
….
Học Tử Trường chừ thú tiêu dao
Qua cửa Đại Than, ngược bến Đông Triều
Đến sông Bạch Đằng, thuyền bơi một chiều, …

Đại từ nhân xưng cũng mang tính ước lệ: ta, khanh, thiên tử, bề
tôi, … được dùng phổ biến.

Thứ hai, hình tượng con người cá nhân gắn liền với lớp từ thuần
Nôm, dân gian, từ láy, từ tự xưng, thậm chí cả những câu chửi,
tiếng gào, …

Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như
(Độc Tiểu Thanh ký – Nguyễn Du)

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Nửa đắp chăn bông nửa lạnh lùng
(Làm lẽ - Hồ Xuân Hương)

Vũ trụ nội mạc phi phận sự
Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng
(Bài ca ngất ngưởng – Nguyễn Công Trứ)

Đù mẹ nhân tình đù mẹ đời
Lạt như nước ốc, bạc như vôi
(Thói đời – Nguyễn Công Trứ)

Tao ở nhà tao tao nhớ mi
Nhớ mi tao mới bước chân đi
(Bỡn nhân tình)

Nguyễn Khuyến có khi dùng hàng loạt những hư từ để đưa vào
thể thơ được cho là niêm luật phải chặt chẽ nhất: thơ Đường luật:

Cũng cờ cũng biển cũng cân đai
Cũng gọi ông nghè có kém ai

Một Tú Xương chửi đổng:

Đù cha đù mẹ cái dát giường
Đêm nằm chỉ thấy những đau thương
Đến mai mua nứa ông mần lại
Đù mẹ đù cha cái dát giường
(Chửi dát giường)

Chúng tôi cho rằng đó là sự manh nha của câu thơ điệu nói, điều
đặc biệt quan trọng làm nên sự thành công vang dội của phong
trao thơ mới ở thập niên 30 – 40 của thế kỷ XX.

3. Những nét đặc thù trong cảm thức và việc ảnh hưởng của
nó đối với việc xây dựng hình tượng con người công dân,
con người nhân trong văn học Việt Nam trung đại

3.1. Những tiền đề xã hội ảnh hưởng đến việc xây dựng hình
tượng con người công dân trong văn học Việt Nam trung đại

3.1.1. Cơ sở lịch sử xã hội

phân chia, quy định cụ thể, chặt chẽ về vị trí, quyền lợi của các
tầng lớp, đẳng cấp tạo nên một trật tự bất di, bất dịch, cha truyền
con nối, đòi hỏi mỗi thành viên trong cộng đồng phải tuyệt đối
tuân thủ, trẻ phải kính trọng già, người ở đẳng cấp thấp phải phục
tùng người ở đẳng cấp cao.

3.1.1.3. Sự phục tùng tuyệt đối trật tự xã hội dẫn đến việc đặc
biệt đề cao chữ “LỄ” trong cách ứng xử, quan hệ ở mọi môi
trường sống, từ gia đình, trường học, đến xã hội, quốc gia. Điều
này được Khổng Tử nhắc đến như một nguyên tắc, một tiêu
chuẩn hàng đầu để đánh giá nhân cách con người: Khắc kỷ phục
lễ vi nhân.

3.1.1.4. Lễ trong mọi cách ứng xử, quan hệ được thể hiện cụ thể
bằng một hệ thống vô cùng phong phú và phức tạp những quy
ước, những ký hiệu mang tính chất tượng trưng, ước lệ, từ
những chi tiết nhỏ nhặt như cách ăn mặc, nói năng, giao tiếp,
màu sắc trang phục, đến cái lớn lao như các biểu hiện quyền lực,
nghi thức cúng tế, thiết triều, … với cộng đồng, ít có ý thức về cá
tính, nói tiếng nói chung của cộng đồng, phục vụ mọi quy định
của cộng đồng.

3.1.2. Cơ sở văn hoá, văn học

Thứ nhất, tam giáo đồng nguyên (Nho, Phật, Lão) với tất cả
những gì ưu tú nhất của nó đã được người Việt Nam tiếp nhận.
Cùng với những sáng tạo và tiếp biến tư tưởng của Phật giáo,
Nho giáo, Lão giáo đã trở thành một phần của bản sắc văn học
Đại Việt.


và những cuộc xung đột triền miên giữa các tập đoàn phong kiến
nhà Lê. Quốc gia phong kiến bước vào một cuộc khủng hoảng
nghiêm trọng và kéo dài.

Ba mươi năm (1497 - 1527), có đến sáu hoàng đế nhà Lê thay
nhau ở ngôi. Không có ai để lại dấu ấn gì trên vũ đài chính trị, có
chăng là một Lê Uy Mục nghiện rượu, hiếu sát, hoang dâm, thích
ra oai, người đương thời gọi đó là Vua Quỷ [Đại Việt sử ký toàn
thư, Bản kỉ thực lục, kỉ nhà Lê, quyển 14, tờ 39-a], hay Lê Tương
Dực chơi bời vô độ, xây dựng liên miên, dân nghèo mất cơ
nghiệp, trộm cướp nổi lên, nguy cơ bị diệt vong bắt đầu ở đây
[Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỉ thực lục, kỉ nhà Lê, quyển 15, tờ
1-a], sự khủng hoảng trầm trọng trong cung đình và hiện tượng
xung đột diễn ra gay gắt (nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân do
Lê Hy, Trịnh Hưng và Lê Minh Triệt lãnh đạo ở Nghệ An, năm
1512; khởi nghĩa của Trần Công Ninh ở Yên Lãng - Vĩnh Phúc,
năm 1516, …) đã đẩy nhà Lê lao nhanh xuống vực thẳm của sự
diệt vong.

Năm 1527, Mạc Đăng Dung tiếm ngôi, lập nên nhà Mạc. Nhưng
rồi nhà Mạc cũng có những hạn chế nhất định trong công cuộc
chấn hưng lại đất nước.

Từ đây bắt đầu cuộc tranh giành Lê - Mạc (Đàng Trong và Đàng
Ngoài). Sau khi lên ngôi, Mạc Đăng Dung không thu phục được
lòng người, nhiều bậc nho sĩ tài năng hoặc bỏ đi ở ẩn, hoặc lẩn
tránh tìm phò nhà Lê. Năm 1533, Nguyễn Kim tôn Lê Ninh xưng
là Lê Chiêu Tông ở Thanh Hóa (Nam triều). Cuộc chiến tranh Lê -
Mạc diễn ra [sử cũ còn gọi đây là cuộc chiến tranh Nam - Bắc
triều]. 60 năm (1533 - 1592), hai bên huy động mọi lực lượng

một vùng đất rộng lớn ở Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Cạn, Phú Thọ,
…; Nguyễn Hữu Cầu (1741 - 1751) nối chí lớn của lãnh tụ
Nguyễn Cừ gây chấn động dữ dội khắp vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Ngoài ra còn có các cuộc khởi nghĩa lớn khác của Hoàng Công
Chất (1739 - 1769), Lê Duy Mật (1738 - 1770). Đỉnh cao là cuộc
khởi nghĩa của ba anh em nhà Tây Sơn (1771 - 1802). Hơn một
thế kỷ thanh gươm yên ngựa, anh em nhà Nguyễn Tây Sơn mà
tiêu biểu là vị anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đã ghi những dấu ấn
đậm nét trong lịch sử dân tộc. Năm 1785, Nguyễn Huệ chỉ huy
đội chiến thuyền phá tan tành hơn 5 vạn quân Xiêm tại Rạch
Gầm - Xoài Mút. Năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc diệt Trịnh phò
Lê, cưới công chúa Ngọc Hân (con vua Lê Hiển Tông). Năm
1789, Nguyễn Huệ xưng hoàng đế rồi kéo quân ra Bắc phá tan
tành 29 vạn quân Thanh xâm lược bằng trận Ngọc Hồi - Đống Đa
lịch sử.

Phong trào nông dân đã liên tục nổ ra như bão táp. Một mặt nó
làm lay động đến tận gốc rễ nền thống trị vốn đã mục nát của
triều đình nhà Lê, góp phần đẩy nhanh triều đại này tới chỗ diệt
vong. Nhưng mặt khác, nó cũng góp phần làm thức tỉnh ở người
dân ý thức, dân chủ, tự do, tinh thần đấu tranh vì công bằng xã
hội, đồng thời cũng làm cho họ ngày càng hiểu rõ hơn về vai trò
và sứ mạng của mình trước lịch sử.

Sau khi Quang Trung Nguyễn Huệ đột ngột qua đời, triều đình
Tây Sơn lại lục đục mâu thuẫn. Điều kiện đó đã tạo cơ hội cho
Nguyễn Ánh nhanh chóng giành lại quyền cai trị đất nước. Năm
1802, Nguyễn Ánh lên ngôi, đặt quốc hiệu Việt Nam, lãnh thổ
nước ta thống nhất hoàn toàn và có hình dạng cơ bản giống như
ngày nay. Do sự bảo thủ, bế quan toả cảng nghiêm ngặt, năm

vấn đề rất đáng lưu ý: một là họ bị phân chia thành hai khối, hai
phe đối nghịch nhau, hoặc là theo Nam triều (triều Lê) hoặc là
theo Bắc triều (triều Mạc). Họ cùng học chung sách vở, nghe
giảng chung một đạo lý, nhưng lại hiển đạt ở hai nơi và đứng trên
hai chiến tuyến. Họ thường công kích nhau. Nhưng dù theo Lê
hay Mạc thì Nho gia vẫn cứ là Nho gia, họ cũng có nhiều điểm
tương đồng trong nhận thức. Hai là: đối với lực lượng Nho sĩ lập
danh chốn quan trường này là bản thân sự liên giữa họ với nhau
cũng rất lỏng lẻo. Sống giữa thời loạn, việc thiếu niềm tin cậy lẫn
nhau cũng là điều bình thường. Và chính điều bình thường này
đã góp phần làm cho thời loạn càng thêm loạn.

Xu hướng thứ hai của lực lượng Nho sĩ sau sự kiện năm 1527 là
lánh mình ẩn dật (tức là xử sĩ). Thực ra, rất ít ai vừa đỗ đạt xong
lại chịu xa lánh quan trường. Lực lượng xử sĩ trong giai đoạn này
gồm hai bộ phận chính: một là những người thật sự uyên thâm,
đa văn quảng kiến nhưng không chịu đi thi. Số này không nhiều
và trong thực tế, ảnh hưởng xã hội của họ cũng không rộng lắm.
Hai là những người từng đỗ đạt, từng được bổ nhiệm làm quan
nhưng chỉ trong một thời gian ngắn thì buồn nản, trao trả chức
tước cho triều đình rồi trở về. Số này đông hơn và ảnh hưởng
của họ đối với xã hội cũng rộng lớn hơn.

Nho giáo suy thoái, Phật giáo lại có cơ hội phát triển. Từ đầu TK
XV, ngay sau khi rút khỏi vũ đài chính trị và tư tưởng (nhường
chỗ cho Nho giáo), Phật giáo đã tìm cách phát triển và củng cố vị
trí của mình trong lòng xã hội. Từ TK XVI trở đi, ở Đàng Ngoài,
chùa chiền được trùng tu và xây dựng liên tiếp, người xuất gia tu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status