Thể trường ca trong văn học Việt Nam từ 1945 đến cuối thế kỷ XX - Pdf 12


1
mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
Là một trong những thể loại văn học hình thành và phát
triển từ buổi bình minh của lịch sử loài ngời, trờng ca có một
vị trí quan trọng trong nền văn học của mỗi dân tộc. Sự phát
triển của trờng ca trong văn học Việt Nam từ 1945 đến cuối
thế kỷ XX, nhất là từ sau 1975 cho thấy sức sống bền bỉ, mãnh
liệt của thể loại này. Theo thời gian, quan niệm về trờng ca
không ngừng thay đổi. ý kiến của các nhà nghiên cứu xung
quanh việc xác định nội hàm khái niệm và những đặc trng cơ
bản của trờng ca đến nay vẫn cha nhất quán. Bởi thế, việc
nghiên cứu trờng ca trong văn học Việt Nam hiện đại nh một
thể độc lập là cần thiết và có ý nghĩa.
2. Lịch sử vấn đề
Trên thế giới, thể loại trờng ca từ lâu đã thu hút sự chú
ý của các nhà nghiên cứu, lí luận, phê bình. Hê ghen coi trờng
ca sử thi là quyển thánh kinh của một dân tộc, mọi dân tộc
lớn và quan trọng đều có, còn Biêlinxki thì cho rằng trờng ca
chỉ chớp lấy những yếu tố mang chất thơ, chất lý tởng của
cuộc sống mà nội dung là những chiêm nghiệm sâu sắc nhất về
thế giới và những vấn đề cao sâu nhất của nhân loại hiện đại.
Nhiều nhà nghiên cứu khác nh T.Tatxô, M.Bakhtin,
A.Xôcôlôv khi bàn về thơ sử thi và anh hùng ca cũng nhấn
mạnh những đặc điểm quan trọng của trờng ca. Tuy nhiên, hầu
hết các nhà nghiên cứu đều chỉ chú ý tới phơng diện nội dung,
tới khả năng dung hợp, bao chứa của thể loại, mà cha quan
tâm nhiều tới việc tìm hiểu những đặc sắc về hình thức nghệ

2

trờng ca cụ thể: chủ đề, kết cấu hay hình tợng nhân vật, ngôn
ngữ, v.v.
Tác giả luận án phân tích và tổng kết những ý kiến về
trờng ca của các nhà nghiên cứu Hoài Thanh, Lại Nguyên Ân,
Hồng Diệu, Trần Ngọc Vơng, Từ Sơn, Hoàng Ngọc Hiến, Mã
Giang Lân, v.v; của các nhà thơ Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh,
Anh Ngọc, Nguyễn Đức Mậu, Xuân Diệu, v.vTiếp thu, kế
thừa có chọn lọc và nâng cao những ý kiến, luận điểm đã đợc
đa ra, trong luận án này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu một
cách có hệ thống các vấn đề cơ bản của thể trờng ca trong văn
học Việt Nam hiện đại.
3. Giới hạn nghiên cứu
Trong luận án, chúng tôi nghiên cứu, tìm hiểu trờng ca
từ 1945 đến cuối thế kỷ XX thông qua các tác phẩm tiêu biểu.
Các yếu tố, phơng diện khác nhau nh: sự hình thành và phát
triển, phơng thức tiếp cận và khả năng phản ánh hiện thực đời
sống, nghệ thuật đều đợc phân tích, nhằm làm nổi bật đặc
trng cơ bản, đồng thời chỉ ra những đóng góp cũng nh những
hạn chế của trờng ca trong văn học Việt Nam hiện đại.
4. Phơng pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng kết hợp, đan xen nhiều phơng pháp
nghiên cứu: phơng pháp tiếp cận lịch sử; phân tích và tổng
hợp; thống kê, so sánh và hệ thống
5. Đóng góp của luận án
- Luận án đề xuất một số ý kiến riêng về khái niệm
trờng ca; nhận diện trờng ca trong t cách là một thể văn học

4
riêng biệt ở các phơng diện: phơng thức tiếp cận, nội dung
phản ánh và hình thức nghệ thuật.

hệ thống thể loại thơ Việt Nam), khái quát ý kiến của các nhà
nghiên cứu và các tác giả trờng ca, chia tách thành bốn nhóm
nh sau: Một là, các tác phẩm dài hơi đơng thời nên gọi là
truyện thơ, khái niệm trờng ca chỉ là khái niệm vay mợn của
châu Âu. Hai là, trờng ca trong văn học Việt Nam chỉ có ý
nghĩa mỹ học đầy đủ nhất với cái tên là trờng ca sử thi hiện
đại. Ba là, trờng ca vẫn có thể là ca khúc anh hùng đợc tiếp
tục trong giai đoạn mới của lịch sử văn học. Bốn là, trờng ca là
một hiện tợng giao thoa giữa trữ tình và tự sự của các thể
loại. Nét đặc biệt của trờng ca là cái tôi của nhà thơ chủ động
tham gia tích cực vào kết cấu tác phẩm dới hình thức nhân vật
trung tâm và nhân vật hành động.
Từ ý kiến của các nhà nghiên cứu, phê bình, của các tác
giả trờng ca, qua khảo sát các trờng ca tiêu biểu, tác giả luận
án đa ra quan niệm về trờng ca trong văn học Việt Nam hiện
đại nh sau: Tr
ờng ca thờng là các tác phẩm trữ tình có
dung lợng lớn hoặc vừa, có khả năng tổng hợp và phát huy
những u thế nổi trội của cả ba loại hình: trữ tình, tự sự và

6
kịch. Với nhiều kiểu kết cấu và phát triển theo hớng đan xen
nhiều kiểu kết cấu hoặc kết cấu phức hợp, trờng ca có thể bao
quát và miêu tả những mảng hiện thực lớn ở cả bề rộng lẫn
chiều sâu. Ngôn ngữ, giọng điệu trờng ca phong phú, đa dạng,
giàu chất trí tuệ, vừa mang âm hởng hào hùng sử thi vừa thấm
đẫm hơi thở của cuộc sống.
1.2. Sự hình thành thể loại trờng ca trong văn học
Việt Nam hiện đại
Luận án điểm qua những tiền đề lịch sử, xã hội, văn hoá

Từ 1965 - 1985: Trờng ca phát triển mạnh mẽ, trở thành
hiện tợng văn học đáng chú ý. Có thể chia chặng này thành hai
giai đoạn: các trờng ca viết trong chiến tranh và các trờng ca
viết sau chiến tranh.
Những trờng ca viết trong chiến tranh, do cha có độ lùi
về thời gian để tổng kết, chiêm nghiệm nên hiện thực đợc phản
ánh thờng bề bộn, ít chọn lọc, chủ yếu liệt kê sự kiện và có
tính chất phác thảo, cha có độ sâu và sự lắng đọng cần thiết.
Cũng do viết vội nên không tránh khỏi những thiếu sót đáng
tiếc về nội dung và nghệ thuật. Tuy nhiên, do phản ánh hiện
thực một cách trực tiếp, các trờng ca viết trong chiến tranh
thờng là bức vẽ hoành tráng, có sức thuyết phục về tính chân
thực và sự sống động.
Với các trờng ca viết sau chiến tranh, các nhà thơ đã tích
tụ đủ những điều kiện cần thiết để nhận thức rõ về bản thân
mình, về nhân dân và dân tộc, về niềm vui chiến thắng và cả
những mất mát đau thơng. Bởi thế, phạm vi hiện thực trong
trờng ca đợc mở ra với chiều sâu suy ngẫm triết luận, chiều

8
dài thời gian và chiều rộng của không gian. Đội ngũ nhà thơ trẻ
vốn đã trởng thành trong chiến tranh, giờ đây có thời gian nhìn
lại, chiêm nghiệm và tổng kết những kinh nghiệm nghề nghiệp,
vốn sống để viết những trờng ca có quy mô hơn, với dung
lợng lớn và đạt đến độ chín về nghệ thuật.
Từ 1985 - 2000: Chặng đờng này gắn liền với những
đổi mới của đất nớc. Đội ngũ tác giả viết trờng ca đợc bổ
sung, tuy không nhiều. Số lợng tác phẩm trờng ca tha thớt
hơn trớc, song không phải là không có những trờng ca hay.
Nội dung phản ánh của trờng ca đã mở rộng, phong phú và đa

Trờng ca từ 1945 đến cuối thế kỷ XX, càng về sau,
càng thể hiện khả năng khái quát, tổng hợp và sức mạnh biểu
đạt của nhiều thể loại văn học (thơ, truyện, ), nhiều loại hình
nghệ thuật (văn học, âm nhạc, hội hoạ), và với các phơng
thức thể hiện đa dạng, phong phú: trữ tình, tự sự và kịch. Cảm
hứng trữ tình - sử thi của trờng ca cổ hoà lẫn và phát triển
trong nguồn mạch chung của văn học Việt Nam thời hiện đại.
Phát huy thế mạnh nghệ thuật của thể loại, trờng ca thời kỳ
này tiếp cận hiện thực đời sống từ cái tôi sử thi và cái tôi thế sự,
kết hợp phơng thức tiếp cận của cả ba loại hình trữ tình, tự sự
và kịch.
2.1.1. Trải qua từng chặng đờng, cái tôi sử thi trong
trờng ca cũng từng bớc phát triển. Trong các trờng ca đầu
tiên của nền thơ ca cách mạng, cái tôi nhà thơ nhập vào cái ta
chung của toàn xã hội, trở thành cái tôi trữ tình công dân.
Những năm sáu mơi, bảy mơi, trớc những thay đổi, chuyển
biến lớn lao của thời đại, thơ mở rộng biên độ, chiếm lĩnh
những mảnh đất còn trống và trờng ca nở rộ, nó tìm lại nguồn

10
mạch sử thi không chỉ ở phơng diện nội dung, tầm vóc hiện
thực mà ở cả những thủ pháp nghệ thuật, phơng thức tái hiện
lịch sử. Cái tôi sử thi bên cạnh việc khẳng định dấu ấn cá nhân,
vẫn đồng thời phản ánh tâm trạng, vóc dáng của cả một thế hệ.
Sau 1975, cái tôi sử thi trong trờng ca vận động âm thầm mà
quyết liệt, đạt tới cấu trúc mới, tầm vóc mới. Cái tôi sử thi, có
khoảng cách, lắng xuống với cái nhìn trầm tĩnh, khách quan.
Bên cạnh chất lãng mạn cách mạng, trờng ca có thêm sắc thái
bi tráng. Các tác giả trờng ca nhìn chiến tranh với cái nhìn đa
chiều, đa diện hơn. Vẫn là cái tôi sử thi, cái tôi thế hệ, song chủ

v.v ) dấu ấn của kịch, tính kịch khá rõ, đó là khi mâu thuẫn
giữa các tuyến nhân vật đối lập đợc đẩy lên đến đỉnh điểm, có
thắt nút và mở nút Tuy nhiên, trữ tình và tự sự là hai phơng
thức chủ yếu đợc các tác giả sử dụng khi sáng tác trờng ca.
Nghiên cứu sự kết hợp trữ tình, tự sự và kịch trong trờng ca,
chúng tôi chú ý các điểm sau: Tự sự và tính khách quan trong
việc biểu hiện cảm xúc; tự sự là nền tảng của cảm xúc. Tự sự
gắn với trữ tình song xu hớng chung của trờng ca sau 1975 là
trữ tình lấn át tự sự. Khi cốt truyện không còn nữa, trờng ca
đợc thống nhất trên cơ sở nguyên tắc trữ tình. Trờng ca, càng
về sau càng đợc tăng cờng chất trí tuệ, chính luận. Chất triết
lý - chính luận trong trờng ca không chỉ thể hiện ở nội dung t
tởng mà còn thể hiện ở nhan đề và cách tổ chức cấu trúc tác
phẩm.
2.2. Khả năng phản ánh hiện thực đời sống
2.2.1. Trờng ca trong văn học Việt Nam hiện đại có
khả năng phản ánh hiện thực rộng lớn, hoành tráng. Nếu ở các
trờng ca viết trong chiến tranh (và ngay sau chiến tranh),
không gian chiến tranh thờng đợc mở rộng để bao quát cho
đợc cái hiện thực đau thơng và kiêu hãnh của một dân tộc

12
anh hùng, thì gánh nặng mu sinh của những ngời lính, ngời
mẹ, ngời vợ, ngời em, những ngời đã vắt kiệt sức lực và tuổi
thanh xuân cho cuộc chiến, đã trở thành tâm điểm phản ánh của
các trờng ca viết trong thời bình. Cùng với thơ ca, trờng ca đã
góp phần làm nổi bật những mảng màu tối sáng trong bức tranh
toàn cảnh đất nớc ở từng giai đoạn cụ thể.
2.2.2. Trờng ca miêu tả thế giới nhân vật phong
phú, đa dạng.

đang chiến đấu nơi tiền tuyến. Họ là biểu tợng của sự nhẫn
nại, đức hy sinh và nghị lực phi thờng. Trong trờng ca của
Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Trần Anh Thái, v.v hình ảnh ngòi
mẹ, ngời vợ đã đợc các tác giả huyền thoại hoá, khắc tạc
vào dáng hình đất nớc.
Chơng 3
Nghệ thuật trờng ca trong văn học Việt Nam
từ 1945 đến cuối thế kỷ XX
3.1. Kết cấu
3.1.1. Khái niệm
Từ ý kiến bàn về kết cấu, vai trò và mối quan hệ của kết
cấu trong quan hệ với các thành tố khác của một số nhà nghiên
cứu, lý luận trong, ngoài nớc và của bản thân các tác giả; luận
án đa ra cắt nghĩa riêng của mình về kết cấu nh sau: Kết cấu
hiểu một cách giản dị là cách tổ chức, sắp xếp các yếu tố
bên trong tác phẩm (bao gồm t tởng, hình tợng, giọng điệu,
ngôn từ) trong một chỉnh thể nhất quán. Khái niệm kết cấu,
đơng nhiên rộng hơn khái niệm bố cục, bởi cùng nằm trong ý
đồ nghệ thuật của tác giả, song bố cục nghiêng về các thao tác
sắp xếp thuần tuý mang tính kĩ thuật, cơ học, còn kết cấu đợc
hiểu nh là một kiểu mô hình tổ chức t duy mang dấu ấn sáng
tạo riêng của nhà văn. Sáng tác của các nhà văn lớn thờng có

14
một kiểu kết cấu riêng ổn định, góp phần tạo nên phong cách
của họ. Việc xây dựng kết cấu tác phẩm còn bị chi phối bởi tính
đặc thù của các trào lu, xu hớng văn nghệ (kiểu kết cấu vòng
tròn, kết cấu tuần hoàn trong sáng tác của các nhà văn hiện thực
phê phán giai đoạn 1930 1945; kết cấu tơng phản, đối lập
trong các tác phẩm văn học yêu nớc cách mạng). Căn cứ

quen thuộc trong các trờng ca cổ hoặc các tiểu thuyết chơng
hồi, các truyện thơ. Tiêu biểu cho kiểu kết cấu này là các
trờng ca viết về các lãnh tụ, các nhân vật anh hùng đã đi vào
lịch sử, các trờng ca có tính chất tổng kết quá trình phát triển
của một dân tộc, một giai đoạn đấu tranh cách mạng. Có thể kể
tên một số tác phẩm nh: Lý Thờng Kiệt của Phạm Vũ Toản,
Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo của Phùng Quán, trờng ca Bác
của Lê Đạt, Nguyễn Văn Trỗi của Lê Anh Xuân, Theo chân Bác
của Tố Hữu, Việt Nam anh hùng sử ca của Hà Thanh Đẩu, Từ đêm
19 của Khơng Hữu Dụng, Bài ca đại thắng của Trần Cẩn và một
số trờng ca khác.
Kiểu kết cấu này chi phối việc triển khai nội
dung trờng ca. Trình tự thời gian xảy ra các sự kiện, hành
động và số phận của nhân vật chính đóng vai trò quyết định
diễn biến phát triển của cốt truyện và tơng ứng với nó là việc
lựa chọn các phơng thức, phơng tiện biểu hiện, các giọng
điệu khác nhau.
Kiểu kết cấu mạch ngầm: Kết cấu mạch ngầm cho
phép tác giả mở rộng tối đa phạm vi trình bày những cảm nhận,
suy ngẫm chủ quan của mình về các vấn đề cốt lõi của hiện
thực mà vẫn không cản trở việc miêu tả các sự kiện, hiện tợng
khách quan. Trong kết cấu mạch ngầm, vận động của mạch suy
ngẫm, liên tởng của nhân vật trữ tình liên quan trực tiếp tới sự
phát triển của cốt truyện, là vận động của cốt truyện. Tác giả -
chủ thể trữ tình có thể kể, tả, bày tỏ cảm xúc trực tiếp hay hoá

16
thân vào nhân vật, song vẫn là sự miêu tả, thể hiện bằng cái
nhìn xuyên suốt, nhất quán của một ngời trong cuộc. Đa số
trờng ca trong văn học Việt Nam hiện đại đều viết theo kiểu

khứ và suy ngẫm về tơng lai của chủ thể hoặc nhân vật trữ tình
(Khối vuông Rubích của Thanh Thảo, Trầm tích của Hoàng
Trần Cơng, Trờng ca Biển của Hữu Thỉnh hay Đổ bóng
xuống mặt trời của Trần Anh Thái). Sử dụng kiểu kết cấu
phức hợp đòi hỏi các nhà thơ một bản lĩnh và trình độ nghệ
thuật vững vàng trong việc tổ chức, sắp xếp, xâu chuỗi các khối
sự kiện và cảm xúc, tránh để tác phẩm rơi vào tình trạng ôm
đồm, rời rạc, tản mạn.
Nhìn chung, mấy chục năm qua, đặc biệt, từ sau năm
1975, có thể thấy rất rõ xu hớng sử dụng đa dạng nhiều kiểu
kết cấu trong một trờng ca. Đây là hệ quả tất yếu của việc mở
rộng các yếu tố tự sự, kịch trong kết cấu thơ trữ tình, đồng thời
cũng là kết quả của sự nỗ lực tìm tòi, khám phá những hình
thức, những phơng tiện biểu đạt mới của các tác giả. Kết cấu
phức hợp, nhiều bè mảng, nhiều lớp lang đợc phối hợp chặt
chẽ đã tạo nên u thế nổi trội của nó so với nhiều kiểu kết cấu
tác phẩm thơ ca thông thờng khác và trở thành xu thế chung
của trờng ca giai đoạn gần đây.
3.2. Kết hợp, đan xen nhiểu thể thơ
Việc sử dụng đan xen và có hiệu quả các thể thơ khác
nhau trong một trờng ca là mối quan tâm hàng đầu của các
tác giả. Với dung lợng lớn, bao chứa nhiều tình tiết, sự kiện và
trạng thái cảm xúc phức tạp, có lẽ trờng ca không thích hợp
với lối chạy suốt bằng một thể thơ đơn điệu. Hiện thực trong
trờng ca càng mở rộng, hệ thống nhân vật càng đa dạng, cảm
xúc càng phong phú , trờng ca càng cần sự phối hợp của
nhiều thể thơ, nhiều thủ pháp nghệ thuật. Trong đó, thơ tự do

18
vẫn giữ vị trí chủ đạo và đợc sử dụng đan xen với các thể thơ

cấu thành ngôn ngữ trờng ca); có ngôn ngữ tự sự giàu chất thơ;
có ngôn ngữ mang tính triết lý, suy ngẫm. Sự phong phú của
ngôn ngữ trờng ca phản ánh sự phong phú, sâu sắc, tài hoa
trong trí tuệ và tâm hồn của các nhà thơ. Tâm hồn của họ, khả
năng ngôn từ của họ đã đợc thanh lọc, chắt lọc, bổ sung, trở
nên giàu có và hoàn thiện hơn qua trờng ca.
Đối thoại trong trờng ca không phổ biến nh trong
kịch và văn xuôi, nhng không xa lạ, bởi: Thơ, đó chính là
cuộc đối thoại của nhà thơ với thời đại mình (M.Hernandes).
Có đối thoại trực tiếp và đối thoại trong tởng tợng. Hình thức
đối thoại trực tiếp trong trờng ca không nhiều (cuộc đối thoại
của biển và ngời lính trong Trờng ca Biển của Hữu Thỉnh,
của B52 và ngọn cỏ trong Mặt trời trong lòng đất của Trần
Mạnh Hảo, của những quả bom rình nổ và đàn bê, trẻ tìm bê
trong Con đờng của những vì sao của Nguyễn Trọng Tạo),
song mang tính biểu trng sâu sắc. Trong đối thoại tởng tợng,
nhà thơ hoá thân thành nhân vật khác để đối thoại với chính
mình hoặc tạo ra một cuộc đối thoại giả tởng, trong đó các
nhân vật đối thoại, tranh luận về các vấn đề chính yếu đợc
triển khai trong tác phẩm. Phạm vi đối thoại của các nhân vật
trong trờng ca khá đa dạng: đối thoại với thời đại, với thế hệ,
với nhân dân
Độc thoại của những ngời lính trong trờng ca, đó là
độc thoại của máu. Độc thoại nội tâm trong trờng ca cũng
thể hiện khát vọng và hành trình tìm kiếm, khám phá của các
nhà thơ. Độc thoại nội tâm trong thơ ca nói chung và trờng ca
nói riêng tác động sâu sắc đến hệ thống ngôn từ và giọng điệu
của tác phẩm. Tuy nhiên, ở trờng ca, giọng điệu tâm tình thủ
thỉ (vốn phù hợp với việc diễn tả những xúc động riêng t) dần



21
sự kiện, sự việc. Nhờ sử dụng các biện pháp tu từ, sức biểu hiện
của ngôn ngữ trờng ca đã tăng lên đáng kể.
3.5. Giọng điệu
Chịu sự qui định của đặc trng thể loại, xu hớng bao
quát mọi mặt khách thể và đặc biệt, những cảm hứng lớn của
thời đại, nên giọng điệu trong trờng ca Việt Nam từ 1945 đến
cuối thế kỷ XX khá phong phú, đa dạng. Mang tính khách thể
của yếu tố tự sự, tính chủ quan của chủ thể trữ tình, giọng điệu
trờng ca vừa mang bản sắc riêng của nhà thơ và thế hệ cùng
thời, vừa mang âm hởng của thời đại. Trờng ca thực sự là
một bản hợp xớng nhiều bè, đệm, một tổ hợp cảm xúc
và giọng điệu đa cung bậc. Sự đa giọng điệu này vừa là đặc thù
của trờng ca, vừa là kết quả của sự mở rộng và chiếm lĩnh hiện
thực ở mọi chiều kích của các nhà thơ hiện đại. Trong luận án,
chúng tôi trình bày kỹ hơn về một số giọng điệu cơ bản (chủ
yếu là về sắc thái cảm xúc): giọng điệu sử thi, giọng trầm lắng
xót xa, giọng căm giận uất ức, giọng triết lí với nhiều suy ngẫm
u t
kết luận
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đã trình bày trong các
chơng của luận án, chúng tôi rút ra những kết luận khái quát
sau đây:
1. Về đặc trng thể trờng ca trong văn học Việt Nam
hiện đại
Cũng nh nhiều thể loại văn học khác, sự vận động
riêng của trờng ca đã giúp nó ngày càng mở rộng phạm vi bao
quát các vấn đề lớn của đời sống xã hội và con ngời. Quan


23
rộng lớn, hoành tráng, với thế giới nhân vật phong phú, đa
dạng, trong đó hai hình tợng tiêu biểu nhất là ngời chiến sỹ
cách mạng và ngời phụ nữ. Xuyên suốt trờng ca trong t cách
là các nhân vật trung tâm, họ đã trở thành biểu tợng cao đẹp
cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, cho ý chí, sức
mạnh và tinh thần thời đại.
3. Về nghệ thuật
Chịu sự chi phối của đặc trng thể loại, kết cấu tác
phẩm trờng ca trong văn học Việt Nam hiện đại đợc tổ chức
phù hợp, tơng thích với khả năng dung hợp và khái quát hiện
thực của nó. Kết cấu trờng ca khá phong phú: kết cấu theo
trình tự thời gian, kết cấu mạch ngầm, kết cấu đối lập, kết cấu
phức hợp v.v Nhìn chung, sự phong phú, đa dạng của các kiểu
kết cấu trong tác phẩm trờng ca vừa phản ánh đợc sự vận
động, phát triển nội tại của bản thân thể loại, đồng thời thể hiện
sự sáng tạo, tìm tòi riêng của các nhà thơ. Trờng ca cũng thể
hiện khả năng sử dụng đan xen nhiều thể thơ và phơng tiện thể
hiện của nhiều thể loại văn học. Ngôn ngữ trong tác phẩm
trờng ca đợc sử dụng một cách linh hoạt, vừa mang đặc điểm
ngôn ngữ của tác phẩm trữ tình, vừa mang tính chất ngôn ngữ
của tác phẩm tự sự và kịch, giàu chất thơ và cũng đậm chất văn
xuôi. Đối thoại, độc thoại nội tâm và các biện pháp tu từ cũng
đợc sử dụng nhuần nhuyễn nhằm phát huy cao nhất hiệu quả
biểu đạt của ngôn ngữ. Hệ thống giọng điệu của trờng ca khá
phong phú.
Nhìn chung, hình thức và phơng thức thể hiện của
trờng ca tơng ứng với yêu cầu mở rộng, khả năng bao quát
hiện thực và khát vọng nói cho đủ, cho hết những tâm sự, suy
ngẫm của chủ thể sáng tạo.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status