Những đóng góp của Nguyễn Trãi cho văn học Việt Nam - Pdf 28

Danh sách nhóm 4
1. Trần Mạnh Hùng
2. Vũ Thị Kim Nga
3. Nông Thị Cùng
4. Trần Xuân Thịnh
5. Nguyễn Văn Khuê
6. Tạ Thị Định
7. Ngô Hương Liên
8. Lưu Thị Xuân
9. Nguyễn Thị Hiền
10.Nguyễn Phương Lam
11.Nguyễn Thị Kim Thoa
12.Nguyễn Bảo Ngọc
13.Hoàng Thị Diệu Thuần
14. Bàn Thị Trang
15. Hoàng Thị Thu Trang
16.Lục Kiều Trang
17.Ngô Thị Thắm
18.Nhan Thị Quê
19.Nông Văn Tân
20.Trần Thị Thảo
21.Đinh Thị Trà
22.Nguyễn Thị Tâm
23.Luân Thị Hội
A. DẪN NHẬP
Có thể nói, thiên tài của Nguyễn Trãi là sản phẩm của phong trào đấu tranh
anh dũng của dân tộc. Thiên tài ấy đã để lại sự nghiệp lớn về nhiều mặt mà chúng
ta còn phải tiếp tục tìm hiểu thêm mới có thể đánh giá đầy đủ và chính xác được.
Nhưng dù sao, nếu chỉ xát về mặt văn hoá thì cũng có thể khẳng định rằng: Nguyễn
Trãi đã cắm một mốc quan trọng trên con đường phát triển của dân tộc ta. Cột mốc
ấy đặc biệt quan trọng đối với lịch sử văn học nước nhà.

đời nay”.
B. NỘI DUNG
1. Những vấn đề chung
1.1. Giới thiệu về Nguyễn Trãi
1.1.1. Cuộc đời
Nguyễn Trãi (1380-1442) tên tự là Ức Trai, sống vào giai đoạn lịch sử sôi
động từ cuối đời Trần, trải qua đời Hồ, thời đấu tranh chống ách xâm lược Minh
cho tới đầu đời Lê. Ông là người anh hùng dân tộc, nhà tư tưởng, danh nhân văn
hoá thế giới. Năm 1406, giặc Minh xâm lược Đại Việt, đánh bại nhà Hồ, áp bức
muôn dân, bắt cha Nguyễn Trãi đưa về Trung Quốc. Nợ nước, thù nhà, Nguyễn
Trãi đã tìm đến với phong trào khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi và trở thành nhà
soạn thảo và thực thi những quyết sách đúng đắn, góp phần đưa cuộc kháng chiến
chống Minh đến thắng lợi hoàn toàn.
Nguyễn Trãi sinh ra tron một gia đình quý tộc. Ông là cháu ngoại của
Trần Nguyên Đán một quý tộc dưới thời nhà Trần. Chính vì thế từ nhỏ
Ngyễn Trãi đã có điều kiện được ăn học. Ông là người rất thông minh, lại
được đọc rất nhiều sử sách Trung Quốc cho nên Nguyễn Trãi có học thức rất
uyên bác. Từ đây Nguyễn Trãi sớm tiếp xúc và thấu hiểu về tư tưởng chính
trị của Nho giáo.
Có hai sự kiện lớn khi nhắc đến cuộc đời Nguyễn Trãi đó là cuộc gặp
gỡ của Nguyễn Trãi và Lê Lợi ở Lũng Nhai và cái chết bi tráng của ông.
Sự gặp gỡ của hai con người ấy được dân gian coi là sự kết hợp của 2
ngôi sao bản mệnh chiếu vào nhau. Hai ngôi sao cùng tỏa sáng trên bầu trời
đất Việt khi ấy. Khởi nghĩa Lam Sơn - Đại thắng quân Minh năm 1427 là
kết quả của cuộc gặp gỡ định mệnh ấy.
Nhưng đáng thương cho một con người tài đức vẹn toàn khi phải chịu
một cái chết quá nghiệt ngã. Một đời trung với nước, hết mình vì Vua vì
dân, vậy mà phải chịu một án oan phải chu di tam tộc. Đây là vụ án oan
khuất vào bậc nhất trong lịch sử dân tộc. Cái chết của Nguyễn Trãi là sự mất
mát lớn của dân tộc. Chúng ta cũng có thể hiểu một cách khác đó là cái chết

phần thơ chữ Nôm. Tác phẩm viết bằng chữ Hán của Nguyễn Trãi gồm hai
phần : văn xuôi và thơ.
• Văn chính luận :
- Quân trung từ mệnh tập (1423-1427)
Phần quan trọng của tập sách là những thư từ Bình Định Vương gửi
cho tướng lĩnh nhà Minh, sau này được chép lại dưới mục “ Dữ minh nhân
vãng phục thư tín”. Nội dung chính của các lá thư là cuộc biện luận của
người Việt Nam và người Minh nhằm mục đích dàn xếp cuộc hòa bình lâu
dài giữa hai nước. Có hơn 70 bức thư, trong đó đa số các bức thư gửi cho
tướng tá nhà Minh, phần còn lại là những thư từ viết gửi cho quân ta.
Quân trung từ mệnh tập là tập văn kiện lịch sử - binh vận - ngoại giao
bằng chữ Hán do Nguyễn Trãi soạn thảo theo sự uỷ thác và trên danh nghĩa
của Lê Lợi trong khởi nghĩa Lam Sơn (1418 - 28). Tập tư liệu gồm các thư
từ trao đổi giữa Lê Lợi và các tướng quân Minh (Trần Trí, Phương Chính,
Vương Thông...), không kể phần văn loại gồm các bài chiếu, biểu viết trong
thời bình. Trần Khắc Kiệm đời Hồng Đức (1470 - 97) sưu tập lần đầu và
Dương Bá Cung biên soạn, khắc in năm 1868. Số lượng hiện còn khoảng 62
bản, xếp trong Ức Trai di tập.
Đây là tập văn vừa mang tính luận chiến, nhằm cổ vũ tinh thần
quân sĩ và làm nao núng ý chí quân giặc, vừa mang tính thuyết phục, giảng
giải cho kẻ địch thấy rõ lẽ tất yếu phải rút quân và thừa nhận chủ quyền độc
lập của Đại Việt. Lập luận sắc bén, văn phong sáng gọn, gợi cảm, có lí có
tình. Tài hùng biện của Nguyễn Trãi quả thực hiếm thấy, đã góp phần làm
cho giặc dao động và cầu hoà, đưa đến thắng lợi năm 1428. Sau này, Lê Quý
Đôn đã nhận xét Nguyễn Trãi là người viết thư, thảo hịch tài giỏi hơn hết
mọi thời đại.
- Bình Ngô Đại Cáo (1428)
Bình Ngô đại cáo trước hết là một văn kiện lịch sử. Cuối năm 1427
(cũng có những tài liệu cổ cho rằng đầu năm 1428) được lệnh của Lê Lợi,
Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo và văn bản này được công bố tháng 4

- Ức Trai thi tập gồm 105 bài thơ chữ Hán
- Quốc âm thi tập gồm 254 bài thơ Nôm (ước đoán, đây là quyển
thơ Nôm duy nhất còn sót lại sau thảm án Lệ Chi viên.
Ức trai thi tập được viết bằng chữ Hán, Quốc âm thi tập bằng chữ
Nôm. Đó là cả một đời thơ của Nguyễn Trãi, từ lúc trẻ đến tuổi già, nhiều
nhất là khoảng 10 năm tìm đường và thời gian về nghỉ ở Côn Sơn. Nội dung
chủ yếu của hai tập thơ là tâm tình đối với quê hương, gia đình, với nước,
với dân, và những bao éo le trong cuộc đời của Nguyễn Trãi...
1.2. Những vẫn đề thời đại
Nguyễn Trãi đã sống 20 năm cuối triều Trần - giai đoạn quyền lực
truyền thống đã sa đọa và gần như đã nằm trong tay của Hồ Qúy Ly. Bảy
năm dưới triều Hố - nơi mà quyền lực đang dựng xây dang dở. 20 năm dưới
thời thuộc Minh và chống Minh thuộc - một thời kì đầy bão táp của bạo lực
bành trướng, và đô hộ, đầy bão táp của bạo lực quần chúng, của toàn thể dân
tộc được tổ chức, vùng dậy đấu tranh chống bành chướng và đô hộ, giải
phóng dân tộc, giành độc lập tự do. Cuối cùng là 15 năm đầu triều Lê với
những lộn xộn sau chiến tranh và đảo lộn thân phận xã hội quá nhanh của
một triều đại dân tộc lớn cuối cùng của lịch sử Việt Nam. Nguyễn Trãi đã
sống và và hoạt động trong thời kì lịch sử đầy những biến động, đầy hoạn
nạn và âu lo của lịch sử Việt Nam.
Bên cạnh đó, ở thời đại này, Đạo Nho được coi là quốc giáo, mọi mặt
của xã hội đều lấy Đạo Nho làm gốc. từ chế độ khoa cử, thiết chế nhà
nước ... đến các thành phần của xã hội. Lực lượng chính trong xã hội là
những người quân tử, là những nhà tri thức Nho gia.
Tất cả những điều đó đã làm nên con người Nguyễn Trãi - kẻ tư văn
sinh đất Việt - kẻ sĩ đem lý tưởng riêng tư của cá nhân phụng sự cho đất Việt
2. Những đóng góp của Nguyễn Trãi cho văn học Việt Nam
Trong lịch sử văn học dân tộc những sáng tác của các tác gia đều có những
ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển của Văn học Việt . Chúng ta có thể kể đến
những cái tên như : Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Hồ Chí Minh, Tố

lòng cô trung với nhà Đường. Bá Nhân tức Chu Nghĩ người thời Tây Tấn,
làm quan đến chức Thượng thư Tả Bộc Xạ. Khi Tây Tấn bị quân Ngũ Hồ
bao vây tiêu diệt, triều đình phải bỏ kinh thành Lạc Dương chạy xuống
phương Nam. Ông đã cùng các danh sĩ nhà Tây Tấn chạy sang Giang Đông,
tụ hội ở Tân Đình bàn thế sự, nhìn về non sông nhà Tấn ở phía bắc mà chứa
chan hai hàng lệ. Nhưng rồi Tử Mỹ và Bá Nhân, mỗi người đều tìm đường
phò giúp giang san.
Đằng sau hình ảnh Tử Mỹ, Bá Nhân, phải chăng chính là tấm lòng
Nguyễn Trãi (tức Ức Trai) đối với non sông Đại Việt đang bị quân Minh
giày xéo, muôn dân rên xiết, loạn lạc, điêu linh mà bản thân ông chưa tìm
được một hướng đi để giúp nước? Cho nên, đúng như Bùi Duy Tân đã nhận
xét: “Nguyễn Trãi đã ký thác tấm lòng cô trung và hai hàng lệ nhỏ vào
chuyện cũ người xưa” .
Đọc nhiều bài thơ của Nguyễn Trãi, ta còn bắt gặp nhiều hình ảnh
tượng trưng, ước lệ khác nữa chẳng hạn như:
Đầu tiếc đội mòn khăn Đỗ Phủ,
Tay còn lọ hái cúc Uyên Minh.
Chi là của tiêu ngày tháng?
Thơ một hai thiên, rượu một bình
(Mạn thuật, bài IX)
Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn,
Dường ấy ta đà phỉ thửa nguyền
(Tự thán, bài IV)
Những câu thơ như thế của Nguyễn Trãi cho thấy ông là một nhà đại
Nho. Nguyễn Trãi sống bằng đạo vua - tôi, đạo cha - con, đạo cương
thường, nhưng phải trong một xã hội lý tưởng, một xã hội “vua Nghiêu
Thuấn, dân Nghiêu Thuấn”, một xã hội mà ông nỗ lực phấn đấu để tạo lập.
- Tuy nhiên, nhờ sử dụng chữ Nôm, thơ Nguyễn Trãi đã ngày càng
dung dị, tự nhiên, gần gũi hơn với cuộc sống của nhân dân lao động. Từ ngữ
trong thơ Nôm thường có sức gợi tả mạnh và đặc biệt độc đáo. Tập thơ

Qua những câu thơ ở trên đã hình dung được đời sống và cốt cách của
một nhà nho ẩn cư ở nông thôn của nước Đại Việt. Đây chính là bản sắc dân
tộc trong thơ Nôm luật Đường của Nguyễn Trãi
• Nhờ chữ Nôm, Nguyễn Trãi đã thành công trong việc đưa vào thơ ca
bác học nguồn thi liệu vô cùng quý giá của tục ngữ, thành ngữ, ca dao.
Nguyễn Trãi sử dụng thành ngữ, tục ngữ, câu nói dân gian gần với đời sống
nhân dân. Nhiều tác phẩm, nhiều hình tượng, từ ngữ do văn học dân gian tạo
nên là nguồn cảm hứng, là thi liệu, văn liệu của văn học viết xuyên suốt thời
trung đại và hiện đại
Không một nhà văn, nhà thơ, nhà văn hoá lớn nào của nước ta không
khẳng định, tôn vinh giá trị bất hủ của văn học dân gian. Đại thi hào dân tộc
Nguyễn Du từng xác nhận Thôn ca sơ học ma tang ngữ” (Từ nhỏ học lời
người trồng dâu, trồng đay qua những bài hát nơi thôn xóm). Hồ Chí Minh
khẳng định văn học dân gian “ là những hòn ngọc quý”.Không chỉ tồn tại
trong ý thức, những nhà thơ trung đại và hiện đại đã vận dụng một cách sáng
tạo ngôn ngữ và nghệ thuật ưu tú của văn học dân gian vào sáng tác của
mình.Trong một thời kì lịch sử khá dài, chữ Hán được coi là một thứ chữ có
tính quan phương, “ chính thức” thì việc học tập, vận dụng ca dao tục ngữ,
thành ngữ dân gian vào các sáng tác đặc biệt là các sáng tác bằng tiếng nói
dân tộc không chỉ có giá trị về phương diện nghệ thuật ngôn từ mà còn là
một hành vi văn hoá thể hiện sâu sắc lòng yêu nước và tự hào dân tộc.
Có câu ca dao:
Số giàu đem đến dửng dưng
Lọ là con mắt tráo trưng mới giàu”.
Trong thơ của mình, Nguyễn Trãi viết :
Sang cùng khó bỡi chưng trời
Lăn lóc làm chi cho nhọc hơi
Đựợc thua , phú quý dầu thiên mệnh
Chen chóc làm cho cho nhọc nhằn.
Lại có câu:

Chính vì thế , những kinh nghiệm được Nguyễn Trãi nêu ra trong bài
thơ rất gần gũi với dân gian, dễ được nhân dân tiếp nhận và qua đó phản ánh
cốt cách thân dân của nhà yêu nước vĩ đại xứng danh “ Kinh bang hoa quốc
cổ vô tiền” này.
• Ngoài ra , thơ Nguyễn Trãi dùng rất nhiều từ láy, ta cũng bắt gặp điều
này trong thơ Nguyễn Du, bởi bản chất từ láy là gợi hình, gợi ảnh. Điều này
khiến cho các tác phẩm thơ trở nên giàu hình ảnh hơn, sống động hơn, người
đọc dễ hình dung được các hình tượng thơ.
Ta nhận ra một Nguyễn Trãi thật tự do phóng khoáng giữa đất trời, thật táo
bạo với những từ ngữ thuần Việt đắt giá “tênh hênh”, “lểu thểu”, “lẩn thẩn” mà vẫn
không suồng sã, tưởng khó thành thơ mà vẫn lộ rõ cốt cách thanh cao nhưng giản
dị của Nguyễn Trãi.
Quê cũ nhà ta thiếu của nào,
Rau trong nội, cá trong ao.
Cách song mai tỉnh hồn Cô Dịch ,
Kề nước cầm đưa tiếng Cửu Cao
Khách đến vườn còn hoa lạc,
Thơ nên cửa thấy nguyệt vào.
Cảnh thanh dường ấy chăng về nghỉ,
Lẩn thẩn làm chi áng mận đào
(Mạn thuật, 35)
2.1.2. Thể thơ
• Nguyễn Trãi đã sử dụng thành công thể thơ thất ngôn xen lục ngôn trong thơ
Nôm của mình. Ðây là một thể thơ được sáng tác dựa trên quy cách và cấu trúc của
thơ Ðường luật. Ðiểm khác biệt là ở hiện tượng xen kẽ những câu sáu tiếng vào
các câu 7 tiếng của bài thơ bát cú lẫn tứ tuyệt luật Ðường.
Số lượng các bài thơ được sáng tác theo hình thức này rất lớn
(186/254) chứng tỏ rằng Nguyễn Trãi hoàn toàn có ý thức khi vận dụng thể
thơ này như một sự thử nghiệm cho việc tìm ra một thể thơ mới cho dân tộc,
chống lại ảnh hưởng quá sâu sắc của thi ca Trung Hoa.

固 橅 長 生 橅 橅 台
琥 珀 橅 橅 認 買 別
Bản dịch:
Thu đến cây nào chẳng lạ lung
Một mình lạt thuở ba đông
Lâm tuyền ai rặng già làm khách
Tài đống lương cao ắt cả dùng
Đống lương tài có mấy bằng mày
Nhà cả đòi phen chống khoẻ thay
Cội rễ bền dời chẳng động
Tuyết sương thấy đã đặng nhiều
ngày
Tuyết sương thấy đã đặng nhiều
橅 群 底 助 民 尼
ngày
Có thuốc trường sinh càng khoẻ
thay
Hổ phách phục linh nhìn mới biết
Dành còn để trợ dân này.
Tùng của Nguyễn Trãi là chùm thơ ba bài, đều viết theo tứ tuyệt, thất
ngôn xen lục ngôn. Cấu trúc liên hoàn - thước kiều, tạo nên một chính thể
nghệ thuật toàn bích, trong đó, ngôn ngữ liên kết, liền mạch, hình tượng cây
tùng mang ý nghĩa tượng trưng sâu sắc nhiều vẻ. Vịnh cây tùng, Nguyễn
Trãi khẳng định, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người quân tử, đồng
thời kín đáo gửi gắm những nỗi niềm tâm sự của riêng mình.
Xét về tác dụng nghệ thuật, câu thơ 6 tiếng trong bài thơ thất ngôn xen
lục ngôn khiến lời thơ trở nên cô đọng, giản dị, ý thơ mạnh mẽ, sắc sảo,
thường phù hợp với việc diễn đạt những chân lý của đời sống, những quyết
tâm hành động của nhà thơ. Ngoài ra, cách ngắt nhịp phong phú của câu thơ
6 chữ khiến nó có khả năng diễn đạt được những cung bậc tình cảm đặc biệt

Yết can vi kì,manh lẹ chi đồ tứ tập

Trích đoạn Con người cá nhân trong văn chương Nguyễn Trã
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status