Những đóng góp của Nguyễn Xuân Khánh vào
tiến trình đổi mới tiểu thuyết Việt Nam đương
đại (Qua hai tác phẩm Hồ Quý Ly và Mẫu
Thượng Ngàn)
Tống Thị Thanh
Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn
Luận văn ThS ngành: Ngữ văn; Mã số: 60 22 34
Người hướng dẫn: TS. Phạm Xuân Thạch
Năm bảo vệ: 2010
Abstract: Chương 1- Nguyễn Xuân Khánh trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt
Nam đương đại: Tiểu thuyết Việt Nam đương đại – những tìm tòi đổi mới;
Nguyễn Xuân Khánh và văn học Việt Nam đương đại. Chương 2- Những chiều
sâu mới về tư tưởng và nội dung trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh qua:
Phương thức tiếp cận lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh trong các tiểu thuyết lịch
sử; các chủ đề trong tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh; vai trò của hư cấu
trong tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh. Chương 3- Những đổi mới trong
tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh nhìn từ góc độ thể loại: Những vấn đề thi
pháp thể loại; những vấn đề mỹ học thể loại
Keywords: Nguyễn, Xuân Khánh; Tiểu thuyết; Văn học Việt Nam; Nghiên cứu
văn học
Content
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong tiến trình phát triển của lịch sử văn học, sự vận động của thể loại bao giờ cũng giữ
một vị trí quan trọng. Trong mối tương quan giữa các thể loại, tiểu thuyết hội tụ đủ trong
mình tư cách của một thể loại lớn mang chức năng đa dạng nhất và chưa ổn định nhất
“đang biến chuyển và còn chưa định hình” [7, tr.23]. Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI
(1986), sự nghiệp Đổi mới đất nước diễn ra trên mọi cấp độ đã ảnh hưởng trực tiếp đến tư
tưởng tình cảm và tư duy sáng tạo của các văn nghệ sĩ. Cùng với sự thay đổi diện mạo
Cùng thế hệ với lớp nhà văn như Nguyễn Minh Châu, Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng,
v.v, với tài năng văn chương của mình, rất có thể Nguyễn Xuân Khánh đã có một vị trí
khác trong đời sống văn học. Tuy nhiên, trong suốt một thời gian dài vì nhiều lí do, giống
như một số văn nghệ sĩ khác như Trần Dần, Lê Đạt, Dương Tường, Bùi Ngọc Tấn, v.v,
Nguyễn Xuân Khánh bị rơi vào tình trạng không được phép công bố sáng tác. Phải đến
thời kì Đổi mới, ông mới có điều kiện để công bố sáng tác và tập trung thời gian, tâm sức
cho việc viết văn. Không phải là hiện tượng văn chương duy nhất ở Việt Nam nhưng
trường hợp của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh lại vô cùng đặc biệt. Các tác phẩm của ông
được công bố vào đầu thế kỉ này khi in ra hầu như đều được viết lại trên cơ sở những bản
thảo cũ mà nhà văn đã sáng tác từ trước thời kì Đổi mới. Và ngay khi xuất hiện, những
tác phẩm này đã được dư luận mà đặc biệt là giới nghiên cứu, phê bình đánh giá cao và
liên tiếp đạt được doanh thu lớn, đạt kỉ lục về số lần tái bản, nối bản. Trong những đợt xét
giải thưởng về văn xuôi của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà văn Hà Nội, v.v. vào các
năm 2000 và 2006, tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh đều đạt được sự đồng thuận từ đa
số phiếu bầu của Hội đồng tuyển chọn. Vậy, điều gì đã làm nên sự độc đáo trong tiểu
thuyết Nguyễn Xuân Khánh trong tương quan với quá trình đổi mới tiểu thuyết Việt Nam
đương đại? Những tác phẩm vốn được khởi thảo lại từ những sáng tác rất lâu rồi như Hồ
Quý Ly và Mẫu thượng ngàn đã có những đóng góp quan trọng như thế nào vào tiến trình
cách tân thể loại đang diễn ra hiện nay? Chọn đề tài nghiên cứu Những đóng góp của
Nguyễn Xuân Khánh vào tiến trình đổi mới tiểu thuyết Việt Nam đƣơng đại (qua
hai tác phẩm Hồ Quý Ly và Mẫu thượng ngàn), chúng tôi hy vọng sẽ trả lời được
những câu hỏi trên.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Trong phạm vi vấn đề nhằm tìm hiểu những giá trị nghệ thuật đặc sắc ở tiểu thuyết
Nguyễn Xuân Khánh góp phần vào tiến trình cách tân tiểu thuyết đương đại, chúng tôi
quan tâm tới những nghiên cứu về lí luận thể loại, những đánh giá tổng kết về thành tựu
tiểu thuyết Việt Nam đương đại cũng như các bài viết về nhà văn Nguyễn Xuân Khánh
và sáng tác của ông. Dưới đây, chúng tôi xin tổng thuật lại những công trình, bài viết có
liên quan đến đề tài.
động của lịch sử trong con người” ở tiểu thuyết sử thi hiện đại, v.v.
Như vậy, trong những công trình, bài viết nói trên, dưới những mức độ khác nhau, vấn đề
lí luận thể loại tiểu thuyết nói chung và nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam hiện đại đã được
đề cập một cách cụ thể ở nhiều phương diện. Các nhà nghiên cứu – phê bình đã tiếp nhận
nhiều lí thuyết nghiên cứu hiện đại, nổi bật là hướng nghiên cứu theo thi pháp học, tự sự
học mà cụ thể là vận dụng tư tưởng của M.Bakhtin khi coi tiểu thuyết là thể loại trung
tâm trên sân khấu văn học hiện đại. Những vấn đề lí thuyết thể loại từ các công trình
nghiên cứu trên là cơ sở khoa học quý báu để chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu.
2.2. Bên cạnh những công trình và các chuyên luận, các bài viết về lí luận tiểu thuyết,
nhiều nhận định quan trọng về thành tựu và quá trình vận động của thể loại văn xuôi, tiểu
thuyết đương đại đã được đề cập trong các công trình, bài viết của các nhà nghiên cứu –
phê bình. Đây là những gợi mở vấn đề rất quan trọng cho tác giả luận văn.
Một số các công trình tập thể và các sách chuyên luận như 50 năm văn học Việt Nam sau
cách mạng tháng Tám do Đại học Quốc gia Hà Nội – Trường viết văn Nguyễn Du – Tạp
chí văn nghệ Quân đội tổ chức (1996), Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỉ XX của Viện Văn
học (2002), Văn học Việt Nam thế kỉ XX – những vấn đề lịch sử và lí luận (2005), Tiểu
thuyết Việt Nam hiện đại (2001), Văn học Việt Nam thế kỉ XX (2005) do Phan Cự Đệ chủ
biên, Tiểu thuyết đương đại (2005) của Bùi Việt Thắng, v.v. đã có những tổng kết về
thành tựu của tiểu thuyết hiện đại – đương đại. Công trình Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
là bức tranh toàn cảnh của tiểu thuyết hiện đại Việt Nam, đem lại một khối lượng kiến
thức phong phú về thể loại cho người đọc. Với công trình tập thể Văn học Việt Nam thế kỉ
XX – những vấn đề lịch sử và lí luận của các nhà giáo, nhà nghiên cứu khoa học như
Phan Cự Đệ, Trần Đình Sử, Mã Giang Lân, v.v. đã tổng kết văn học Việt Nam thế kỉ XX
dưới ánh sáng của loại hình học, thi pháp học và văn học so sánh. Trong số các công trình
chuyên sâu về quá trình đổi mới, cách tân của văn xuôi nói chung và tiểu thuyết nói riêng
như luận án tiến sĩ Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau năm 1975 –
khảo sát trên nét lớn của tác giả Nguyễn Thị Bình, luận án tiến sĩ Những cách tân nghệ
thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại giai đoạn 1986 – 2006 của tác giả Mai Hải
Oanh đã đề cập tới những biến đổi lớn trong tiến trình đổi mới của văn xuôi, tiểu thuyết
đương đại Việt Nam.
đổi trong thể loại tiểu thuyết từ khuynh hướng sử thi sang khuynh hướng đời tư, số phận.
Trên Tạp chí Nghiên cứu văn học số 11 – 2006, các tác giả Mai Hương, Bùi Thanh
Truyền đã có những ý kiến xác đáng về tiểu thuyết đương đại. Để phác thảo những thay
đổi của nền văn học mới, PGS. TS Mai Hương đã đi sâu phân tích những đặc điểm nghệ
thuật trong sáng tác của một số cây bút thời kì đổi mới như Nguyễn Huy Thiệp, Bảo
Ninh, Tạ Duy Anh. TS. Đoàn Cầm Thi từ Đại học Paris có bài viết Chiến tranh, tình yêu,
tình dục trong văn học Việt Nam đương đại đã nhấn mạnh đến những yếu tố nội dung và
đặc điểm thẩm mỹ trong tiểu thuyết.
- Ngoài hai hướng khai thác vấn đề nói trên, nhiều bài viết của các tác giả đã hướng sự
quan tâm của mình vào những cách tân mới mẻ trong tác phẩm tiểu thuyết được dư luận
chú ý sau năm 1986. Trong các bài viết này, người nghiên cứu đã có sự vận dụng những
lí thuyết nghiên cứu mới, có những phân tích sâu sắc và lí giải tỉ mỉ, cụ thể đem lại nhiều
nhận thức và kinh nghiệm cho người đọc. Có thể đề cập tới các bài viết tiêu biểu như Kĩ
thuật dòng ý thức qua Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh của PGS.TS. Nguyễn Đăng,
Trông thấy con người của nhà phê bình Nguyễn Chí Hoan, Tiểu thuyết như là trạng thái
tìm kiếm ý nghĩa của đời sống của TS. Phạm Xuân Thạch, Thế giới kì ảo trong Mảnh đất
lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường từ điểm nhìn văn hoá của PGS.TS. Lê
Nguyên Cẩn, v.v.
2.3. Như chúng tôi đã đề cập, sự xuất hiện trở lại của Nguyễn Xuân Khánh và tác phẩm
của ông trong đời sống văn học đương đại đã thu hút sự quan tâm đông đảo của dư luận,
giới truyền thông và đặc biệt là từ các nhà nghiên cứu – phê bình. Ở những mức độ khác
nhau, các bài viết của các nhà nghiên cứu và các tác giả đều khẳng định giá trị và những
cách tân độc đáo trong hai tiểu thuyết Hồ Quý Ly và Mẫu thượng ngàn. Đặc biệt, trong
các bài nghiên cứu và các bài báo có tính chất nhận định về sáng tác của nhà văn, giới
nghiên cứu, phê bình đã phân tích và đưa ra những lí giải sâu sắc về những giá trị nghệ
thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh. Tuy nhiên do khuôn khổ của các bài viết là
có giới hạn nên chỉ có thể đề cập tới một vài phương diện nhất định trong nghệ thuật tiểu
thuyết. Song đây chính là những tiền đề để chúng tôi mở rộng các vấn đề nghiên cứu
trong luận văn.
Đáng lưu ý nhất là nghiên cứu của TS. Phạm Xuân Thạch trong bài viết Suy nghĩ từ
cấu nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử (qua khảo sát Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân
Khánh và Giàn thiêu của Võ Thị Hảo) của Đinh Việt Hà, Khoá luận tốt nghiệp 2004 vv…
Nhìn chung dù cách đặt vấn đề có khác nhau song các đề tài này đều chú ý đề cập
tới vấn đề hư cấu trong tiểu thuyết lịch sử trong đó có tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh.
Với phạm vi nghiên cứu của mình, các đề tài ít nhiều có tìm hiểu một số vấn đề thuộc về
kĩ thuật sáng tác tiểu thuyết tuy nhiên chưa có một nghiên cứu nào xác định một cách
toàn diện về những đóng góp mới mẻ của Nguyễn Xuân Khánh cả về phương diện hình
thức và nội dung, tư tưởng trong tiểu thuyết cũng như tìm hiểu đầy đủ về cuộc đời và sự
nghiệp tác giả.
Trên đây là những trình bày tổng quan của chúng tôi về tình hình nghiên cứu văn xuôi,
tiểu thuyết trong thời kì Đổi mới ở Việt Nam gần ba mươi năm qua, đặc biệt kể từ sau
Đại hội Đảng lần thứ VI (ở đây chúng tôi giới hạn những công trình, bài viết có liên quan
đến đề tài).
3. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
Tuy là một đề tài tìm hiểu về cách tân thể loại và nội dung, tư tưởng trong sáng tác
của một tác giả cụ thể nhưng mục đích của luận văn không nhìn sáng tác của tác giả ở sự
khu biệt “khép kín” mà có sự đối chiếu trong bức tranh chung của tiểu thuyết thời kì Đổi
mới cũng như có sự so sánh với sáng tác của các tác giả tiểu thuyết ở giai đoạn này. Do
đó, nhiệm vụ trung tâm của luận văn là xác định những nét cách tân độc đáo trong tiểu
thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh cả về phương diện hình thức lẫn nội dung để thấy
được những đóng góp của nhà văn trong tiến trình cách tân thể loại tiểu thuyết đương đại.
Đồng thời qua mối tương quan giữa sáng tác của một tác giả cụ thể với tiến trình phát
triển của tiểu thuyết Việt Nam từ sau Đổi mới, luận văn bước đầu xác lập một góc nhìn
để hình dung được tiến trình vận động và đổi mới tư duy tiểu thuyết Việt Nam từ nửa sau
thế kỉ XX đến nay.
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Do đặc trưng của đề tài đặt ra, phạm vi nghiên cứu chính của luận văn được chúng
Chƣơng 2: Những chiều sâu mới về tƣ tƣởng và nội dung trong tiểu thuyết Nguyễn
Xuân Khánh
2.1. Phƣơng thức tiếp cận lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh trong các tiểu thuyết lịch
sử
2.2. Các chủ đề trong tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh
2.3. Vai trò của hƣ cấu trong tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh
Chƣơng 3: Những đổi mới trong tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh nhìn từ
góc độ thể loại
3.1. Những vấn đề thi pháp thể loại
3.2. Những vấn đề mỹ học thể loại
References
A. TÀI LIỆU LÝ THUYẾT VĂN XUÔI, TỰ SỰ, TIỂU THUYẾT
1. Aristote (1999), Nghệ thuật thơ ca, Nxb Văn học, Hà Nội.
2. Lương Ngọc An (thực hiện) (2009), Tiểu thuyết lịch sử thông điệp gửi đến ngày
hôm nay, Báo Văn nghệ, số 35+36.
3. Vũ Tuấn Anh (1996), Quá trình văn học đương đại nhìn từ phương diện thể loại,
Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 9.
4. Nguyễn Lan Anh (thực hiện) (2006), Nguyễn Xuân Khánh gác bút sau Mẫu thượng ngàn, Nguồn:
5. Hoàng Lan Anh (thực hiện) (2006), Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh nói về Mẫu
thượng ngàn, Nguồn:
/>-
chitiet.asp?PVSKID=48
6. Lại Nguyên Ân (1992), Thần thoại, văn học, văn học huyền thoại – Tạp chí Nghiên
cứu văn học, số 3.
7. M.Bakhtin (2003), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư (dịch), Nxb Hội
Nhà văn, Hà Nội.
8. M.Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki, Trần Đình Sử (dịch), Nxb
Giáo Dục, Hà Nội.
25. Đặng Anh Đào (1996), Nguồn gốc và tiền đề của tiểu thuyết, Tạp chí Nghiên cứu
văn học, số 6.
26. Phan Cự Đệ (chủ biên) (2005), Văn học Việt Nam thế kỷ XX – những vấn đề lịch
sử và lý luận, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
27. Phan Cự Đệ (2001), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
28. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, Nxb Văn học, Hà Nội.
29. Nguyễn Đăng Điệp (2000), Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học
Việt Nam đương đại, Nguồn:
30. Trung Trung Đỉnh (2001), Hồ Quý Ly và những giải pháp mới cho tiểu thuyết lịch
sử nước nhà, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 10.
31. Hà Minh Đức (chủ biên) (1997), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
32. Hà Minh Đức (2002), Những thành tựu của văn học Việt Nam trong thời kỳ đổi
mới, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 7.
33. Hà Văn Đức (viết chung) (2004),Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục.
34. Nguyễn Thị Xuân Dung (2008), Dục vọng trong tiểu thuyết Việt Nam về chiến
tranh từ 1986 đến 1996, Nguồn:
35. Nguyễn Hải Hà (2006), Thi pháp tiểu thuyết L.Tônxtôi, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
36. Nguyễn Phan Hách, Trần Đình Sử, Cao Tiến Lê … (1991) Thảo luận về tiểu thuyết
Thân phận của tình yêu, BáoVăn nghệ, số 37.
37. Nguyễn Phan Hách, Ngô Ngọc Bội… (1989), Một số bài viết tiến tới Đại hội Nhà
văn Việt Nam lần thứ IV, BáoVăn nghệ, số 33.
38. Hội Nhà văn (2001), Tiểu thuyết, dòng chảy liên tục với thời gian (Báo cáo của Hội
đồng chung khảo Cuộc thi Tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam 1998 - 2000),
Văn nghệ, số 37 và Văn nghệ Quân đội tháng 10.
39. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) (2004), Từ điển thuật ngữ
văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
40. NguyễnVăn Hạnh, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Đăng Mạnh… (2006), Trích tham
luận hội nghị phê bình văn học - lần thứ hai, Báo Văn nghệ, số 41.
1930, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội.
57. Phong Lê (2005), Tiểu thuyết mở đầu thế kỉ XXI trong tiến trình văn học Việt Nam
từ tháng Tám – 1945, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 9.
58. Phong Lê (1997), Văn học trên hành trình thế kỷ XX, Nxb Đại học Quốc gia Hà
Nội.
59. Phong Lê (2007), Từ sự nghiệp đổi mới nhìn lại lịch sử các mối giao lưu với văn
học phương Tây hiện đại, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 1.
60. IU.M.Lotman (2004), Cấu trúc văn bản nghệ thuật, Trần Ngọc Vương (chủ biên),
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
61. Bùi Văn Lợi (1999), Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX đến
1945 – diện mạo và đặc điểm, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội.
62. Lưu Liên (1987), Tiểu thuyết - một thể loại năng động đầy triển vọng, Tạp chí
Nghiên cứu văn học, số 4.
63. Ngọc Linh, Mai Trang (thực hiện) (2006), Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh nói về Mẫu thượng ngàn,
Nguồn:
64. Đỗ Bạch Mai, Nguyễn Khắc Trường, Ma Văn Kháng… (1996), Một số bài biết
trong Hội thảo về tiểu thuyết, Báo Văn nghệ, số 49.
65. Nguyễn Thị Tuyết Minh (2009), Tiểu thuyết lịch sử từ sau năm 1945 đến nay, Luận
án Tiến sĩ Ngữ văn, Viện Văn học, Hà Nội.
66. Trần Thị Mai Nhân (2007), Quan niệm về tiểu thuyết trong văn học Việt Nam giai
đoạn 1986 - 2000, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 7.
67. Nguyên Ngọc (1991), Văn xuôi sau năm 1975, thử thăm dò về quy luật phát triển,
Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 4.
68. Nguyên Ngọc (2006), Một cuốn tiểu thuyết hay về văn hoá Việt, Nguồn:
/>viet.htm.
69. Phan Ngọc (2001), Tiểu thuyết Con ngựa Mãn Châu của Nguyễn Quang Thân, Báo
Văn nghệ, số 7.
70. Phạm Ngọc (2010), Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh “sẽ viết đến tuổi tám mươi lăm”,
Báo Lao động cuối tuần, số Xuân Canh Dần.
71. Phạm Xuân Nguyên (1987), Về xu hướng thể hiện: “Sự vận động của lịch sử trong
sĩ Văn học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Hà Nội.
90. Phạm Xuân Thạch (viết chung) (2000), Văn học dịch và tiến trình hiện đại hoá văn
học Việt Nam giai đoạn giao thời, Tạp chí Văn học, số 4.
91. Phạm Xuân Thạch (2002), Từ bản dịch Những kẻ khốn nạn, bàn về ảnh hưởng của
tiểu thuyết Victor Hugo với người Việt đầu thế kỉ XX, Tạp chí Nghiên cứu văn học,
số 6.
92. Phạm Xuân Thạch (2004), Quá trình cách tân và những giới hạn trong sự nghiệp
sáng tác văn xuôi của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số
9.
93. Phạm Xuân Thạch (2005), Nỗi buồn chiến tranh, viết về chiến tranh thời hậu chiến
từ chủ nghĩa anh hùng đến nhu cầu đổi mới thi pháp, Nguồn:
ngắnthạchlam.
94. Phạm Xuân Thạch (2006), Suy nghĩ từ những tiểu thuyết mang chủ đề lịch sử,
Nguồn:
95. Phạm Xuân Thạch (2006),Tiểu thuyết như là trạng thái tìm kiếm ý nghĩa của đời
sống (Đọc Ngồi của Nguyễn Bình Phương, Nxb Đà Nẵng, 2006), Báo Văn nghệ, số
45.
96. Phạm Xuân Thạch (2005), Vấn đề kết cấu truyện ngắn Thạch Lam dưới ánh sáng
trần thuật học, Nguồn:
97. Phạm Xuân Thạch (2005), Cá nhân hoá hư cấu, Nguồn:
98. Bùi Việt Thắng (2005), Tiểu thuyết đương đại, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
99. Phạm Toàn (2000), Đọc tiểu thuyết Hồ Quý Ly, Tạp chí Xưa và Nay, số 10.
100. Phùng Văn Tửu (2009), Người kể chuyện xưng “tôi” trong văn chương hiện đại,
Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 11.
101. Phùng Văn Tửu (1990), Thi pháp hiện đại những tìm tòi và đổi mới, Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội.
102. Phùng Văn Tửu (2010), Tiểu thuyết trên đường đổi mới nghệ thuật, Nxb Tri thức,
Hà Nội.
http://www. vanhoahoc.edu.vn/content/view/765/84/. (Theo vietnamnet.vn)
118. Vũ Ngọc Khánh (2008), Nghiên cứu văn hoá cổ truyền Việt Nam, Nxb Văn hoá
thông tin, Hà Nội.
119. Nguyễn Ngọc Lanh (2009), Suy nghĩ về khái niệm trí thức, Nguồn:
/>ngam/Suy_nghi_ve_khai_niem_tri_thuc/. (Theo vietnamnet.vn)
120. Nhiều tác giả (1993), Đại Việt sử ký toàn thư (bản điện tử), Nxb Khoa học Hà Nội.
121. Nhiều tác giả (1960), Việt sử thông giám cương mục, Nxb Sử học, Hà Nội.
122. Nguyễn Bình Quân (2005), Sức sống Việt (Đặc điểm văn hoá Việt Nam), Tạp chí
Tia Sáng, số 7.
123. Ngô Đức Thịnh (chủ biên) (1996), Đạo mẫu ở Việt Nam, Nxb Văn hoá thông tin,
Hà Nội.
124. Nguyễn Khắc Thuần (2000), Việt sử giai thoại, tập 4, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
125. Đỗ Lai Thuý (2005), Quá trình nghiên cứu bản sắc văn hoá Việt Nam, Tạp chí Tia
Sáng, số 10.
126. Đỗ Lai Thuý (2006), Mối quan hệ văn hoá - văn học nhìn từ lý thuyết hệ thống,
Nguồn:
127. Đinh Công Vĩ (2009), Chuyện tình vua chúa hoàng tộc Việt Nam, Nxb Phụ nữ, Hà
Nội.
C. TÁC PHẨM VĂN HỌC
128. Tạ Duy Anh (2004), Thiên thần sám hối, Nxb Đà Nẵng.
129. Tạ Duy Anh (2004), Đi tìm nhân vật, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
130. Ngô Ngọc Bội (1990), Ác mộng, Nxb Lao động, Hà Nội.
131. Mạc Can (2004), Tấm ván phóng dao, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
132. Nguyễn Minh Châu (2009), Nguyễn Minh Châu tác phẩm chọn lọc, Tôn Phương
Lan giới thiệu và tuyển chọn, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
133. Nguyễn Mộng Giác (2003) Sông côn mùa lũ, Nxb Văn học, Hà Nội.
134. Nguyễn Việt Hà (2005), Khải huyền muộn, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
135. Nguyễn Việt Hà (2006), Cơ hội của chúa, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
136. Võ Thị Hảo (2005), Giàn thiêu, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.
137. Hoàng Quốc Hải (2006), Vương triều sụp đổ, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.
Nội.
166. Hồ Anh Thái (2004), Cõi người rung chuông tận thế, Nxb Đà Nẵng.
167. Nguyễn Quang Thân (2009), Hội thề, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.
168. Nguyễn Quang Thân (2001), Con ngựa Mãn Châu, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
169. Trần Nhã Thuỵ (2007), Sự trở lại của vết xước, Nxb Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí
Minh.
170. Kiều Thanh Tùng (2007), Sắc đẹp khuynh thành, Nxb Thanh Niên, Hà Nội.
171. Chu Thiên (1985), Bóng nước Hồ gươm, Nxb Văn học, Hà Nội.
172. Thuận (2009), Vân Vi, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
173. Vũ Trọng Thuật (2001), Quả dưa đỏ, Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh.
174. Nguyễn Viện (2003), Thời của những tiên tri giả, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.