ĐÓNG GÓP CỦA PHẠM THÁI TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN NỬA CUỐI THẾ KỶ XVIII - NỬA ĐẦU THÉ KỶ XIX - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
__________________
Trần Văn Đúng
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA
PGS.TS. LÊ THU YẾN Thành phố Hồ Chí Minh - 2009 LỜI CẢM ƠN

nền văn học Việt đời Lê mạt – Nguyễn sơ nhưng ông không hề đề cập đến Phạm Thái
trong tác phẩm của mình. Hay công trình Phú Việt Nam cổ và kim (2002) (Nxb Văn
hóa thông tin) do Phong Châu và Nguyễn Văn Phú giới thiệu, sưu tầm
, chú thích
không hề có bài Chiến tụng Tây Hồ phú và hai ông đã nói rõ quan điểm của mình
trong phần cước chú: “nội dung thể hiện tư tưởng phản động chống cuộc khởi nghĩa
Tây Sơn, nên bỏ không in” [8, tr. 203]. Nguyễn Nghiệp cũng đã kết luận chắc nịch
rằng: “…Xét về toàn bộ tác phẩm mà nói, thử hỏi tác dụng giáo dục của Sơ kính tân
trang đối với thế hệ chúng ta phỏng được bao nhiêu. Một c
on người với tư tưởng căn
bản là phản động và tiêu cực như Phạm Thái làm sao có thể tạo ra những giá trị nhân
đạo cao cả, có tác dụng cho thế hệ được” [91].
Về tác phẩm, Phạm Thái viết không nhiều nhưng hầu hết bằng chữ Nôm. Cùng thời
có một số nhà nho vẫn dè dặt hoặc không sử dụng với thứ chữ dân tộc như Nguyễn
Huy Hổ, Cao Bá Quát… thì việc Phạm Th
ái ưu tiên sử dụng chữ Nôm là một tiến bộ
đáng ghi nhận. Về loại thể, Phạm Thái viết rất đa dạng, cả truyện, văn xuôi lẫn thơ,
phú. Cụ thể có truyện thơ, phú, văn tế, thơ trữ tình Đường luật, thơ trữ tình theo thể
thơ dân tộc như lục bát, song thất lục bát, các dạng thơ chơi…Quan trọng nhất là ở loại
thể nào Phạm T
hái cũng có tác phẩm vào hàng đáng ghi nhận về nội dung lẫn nghệ
thuật, có những loại thể vào hàng hay nhất, tiêu biểu cho loại thể đó. Về đề tài, thơ văn
của ông chủ yếu chỉ tập trung vào tình yêu và ông đã góp công lớn vào trào lưu chủ

nghĩa nhân đạo chung của xã hội đương thời. Đó là tiếng kêu đòi quyền tự do yêu
đương và tiếng nói bênh vực người phụ nữ nói riêng và tiếng kêu đề cao quyền sống
của con người cá nhân nói chung. Nhìn chung, về nghệ thuật, Phạm Thái có những
bước đột phá trong việc phá vỡ những khuôn thước có tính quy phạm của thơ văn
trung đại đương thời và có những lúc thơ ông đã đạt đến trình độ điêu luyện về nghệ
thuật, trở t

thơ văn P
hạm Thái hoặc có đề cập nhiều đến thơ văn Phạm Thái.
Loại thứ nhất có thể kể đến những c
ông trình: Văn đàn bảo giám (1926) - Trần
Trung Viên; Phổ Chiêu thiền sư thi tập (1932) - Sở Cuồng (Lê Dư); Việt Nam thi văn

hợp tuyển (1943) và Việt Nam văn học sử yếu (1944) - Dương Quảng Hàm; Lịch sử
văn học Việt Nam (1962) của Lê Trí Viễn – Phan Côn - Đặng Thanh Lê – Phạm Văn
Luận – Lê Hoài Nam đồng biên soạn; Bảng lược đồ văn học Việt Nam (1967), quyển
thượng: nền văn học cổ điển từ thế kỷ XIII đến năm 1862 - Thanh Lãng; Việt Nam văn
học giảng minh (1974) - Vũ Tiến P
húc; Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỷ XVIII –
nửa đầu thế kỷ XIX (tái bản năm1978) (Nxb VHVN); Tổng tập văn học Việt Nam
(1997) do Nguyễn Quảng Tuân biên soạn; Tinh tuyển văn học Việt Nam, tập 5, quyển
2: văn học thế kỷ XVIII (2004) do Nguyễn Thạch Giang chủ biên; Giai thoại làng nho
– Lã
ng Nhân; Thơ văn Việt Nam thơ Nôm Đường luật từ thế kỷ XV đến hết thế kỷ XIX
- Hà Xuân Liêm sưu tầm và biên soạn; Trần Đình Sử - Những công trình thi pháp học
(2005) - tuyển tập, tập 1- Nguyễn Đăng Điệp giới thiệu và tuyển chọn.
Trong các công trình trên, các tác giả thường nêu tiểu sử Phạm T
hái, giới thiệu tên
tác phẩm, sau đó, trích một vài tác phẩm tiêu biểu của Phạm T
hái như Sơ kính tân
trang, Chiến tụng Tây Hồ phú hoặc một số bài thơ yết hậu, tự thuật…
Có trường hợp như Kiều Thu H
oạch trong tác phẩm Truyện Nôm – Lịch sử phát
triển và thi pháp thể loại (2007) chỉ tóm tắt truyện Châu sơ kim kính lục (Sơ kính tân
trang). Công trình tuy không đi sâu vào nghiên cứu truyện Sơ kính tân trang nhưng đã
giúp người viết có cái nhìn khái quát về cấu trúc truyện t
hơ Nôm. Ngoài ra, có những

uyễn Hữu Sơn, Trần Đình Sử, Huyền Giang, Trần Ngọc
Vương, Trần Nho Thìn, Đoàn Thị Thu Vân có những nhận định về tác phẩm Sơ kính
tân trang như nói về ngoại hình nhân vật, cách miêu tả thiên nhiên đẹp.
Trong Phê bình bình l
uận văn học: Phạm Thái (….), Phạm Đình Toái (1998), Nxb
Văn nghệ Tp.HCM, Vũ Tiến Quỳnh có viết về tiểu sử Phạm Thái, giới thiệu sơ lược
nội dung và
nghệ thuật của Chiến tụng Tây Hồ phú.
Trong Văn học Việt Nam - nửa c
uối thế kỉ XVIII - hết thế kỉ XIX (1999), ở chương
IV, Nguyễn Lộc có viết về tiểu sử Phạm Thái và tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ
thuật tác phẩm Sơ kính tân trang.
Trong Nh
à văn và tác phẩm trong nhà trường Phạm Thái - Nguyễn Công Trứ -
Cao Bá Quát (1999) (tuyển chọn và biên soạn), Nxb Gi
áo Dục, Vũ Dương Quỹ có nêu
tiểu sử, giới thiệu các tác phẩm tiêu biểu, giới thiệu nét lớn về nội dung và nghệ thuật
thơ văn Phạm Thái. Trong đó có gợi ý phân tích Cảnh chùa chiền (trích Sơ kính tân
trang).
Ở Tạp chí văn học số 8 - 2000, Nguyễn Thị Nhàn c
ó viết về Mô hình kết cấu
truyện“Sơ kính tân trang”.
Trong quyển Trên hành trình văn học trung đại (2001), Nxb Đại học quốc gia H
à
Nội, Nguyễn Mạnh Hùng có đề cập đôi nét về Sơ kính tân trang. Tác giả chỉ ra sự yếu
kém về nghệ thuật của tác phẩm Sơ kính tân trang như kết cấu không chặt chẽ và cũng
nhận ra được nét phóng túng của nhà thơ trong khi bày tỏ tâm trạng qua các cảnh ngộ
khác nhau nhưng rất ít có phân tích.

Trong Tự sự học (2003), Nxb Đại học Sư phạm, Trần Đình Sử chủ biên có bài viết

nh đã giúp chúng tôi khơi mở, củng cố cũng như mạnh dạn
khẳng định sự đóng góp của Phạm Thái trên hành trình văn học trung đại nói riêng,
hành trình văn học dân tộc nói chung.
Với một nhiệt tâm cố gắng tìm hiểu đóng góp của to
àn bộ thơ văn Phạm Thái đối
với văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, hướng
triển khai của luận văn sẽ kế thừa những phần các tác giả, các nhà nghiên cứu đi trước
đã nói đến. Qua
n trọng hơn, luận văn sẽ đi vào tìm hiểu những điều mà các tác giả, các
nhà nghiên cứu đề cập sơ lược hoặc chưa đề cập.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng m
à chúng tôi quan tâm nghiên cứu ở đây là thơ văn của Phạm Thái và
đặt thơ văn của ông trong dòng chảy văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ
XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX để thấy được đóng góp của ông. Phạm Thái hầu như chỉ
sáng tác bằng chữ Nôm và có các loại như truyện thơ, văn xuôi, phú, thơ. Chúng tôi sẽ
bàn về giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật cũng như sự đóng góp của Phạm Thái đối với
nền văn học nước nhà. Trong đó, chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu tất cả các tác phẩm
thơ văn của Phạm T
hái và cố gắng so sánh đối chiếu tác phẩm của Phạm Thái với
những tác phẩm tiêu biểu có liên quan của những ngôi sao nổi bật trên vòm trời văn
học trong giai đoạn ấy như Nguyễn Hữu C
hỉnh, Nguyễn Huy Lượng, công chúa Ngọc
Hân, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn
Huy Tự, Phạm Đình Hổ, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát…
4. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương phá
p như hệ thống, phân
tích - tổng hợp, so sánh đồng đại và lịch đại; phương pháp liên ngành (văn học, sử học,

- Thơ văn Phạm T
hái và hiện thực xã hội đương thời
- Thơ văn Phạm T
hái và hình ảnh con người cá nhân
- Thơ văn Phạm T
hái và hình ảnh thiên nhiên
- Thơ văn Phạm Thái và tam giáo
Chương 3: Nghệ thuật thơ văn và những đóng góp của Phạm Thái (62 trang).
Chương này chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu những đóng góp độc đáo trong nghệ thuật
của Phạm Thái ở các phương diện:
- Thể loại
- Từ ngữ
- Giọng điệu
Cuối cùng l
à Kết luận (4 trang) và Tài liệu tham khảo (191 đề mục) Chương 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ PHẠM THÁI
1.1. Bối cảnh thời đại
Từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XV, chế độ phong kiến Việt Nam vẫn còn trong thời
thịnh. Từ thế kỷ X
VI, nó suy vi, xã hội đã trở nên bất ổn. Đến giai đoạn nửa cuối thế
kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, nhiều mâu thuẫn trở nên gay gắt, xã hội Việt Nam trở
nên rối ren, chiến tranh loạn lạc chưa từng có trong lịch sử trước đó. Đó là m
âu thuẫn
giữa các tập đoàn phong kiến với nhau như vua Lê – chúa Trịnh và nhà Nguyễn. Trong
thế kỷ XVIII, nước
Đại Việt nằm dưới quyền cai trị tượng trưng của vua Lê, có danh
mà không có quyền hành chính trị. Quyền lực thực sự nằm trong tay hai gia đình
phong kiến, các


(Hải Dương), Hầu Tạo (Nghệ Tĩnh) …rồi đến Lê Văn Khôi (1833 - 1835), Lê Duy
Lương (1831 - 1834), Nùng Văn Vân (1833 - 1835), Phan Bá Vành (1824 - 1827), Cao
Bá Quát (năm 1854)…
Hơn thế nữa, đó c
òn là mâu thuẫn tranh đoạt quyền lực trong nội bộ của các tập
đoàn phong kiến. Trong nội bộ vua Lê – chúa Trịnh cũng xảy ra nhiều cuộc thanh
trừng đẫm máu lẫn nhau giữa anh em nhà chúa (Trịnh Lệ và Trịnh Sâm (1767) Trịnh
Khải và Trịnh Cán (1782)), giữa chúa và vua (Lê Đế Duy Phường (1729 - 1732)… bị
chúa Trịnh giết [166, tr.66]), giữa kiêu bi
nh với quần thần vua Lê chúa Trịnh. Trong
triều Tây Sơn, anh em Nguyễn Huệ - Nguyễn Nhạc, bác cháu Nguyễn Nhạc - Quang
Toản bất hoà, lục đục. Sự xung đột, tranh quyền nghiêm trọng của hàng ngũ quan lại,
tướng lĩnh Tây Sơn (
Vũ Văn Dũng giết Bùi Đắc Tuyên và Ngô Văn Sở (1795)…)
Trong triều Nguyễn, cũng xảy ra việc giết công thần (Đỗ Thành Nhơn, Nguyễn Văn
Thành, Đặng Trần Thường…).
Không c
hỉ có các mâu thuẫn trên, thời kỳ này còn xảy ra mâu thuẫn dân tộc gay gắt
như phong trào Tây Sơn và quân Thanh, quân Xiêm La (nay là Thái Lan), Vạn Tượng
(vương quốc của
người Lào, được thành lập từ thế kỷ XIV, cố đô là Luang Prabang);
nhà Nguyễn và Chân Lạp… Người anh hùng “áo vải cờ đào” Nguyễn Huệ đã quét
sạch “29 vạn quân” [166, tr.53] Thanh do Lê Chiêu Thống rước vào miền Bắc, trên 2
vạn quân Xiêm La do Nguyễn Ánh rước vào miền Nam. Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nổi
lên quyết tâm theo đuổi mục tiêu công bằng
kinh tế và xã hội và vì một đất nước thống
nhất không bị ngoại bang can thiệp đồng thời góp phần làm rạng rỡ truyền thống
ngoan cường của cả dân tộc ta.
Như vậy, c

đanh thép kiên quyết nêu cao chính nghĩa vừa khéo léo, mềm mỏng hợp tình hợp lý,
Ngô Thì Nhậm đã thể hiện xuất sắc thiên tài chính trị của vua Q
uang Trung. Tư tưởng
ngoại giao của vương triều Tây Sơn là chủ động tiến công ngoại giao và tư tưởng
ngoại giao dựa trên cơ sở chính nghĩa và sức mạnh quân sự. Với đường lối ngoại giao
đúng đắn trên làm cho nhà Thanh phải quyết định đình chỉ việc trả thù, tiếp nhận sứ
thần Việt Nam mà còn buộc phải ra lệnh bãi bỏ lệ cống người vàng với lời phê rằng
việc triều trước bắt cống người vàng là đá
ng khinh bỉ. Không những vậy, giữa năm
1792, Quang Trung đã gửi thư đến Càn Long cầu hôn công chúa Thanh triều và "xin"
hai tỉnh
Quảng Đông và Quảng Tây. Vua nhà Thanh đã chuẩn y. Vua Quang Trung
còn có ý tấn công
nhà Thanh nhằm vẽ lại bản đồ Việt - Hoa. Nhưng chưa thực hiện
được, Quang Trung đã đột ngột qua đời.
Đối với nước Vạn Tượng, mối quan hệ ba
ng giao có phần căng thẳng hơn. “Ở Gia
Định, Nguyễn Ánh lại một lần nữa liên kết với Xiêm La và nhờ Xiêm La sử dụng Vạn
Tượng để đánh vào Nghệ An” [166, tr.64]. Trước tình hình đó, tháng 6 năm 1791, vua
Quang Trung phải cử Trần Quang Diệu “đánh thẳng vào Viên Chăn, truy đuổi Vạn
Tượng và b
è lũ đến tận biên giới Xiêm La rồi mới rút về. Từ đó, biên giới phía tây mới
được yên ổn.” [166, tr.64].

Về phía nhà Nguyễn, sau khi lấy được Bắc Hà năm 1802, vua Gia Long cầu phong
nhà Thanh, được tấn phong là Việt Nam quốc vương, ấn định thể lệ tiến cống hai năm
một lần và cứ bốn năm một lần Việt Nam sẽ phái sứ bộ sang làm lễ triều kính. Tháng 8
năm 1809, sứ đoàn Việt Nam sang mừng thọ vua Gia Khánh 50 tuổi. Việc giao thiệp
giữa Gia Long và nhà Thanh được êm đẹp. Vua Minh Mạng (1820 – 1840) đặc biệt
chú ý thần phục nhà Thanh. Nhà vua dẫn đoàn tuỳ tùng gồm kh

thuật và mỹ thuật, đã xuất hiện c
ác lò gồm lớn nổi tiếng như Chu Đậu, Hợp Lễ (Hải
Dương), Bát Tràng (nay thuộc Gia Lâm - Hà Nội). Nhiều làng, nghề thủ công chuyên
nghiệp nổi tiếng ra đời như làng Mỹ Thiện (Quảng Ngãi), Phú Trạch (Thừa Thiên) làm
nồi đất nung, dệt chiếu, lụa hoa, làng Thổ Hà (Bắc Ninh), Hương Canh (Phú Thọ)

chuyên sản xuất chum vại, vò, chĩnh, làng Yên Thái (Hà Nội) chuyên làm giấy... Nổi
tiếng nhất là nghề dệt vải, lụa. Có nhiều làng, phường lụa nổi tiếng như An Thái, Nghi
Tàm… Tơ trở thành một mặt hàng xuất khẩu quan trọng bậc nhất. Sự tăng cường buôn
bán với các thương nhân nước ngoài càng kích thích thêm sự phát triển của kinh tế
hàng hoá. Thủ công nghiệp phát triển thêm một bước, buôn bán phồn vinh, những
thành thị hưng khởi, những mầm mống của qua
n hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa có điều
kiện nảy sinh.
Thủ c
ông nghiệp khai mỏ rất phát triển và đạt được nhiều thành tựu. Nhiều mỏ
được khai thác như các mỏ đồng Tụ Long (Tuyên Quang), Liêm Tuyền (Thái
Nguyên)…; mỏ bạc ở Nam Xương, Long Sinh (Tuyên Quang); mỏ vàng ở Kim Mã,
Tam Lộng (Thái Nguyên); kẽm ở Cồn Minh (Thái Nguyên)…[55, tr.337]. Ngành công
nghiệp khai mỏ bấy giờ mở ra triển vọng trong việc tạo ra những mầm mống của qua
n
hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, ít nhất cũng tạo ra tiền đề thuận lợi cho sự ra đời của
quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong lòng chế độ phong kiến Việt Nam nhưng cuối
cùng do chính sách lầm lẫn của các chúa Trịnh (thuế nặng, quy định khắt khe việc mua
bán kim loại) và cho rằng việc khai mỏ chẳng có lợi gì, lại phải đào
bới nhiều hại đến
mạch đất nên nhà chúa đuổi hết thợ mỏ người Trung Quốc về nước, cấm tập trung
nhiều thợ trong mỗi mỏ... Do vậy, nghề này đã bị tàn lụi dần.
Chí
nh quyền vua Quang Trung rất chăm lo phát triển kinh tế thủ công. “Chỉ trong

nghị của vua Quang Trung, nhà Thanh đã mở 5 cửa ải lớn thông thương với nước ta để
cho khác
h thương hai nước qua lại. Đối với thương nhân phương Tây, Quang Trung cố
gắng tạo cho họ những điều kiện buôn bán rất thuận lợi. Tuy nhiên, xem ra thì số
thương nhân phương Tây buôn bán ở khu vực Nguyễn Ánh cai quản vẫn nhiều hơn.
Việc thống nhất đất nước và
o đầu thế kỷ XIX là một điều kiện thuận lợi cho
thương nghiệp phục hồi và tái phát triển sau một thời gi
an dài suy thoái. Các thành thị
công thương Hội An, Phố Hiến, Thanh Hà do nhiều nguyên nhân trở nên suy tàn và
không thể phục hồi như xưa còn Thăng Long, Bến Nghé, Đà Nẵng, Gia Định vẫn tiếp
tục phát triển.
Với các nước phương Tây, vua Gia Long có thiện cảm với nước
Pháp do khi ông
còn gian truân có nhờ ông
Bá Đa Lộc giúp đỡ. Nhưng sau đó trước sự bành trướng của
Châu Âu ở Đông Nam Á khiến Gia Long e ngại, nhất là sau khi nước Anh chiếm được
Singapore. Nhà vua thấy rằng cần phải giao hảo với người Tây phương nhưng không
thể biệt đãi một
quốc gia nào.
Đến t
hời vua Minh Mạng, vua không có cảm tình với
người Pháp như thái độ
chung của người Á Đông lúc đó, coi người Âu Châu là bọn man di, là quân xâm lược.
Cũng theo đường lối của hai triều
Minh Mạng và Thiệu Trị, vua Tự Đức khước từ mọi
việc giao thiệp với các nước ngoài trong có có nước Mỹ, dầu việc giao thiệp chỉ nhằm
phục vụ thương mại. Như vậy, đối với phương Tây, từ Nguyễn Ánh trở về sau, các vua
đã thực hiện chính sách “bế quan tỏa cảng”.
Như vậy, quan hệ ngoại thương giữa Đà

nhà. “Bấy giờ có những nơi, một mẫu ruộng chỉ đổi được một cái bánh nướng” [166,
tr. 33]. Ở Đàng Trong, từ thời trị vì của c
húa Nguyễn Phúc Khoát (1738 - 1765), chúa
Nguyễn bắt đầu xưng Vương cũng là thời kỳ áp bức bóc lột nặng nề với các khoản phụ
thu trong chế độ thuế cao hơn cả Đàng Ngoài rất nhiều. Không ít nông dân rơi vào tình
cảnh mất hết ruộng đất, họ buộc phải trở thành tá điền cho địa chủ. Năm 1789, vua
Quang Trung đã ban Chiếu khuyến nông đảm bảo cho nhân dân có ruộng cà
y. Vua đã
đáp ứng yêu cầu của nông dân về hòa bình và ruộng đất. Về mặt tài chính, Quang
Trung cho thi hành một chế độ thuế khóa đơn giản theo tinh thần “bớt thuế, thương
dân” và trên cơ sở bãi bỏ nhiều thứ thuế phức tạp trước đó. Không chỉ coi trọng việc
phát triển kinh tế, Quang Trung còn thi hành nhiều chính sách mang tính cải cách về
văn hóa, giáo dục có ý nghĩa quan trọng. Đó là chủ trương dùng chữ Nôm và mở rộng
trường học đến tận thôn xã. V
ua Quang Trung đã mang lại lợi ích thực sự cho nhân

dân trong nhiều năm liền… Nhưng thời gian trị vì của ông quá ngắn ngủi và trên thực
tế Quang Trung chỉ chỉ quản lý từ vùng đất Bến Ván của Quảng Nam trở ra Bắc nên
mức độ ảnh hưởng của những chính sách đối nội tiến bộ và tích cực của ông chưa phải
là thực sự rộng lớn, lâu dài và sâu sắc. Những chính sách tích cực của vua Quang
Trung giảm hiệu lực từ khi vua mất. Nguyễn Qua
ng Toản và triều thần tướng tá xoay
ra tranh đoạt quyền vị. “Họ thẳng tay bóc lột và bắt lính làm cho nông dân trước kia
hưởng ứng và ủng hộ Nguyễn Huệ sau này chán bỏ triều đình Tây Sơn.” [116, tr. 10 - 11].
Khi Gia Long được th
iên hạ đã xóa bỏ tất cả chế độ thuế khoá cũ của Tây Sơn để
đặt lại thuế khoá mới nặng hơn thời trước. Đến Minh Mạng, vua định lại thuế điền
nặng hơn nữa.
Ngoài ra, dưới triều Nguyễn mỗi người
dân đinh phải chịu 60 ngày lao dịch cho

Nguyễn - trong những thời điểm nhất định.
Nói tóm lại, tình hình xã hội nước ta từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XI
X nổi bật
lên ba hiện tượng lớn bao trùm mọi diễn biến của lịch sử. Đó là tập đoàn phong kiến
suy vi đến cùng cực và lần lượt sụp đổ, là nông dân bạo động thường xuyên mạnh mẽ
đã từng thắng lợi vẻ vang, là nền kinh tế hàng hoá bước đầu phát triển và tạo ra một
tầng lớp thị dân khá đông đảo.
1.2.
Chân dung Phạm Thái
Phạm Thái còn gọi là Phạm Phụng ha
y Phạm Đan Phụng là người làng Yên Thị, xã
Yên Thường, huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc (nay là huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh).
Ông sinh ngày 19 tháng giêng năm Đinh Dậu (1777) đời vua Cảnh Hưng nhà Lê, trong
một gia đình quan liêu quý tộc. Cha của Phạm Thái là một tôi trung của chúa Trịnh,
được chúa cho giữ chức nội san bình phiên (một chức quan võ cao cấp) trong phủ chúa
và được phong tước Trạch Trung hầu. Vì cha là quan võ nên từ thuở nhỏ Phạm Thái
đã được học võ, sau ông mới học văn và trở thành một thanh niên văn võ song toàn.
Thời Lê Trịnh, tước hầu là một tước qua
n to, người được phong hầu được hưởng
nhiều quyền lợi đặc biệt. Khi Tây Sơn tiến ra Bắc, Trạch Trung hầu mộ binh đánh lại
Tây Sơn. Nhưng trước cái khí thế mạnh như nước vỡ bờ của quân đội Tây Sơn, “nghĩa
binh” của Trạch Trung hầu ta
n vỡ. Trạch Trung hầu chết vào lúc Phạm Thái đã 20
tuổi. Gia đình Phạm Thái do việc thất trận của Trạch Trung hầu mà tan tác. Phạm Thái
mượn cớ đi du lãm các nơi danh lam thắng cảnh để tìm bè kết bạn mưu đồ sự nghiệp
cần vương. Gặp Nguyễn Đoàn, một nhân vật chống Tây Sơn, Phạm Thái cùng Nguyễn
Đoàn định ra kế hoạch vận động bọn quan liêu cũ mưu đồ chống Tâ
y Sơn. Tương
truyền Phạm Thái có soạn bài Quân yếu (cốt yếu của việc binh) bàn luận thế đánh.
Nhưng rồi Nguyễn Đoàn bị bại trận và bị giết, Phạm Thái phải trốn đi.

n mộng đẹp với Phạm Thái. Cái
chết của người yêu làm trái tim Phạm Thái tan nát, đau đớn khôn cùng, cộng với nỗi
đau thân phận, nỗi buồn trong sự nghiệp cần vương đã có từ trước làm tâm hồn ông
thêm đau thương.
Mối tình thắm thiết giữa hai người là nguồn cảm hứng chính cho phần lớn của thơ
văn Phạm Thái. Tình yêu không thành, những đau
khổ trong tình yêu đã ảnh hưởng
không nhỏ đến sự nghiệp văn chương cũng như nội dung thơ văn của ông. Khi người
yêu chết, Phạm Thái bỏ nhà Kiến Xuyên hầu ra đi.
Năm 1802, đất nước lại một lần nữa thay đổi: chính quyền Tây Sơn bị diệt vong
trước sự phản công quyết liệt của Gia Long. Giấc mơ phù Lê của Phạm Thái cũng tan
theo m
ây khói: “Ngày tháng trôi như bóng thoảng nhanh, Công lao, sự nghiệp phút
tan tành” [120; tr.108]. Từ đấy, một nỗi u uẩn thất cơ lỡ vận và nhất là nỗi đau tình
vỡ, luôn đau đáu trong hồn ông. Ông tìm quên đời trên những ngả đường giong ruổi

lãng du, vùi chôn cả tuổi trẻ lẫn lý tưởng chính trị vào tận đáy của ly rượu sầu bi, yếm
thế, vào những vần thơ cuồng phóng, ngang tàng và khinh ngạo đầy cá tính, vào ảo
ảnh của tình yêu tuyệt vọng. Rồi cuối cùng, Phạm Thái mất khi tuổi đời chưa qua hết
(lúc 37 tuổi ) tại Thanh Hóa (năm 1813).
Nhìn chung, người đời sau viết kịch về ông đã tổng kết: “Chẳng ưa Tây Sơn định
ẩn non cao, Khoác cà sa lánh cảnh đời phức tạp” và “Chí theo viễn ảnh x
a vời, Tâm
ghi khắc một bóng người tình thơ” [120, tr.74]. Những dòng thơ ấy đã diễn tả khá
chính xác những quãng đời và tư tưởng chính trị của Phạm Thái.
Chưa có một giai đoạn nào rối ren và phức tạp như giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII
– nửa đầu thế kỉ XIX. Trong thế kỉ nông dân khởi nghĩa, thế kỉ của sự đổ vỡ tín điều
chủ chốt của Nho giáo trước hiện thực vĩ đại và khắc nghiệt, Phạm T
hái cũng như bao
kẻ sĩ đồng thời hoang mang, dao động, bế tắc cùng đường. Phạm Thái kết giao với

nh yêu.
Chính vì vậy, Phạm Thái đã trở thành hoàng tử sơn ca của tình yêu cất lên những khúc
hát tình tứ, rạo rực, lãng mạn chưa từng có. Phạm Thái có những lúc bay bổng tuyệt
vời tưởng có thể trốn thoát khỏi hiện thực trần ai khắc nghiệt với đôi cánh của tình
yêu. Nhưng đôi cánh ấy bị thiêu chảy dưới sức mạnh của lễ giáo phong kiến và đồng
tiền, Phạm T
hái rơi lại cõi đời ô trọc, không tan tành thân xác mà tan nát linh hồn. Nếu
như ngày nào chú chim sơn ca sau khi dính mũi tên của thần tình yêu đã bay trên bầu
trời lửa loạn cất lên những tiếng hót “Dễ khiến lòng thơ bối rối” (Bài cầm tháo) thì
đến giờ này con chim ấy đang thoi thóp trong “bụi mận gai” phong kiến. Với tâm hồn
tan nát, sự nghiệp sạch không, thân thích chẳng còn, ông đã trở nên bi phẫn đến vô hạn
và trở thành cuồng phóng. Nhưng con người có lúc chán đời cùng cực, văng tục với
chính m
ình ấy chưa một lần rơi vào truỵ lạc hay đớn hèn về nhân cách mà vẫn ngông
nghênh, ngạo nghễ và ngật ngưỡng bước đi giữa cuộc đời. Ông trở thành hình tượng
mang đậm vẻ đẹp lãng mạn và bi hùng của một “Tiêu Sơn tráng sĩ” sinh bất phùng thời.
Phạm Thái là chàng trai xứ Kinh Bắc tài hoa mà cuộc đời đầy bi kịch. Không phải
nỗi đa
u nào cũng hóa ngọc nhưng với Phạm Thái những giây phút thăng hoa và đau
đớn trong cuộc đời kết hợp với cái tôi tài hoa đã thật sự tạo nên những “viên ngọc” lấp lánh.
1.3. Thơ văn Phạm Thái
Phạm Thái là một nhà thơ sáng tác hầu hết bằng chữ Nôm. Tác phẩm ấy không
nhiều nhưng đa dạng gồm truyện thơ, văn xuôi, thơ trữ tình, phú.
1.3.1. Truyện thơ Nôm
Phạm T
hái để lại cho đời truyện thơ Sơ kính tân trang gồm 1482 dòng thơ cơ bản
viết theo thể thơ lục bát nhưng có đan xen bằng những bài thơ Đường luật, song thất
lục bát và từ khúc.
Sơ kính tân trang (gương lược kiểu mới) là câu chuyện Việt Nam, một thiên tự
truyện: Phạm công và Trương công là hai bạn thân, cùng vinh hiển một khoa, cùng

lời lẽ tán tụng Tây Sơn. Ông hỏi ra mới biết là bài “Tụng Tây Hồ phú” của Nguyễn
Huy Lượng, người trước đây là tôi thần của nhà Lê, nay làm quan cho Tây Sơn. Ông
liền viết bài Chiến tụng Tây Hồ phú để “bút chiến”. Đây là một bài phú có vị trí đặc
biệt trong nền văn học dân tộc.
1.3.4. Thơ
Phạm T
hái xuất sắc ở cả thơ luật Đường và thể thơ dân tộc và ông còn làm cả “thơ
chơi” (yết hậu, thuận nghịch độc…)
1.3.4.1. Thơ Đường luật
Phạm Thái tuy viết theo thể thơ Đường luật nhưng âm điệu tiết tấu và giọng điệu
khó có thể lẫn với các nhà thơ khác cùng thời. Viết theo lối này gồm một số bài thơ:

Tự trào, Tự thuật, Đề chùa Tiêu Sơn, Núi con voi, Non nước tức cảnh, Đề tranh tố nữ,
Họa thơ mừng tiệc Thanh Xuyên hầu, Đề nhà Nghĩa Lư, Gửi cô Trương Quỳnh Như,
Khóc Trương Quỳnh Như, Diễn thơ Trương Tứ Lang I, II, Đối nguyệt cảm hứng, Trời
thu nghe trống đánh, Họa thơ Trương Quỳnh Như...
1.3.4.2. Thơ yết hậu
Gồm có
: Bợm rượu, Cha mắng con hay đánh bạc, Con giễu lại cha, Than nỗi
chồng con, Con lươn.
1.3.4.3. Thơ lục bát
Ngoài thể lục bát đư
ợc sử dụng chính yếu trong truyện thơ Sơ kính tân trang, Phạm
Thái đã tự mình dịch bài Văn bia mộ Thanh Xuyên hầu của chính ông ra thể lục bát
1.3.4.4. Thơ song thất lục bát
Gồm có
bài Văn triệu linh viết hộ nàng Long Cơ - vợ lẽ Trương Đăng Thụ - để
khóc chồng. Ông còn sử dụng thể thơ này trong Sơ kính tân trang.
Nhìn chung, tác phẩm của Phạm Thái không nhiều về số lượng nhưng rất đa dạng
về thể loại và ở loại thể nào Phạm Thái cũng có những bài chân thành, cảm động, có

Nguyễn Án có tập Tang thương ngẫu lục để ghi chép lại những sự việc trong buổi biến
thiên. Tất cả không thể ở trật tự sinh hoạt bình thường mà là “Đổi dời…” (Văn bia mộ
Thanh Xuy
ên hầu) hay “Biến dời…” (Sơ kính tân trang). Đó có thể là sự thay đổi kẻ
cầm quyền thống trị đất nước: “Người đến buổi quan hà về kẻ khác….” (Chiến tụng
Tây Hồ phú). Thời tao loạn còn được Phạm Thái xem là “vận truân chuyên” (Sơ kính
tân trang), buổi “loạn ly” (Tự thuật II). Đó l
à một cuộc “loạn thế”: “Người loạn thế
biết bao nhiêu cơ cận…” (Chiến tụng Tây Hồ phú).
Thời loạn lạc đã gây nên những sự mất mát, chia lìa. Phạm Kim phải xa quê
hương, xa gia đình. Hai gia đình Trương công, Phạm công phải ly tán. Phạm Kim từ
một chàng công tử con nhà “danh gia vọng tộc” nay trở thành con người đầy mặc cảm:
“Vả người hoàn tố m
à mình lũ lam” (Sơ kính tân trang). Không chỉ như vậy, sự tan

Trích đoạn Những bức tranh thiên nhiên ảm đạm Các tờ phả khuyến và bài văn khao thần ôn dịch Từn gữ trau chuốt, điêu luyện Từn gữ bình dân, “quảng trường”,“chợ búa”
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status