Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương trong tiến trình đổi mới tiểu thuyết Việt Nam đương đại - Pdf 26


MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU……………………………………………………………
1. Lý do chọn đề tài……………………………………………………………
2. Lịch sử vấn đề………………………………………………………………
3. Phạm vi nghiên cứu…………………………………………………………
4. Phƣơng pháp nghiên cứu…………………………………………………….
5. Mục đích nghiên cứu…………………………………………………………
6. Cấu trúc của luận văn………………………………………………………
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: PHÁC THẢO BỨC TRANH CHUNG CỦA TIỂU THUYẾT
ĐƢƠNG ĐẠI VIỆT NAM…………………………………………………
1.1 Bức tranh chung về tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986…………………
1.1.1 Đổi mới về thể loại tiểu thuyết…………………………………………….
1.1.2 Đổi mới về quan niệm hiện thực………………………………………….
1.1.3 Đổi mới quan niệm về con người…………………………………………
1.2 Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phƣơng trong bức tranh chung của tiểu
thuyết Việt Nam đƣơng đại……………………………………………
1.2.1 Sơ lược về tiểu sử và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Bình Phương.
1.2.2 Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương………………………………………
CHƢƠNG 2: NHỮNG ĐỔI MỚI CƠ BẢN VỀ NỘI DUNG TIỂU
THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƢƠNG………………………………………
2.1 Hiện thực trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phƣơng……………………….
1
1
2
8

3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật…………………………………………….
3.2.1 Sự đan xen kiểu nhân vật ảo và thực…………………………………….
3.2.2 Mờ hóa nhân vật…………………………………………………………
3.3 Ngôn ngữ tiểu thuyết……………………………………………………….
3.3.1 Ngôn ngữ đậm chất kỳ ảo………………………………………………
3.3.2 Sự đan cài ngôn ngữ độc thoại và đối thoại……………………………
KẾT LUẬN……………………………………………………………………
THƢ MỤC THAM KHẢO………………………………………………
41
47
51
55
55
61
66

71
71
72
75
77
81
81
86
90
91
95
101
104


định “Nếu cần lựa chọn một hiện tượng tiêu biểu nhất của tiểu thuyết Việt Nam
đương đại, ưu tiên số một chắc chắn là những sáng tác của Nguyễn Bình Phương. Là

2
sản phẩm thành công nhất của trường viết văn Nguyễn Du, kiên định trong những ý
tưởng nghệ thuật, các sáng tác của anh kết tụ nhiều vấn đề có ý nghĩa tiêu biểu cho
tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ hậu chiến cả trên bình diện mỹ học lẫn kỹ thuật sáng tác
và mô hình tiểu thuyết. Đại diện cho một nỗ lực vượt thoát khỏi quan niệm giản đơn
về mỹ học phản ánh luận, đã diễn ra một sự thay đổi về bản chất trong mối quan hệ
hiện thực – sáng tác văn học trong những tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương” [43].
Với tài năng và sự tự tin, Nguyễn Bình Phương đã khẳng định mình với một
lối đi riêng. Bằng những cách tân, sáng tạo độc đáo, anh đã thay đổi được quan niệm
tiếp cận của độc giả và tạo nét mới cho tiểu thuyết Việt Nam. Lựa chọn và tìm hiểu
đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương trong tiến trình đổi mới tiểu thuyết Việt
Nam đương đại, chúng ta sẽ tìm ra một cách nhìn lịch sử - xã hội cụ thể về một
khuynh hướng mới, đó cũng là sự đi sâu nghiên cứu tìm hiểu để nắm vững hơn
phong cách cá nhân cũng như sự phát triển, đổi mới của nền tiểu thuyết Việt Nam
đương đại.
2. Lịch sử vấn đề
Từ sau tác phẩm đầu tay Bả giời ( NXB Quân đội nhân dân, 1991), Nguyễn
Bình Phương cho ra đời đều đặn 6 cuốn tiểu thuyết làm nên tên tuổi như: Vào cõi
(NXB Thanh niên, 1991), Những đứa trẻ chết già (NXB Văn học, 1994), Người đi
vắng (NXB Văn học, 1999), Trí nhớ suy tàn (NXB Thanh niên, 2000), Thoạt kỳ thủy
(NXB Hội Nhà văn, 2004), Ngồi (NXB Đà Nẵng, 2006).
Cũng như các nhà văn trẻ cùng thời, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt
Hà, Thuận Nguyễn Bình Phương đã nỗ lực, bứt phá tìm hướng đi mới cho tiểu
thuyết Việt Nam đương đại. Đi vào các tác phẩm của Nguyễn Bình Phương ta thấy
một lối viết rất lạ, mới mẻ từ cách nhìn hiện thưc, tiếp cận nhân vật, sáng tạo cốt
truyện, xây dựng không – thời gian cho đến sử dụng ngôn từ nhưng có một thực tế
là các tác phẩm của anh vào loại khó đọc, nếu như vẫn giữ lối mòn cũ là đi tìm cốt

Trong Tiểu thuyết hậu hiện đại sự hội ngộ của các tư duy tiểu thuyết hiện đại trong
tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương – Nguyễn Phước Bảo Nhân đã đánh giá cao những nỗ

4
lực đổi mới của Nguyễn Bình Phương để đưa tiểu thuyết Việt Nam “bắt nhịp” cùng
tiểu thuyết đương đại thế giới: “Sáng tác của anh được xem là hiện tượng đáng chú ý
nhất trong tiểu thuyết Việt Nam hiện nay. Trong nhiều thử nghiệm nhằm khai thác tiềm
năng thể loại Nguyễn Bình Phương, có sự đổi mới về tư duy nghệ thuật. Nguyễn Bình
Phương là người tiếp biến nhiều nhất tư duy và nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện
đại so với các nhà văn cùng thế hệ. Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương có sự hội tụ của
nhiều tư duy tiểu thuyết đương đại thế giới, trong đó đáng kể nhất là tiểu thuyết mới,
tiểu thuyết ngắn và tiểu thuyết hậu hiện đại” [50].
Phùng Gia Thế trong loạt bài :Cảm quan đời sống và những cách tân nghệ thuật
trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương [44]; Cảm nhận tiểu thuyết Nguyễn Bình
Phương [45] quan tâm tìm hiểu những dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Nguyễn
Bình Phương trên cả hai phương diện hiện thực, con người và cách tân nghệ thuật độc
đáo. Phùng Gia Thế cho rằng: “Nguyễn Bình Phương là nhà văn của cái đương đại.
Dầu có nói về quá khứ thì cảm quan cuộc sống của nhà văn vẫn tràn ngập hơi thở hôm
nay: sự đổ vỡ, khủng hoảng niềm tin, những vùng đau. Đọc Nguyễn Bình Phương,
người ta bàng hoàng đau đớn về thân phận con người. Tiểu thuyết của anh dung chứa
và thể hiện sinh động bao câu chuyện tâm thức của con người thời đại…Cái hấp dẫn
trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương thể hiện trước tiên ở kiểu cảm quan đời sống
đặc thù biểu hiện qua thế giới nghệ thuật độc đáo”. Người viết còn đưa ra những đánh
giá có tính tổng quát về nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương: “đó là một
đám đông những con người hao hụt nhân tính, méo mó, đầy bản năng, dục vọng, nhiều
thói tật, bệnh hoạn. Họ miên man trong cõi sống mà không có lấy một điểm tựa. Họ
không có thủ lĩnh, sống trong sợ hãi, cô đơn và đáng thương”.
2. Đáng chú ý là những bài đánh giá cụ thể về từng tác phẩm của các nhà nghiên cứu,
phê bình Đoàn Cầm Thi, Thụy Khuê, Phạm Xuân Thạch nhưng chúng tôi xin tập hợp
lại những ý kiến đánh giá của giới nghiên cứu, phê bình tập trung đặc biệt ở những tiểu

chiêm nghiệm. Đặc biệt, nó được xem xét trong mối quan hệ với điên và mộng, là hai

6
trạng thái trong đó vô thức hoạt động tích cực nhất, và lại khá gần nhau”[48] . Đoàn
Cầm Thi đã có những lời bình luận sắc sảo, nhạy bén về vấn đề tình dục, về đời sống
bản năng vô thức và đã nhìn nhận vô thức như là thành tố trung tâm trong tiểu thuyết
Nguyễn Bình Phương.
Thụy Khuê trong bài viết Thoạt kỳ thủy trong vùng đất Cậm Cam hoang vu
của Nguyễn Bình Phương lại đưa ra dẫn chứng và những kiến giải của mình để chỉ ra
những nét mới lạ độc đáo trong tác phẩm. Cũng theo Thụy Khuê: “Thoạt kỳ thủy là
một bài thơ dài đẫm máu và nước mắt, đẫm tang thương, đầy huyễn mộng, viết về
hành trình của một cộng đồng, dù đã nửa phần điên loạn, vẫn không biết mình đang
đi dần đến toàn phần điên loạn. Khởi đi từ cá nhân một đứa trẻ, lọt lòng mẹ vô tội,
đến trưởng thành máu mẻ, tự diệt. Thoạt kỳ thủy là hậu quả của việc trồng người
trong môi trường thường trực kích động chiến tranh. Là chuyện nhỡn tiền nhân quả.
Là thế giới con người trong vòng u mê tử khí. Thoạt kỳ thủy khởi tố những cách dìu
dắt trẻ thơ về những con đường chém giết, là hồi chuông cảnh tỉnh, báo hiệu những
nguy cơ của mảnh trần gian lấy bạo lực và dốt nát làm cẩm nang giáo dục con
người” [21].
Trong Nguyễn Bình Phương – Lục đầu giang tiểu thuyết, Đoàn Ánh Dương đi
vào phân tích, đánh giá hệ thống tác phẩm của Nguyễn Bình Phương và đặc biệt
đánh giá cao Thoạt kỳ thủy: “Thoạt kỳ thủy ghi một dấu mốc quan trọng trên hành
trình sáng tạo của Nguyễn Bình Phương” [12;12] .“Thoạt kỳ thủy xứng đáng được
coi là đỉnh cao nhất, sự hội tụ trọn vẹn và sung mãn của bút lực tiểu thuyết Nguyễn
Bình Phương. Thoạt kỳ thủy là tiểu thuyết tiêu biểu cho phương thức kỳ ảo trong lối
viết của Nguyễn Bình Phương. Nhưng đồng thời cũng là nơi thể hiện nhiều nét thành
công nhất trong việc xây dựng cấu trúc nghệ thuật” [12;16].
Tác phẩm gần đây nhất của Nguyễn Bình Phương là tiểu thuyết Ngồi cũng
nhận được không ít sự quan tâm, đánh giá khen chê của giới phê bình, nghiên cứu và
của nhiều bạn đọc. Lê Tự nhận định: “Ngồi là một cuốn sách viết hỏng”. Nguyễn

xộn và rối mù như đời sống của chúng ta. Nó không là một chân lý về đời sống mà là

8
một tiểu thuyết về chính cái trạng thái kiếm tìm ý nghĩa của đời sống. Nó là một cuộc
mời gọi đặt vấn đề phản tư về đời sống và ý nghĩa của đời sống. Nó là một tiểu
thuyết bắt người ta phải suy tư và làm điều ấy, nó xứng đáng là một tiểu thuyết và
một tiểu thuyết xuất sắc” [5;42].
Như vậy, từ khi ra đời, tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương đã được dư luận quan
tâm rộng rãi với những đánh giá xác đáng ghi nhận những thành công và cả những
hạn chế trong tiểu thuyết của anh. Nhưng những đánh giá này vẫn chỉ dừng lại ở
những bài viết “lẻ tẻ”, vẫn cần có những công trình khái quát toàn diện hơn nghiên
cứu về tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương. Công trình của chúng tôi hy vọng là lấp vào
khoảng trống này.
Những ý kiến đánh giá của giới nghiên cứu, phê bình và dư luận đối với các
tác phẩm của nhà văn có ý nghĩa gợi mở đối với chúng tôi khi thực hiện đề tài luận
văn. Chúng tôi đi vào tìm hiểu những đặc điểm trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình
Phương đồng thời đặt trong sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam đương đại, để
khẳng định những đóng góp của tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương cũng như khẳng
định sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam đương đại.
3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung khảo sát 7 cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương:
- Bả giời (NXB Quân đội nhân dân 1991, in lại năm 2004)
- Vào cõi ( NXB Thanh niên 1991)
- Những đứa trẻ chết già (NXB Văn học, 1994)
- Người đi vắng (NXB Văn học, 1999)
- Trí nhớ suy tàn (NXB Thanh niên, 2000)
- Thoạt kỳ thủy (NXB Hội Nhà văn, 2004)
- Ngồi (NXB Đà Nẵng, 2006).
Và một số tiểu thuyết khác của các nhà văn trong nền tiểu thuyết Việt Nam đương
đại để đối chiếu so sánh.
10
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: PHÁC THẢO BỨC TRANH CHUNG CỦA
TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI
1.1 Bức tranh chung về tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986
1.1.1 Đổi mới về thể loại tiểu thuyết
Trong lịch sử văn học, yếu tố thể loại được xem là chậm biến đổi hơn. Theo M.
Bakhtin thì chính thể loại “Là nhân vật chính của tấn kịch lịch sử văn học. Mỗi thể
loại, nhất là thể loại lớn, thể hiện một thái độ thẩm mỹ đối với hiện thực, một cách
nhìn nhận, cảm thụ, giải minh thế giới và con người”. Chính vì thế khi tìm hiểu sự
đổi mới của văn xuôi nghệ thuật sau 1975, không thể không đề cập, quan tâm tới vấn
đề thể loại.
Đối với văn học Việt Nam giai đoạn sau 1975, đa phần nhất trí đánh giá truyện
ngắn và tiểu thuyết là đạt được nhiều thành tựu nổi bật nhất. Tuy nhiên, sự khảo sát
của chúng tôi tập trung vào thể loại tiểu thuyết – thể loại được đánh giá là tín hiệu
mở ra một thời kỳ mới trong sáng tạo và tiếp nhận văn chương hiện đại.
Tư duy văn học thay đổi mạnh mẽ từ sau thời điểm 1986 và theo quy luật nó
phải được lắng kết ở những thể loại quan trọng nhất và cho tới nay, tiểu thuyết đã
bộc lộ ưu thế của mình trong đời sống văn học.
Nhìn từ góc độ thể loại, tiểu thuyết đã có những tìm tòi, cách tân ở một số
phương diện: cốt truyện, nghệ thuật trần thuật, nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu. Có
thể nói trong quá trình vận động và phát triển, tiểu thuyết Việt Nam đương đại đã tiếp
thu những yếu tố hậu hiện tại: tính chất hỗn loạn và bất ổn của trật tự đời sống, sự
xáo trộn hư và thực, những kiểu cấu trúc mới, mảnh vỡ, liên văn bản, trò chơi cấu
trúc, bút pháp nghịch dị, huyền ảo…Các yếu tố cơ bản của hậu hiện đại đã được các
nhà văn Việt Nam biểu hiện ở nhiều mức độ, phong cách khác nhau. Giai đoạn đầu
sau đổi mới, dấu ấn hậu hiện đại xuất hiện trong văn Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy
Thiệp. Ở chặng sau, nhiều cây bút đã thử nghiệm những lối viết mới, các tác giả có


12
nhiều kết thúc; sự phá vỡ các mạch truyền thống từ lối đặt tên nhân vật, lề lối kết cấu,
rubích, kính vạn hoa “Cuộc chơi kết cấu” này đã dẫn đến sự pha trộn giữa các thể
loại: có lúc như kịch, có lúc như “thơ không vần”, có lúc như kịch bản điện
ảnh…Những biến hình so với truyền thống của hình tượng nhân vật như: phi trung
tâm, vênh lệch giữa vai tính cách và vai hình tượng, không có nhân vật lí tưởng, phi
tính cách, nhân vật có khi chỉ như một cái bóng mờ ảo. Rồi những kiểu nhân vật dị
biệt, kì ảo, với những biến tướng đa dạng…
Điểm nhìn nghệ thuật và sự khai thác đời sống trở nên rất phức tạp. Ở một số
tác giả, những từ thông tục, từ tục tằn có xu hướng tăng lên. Rồi lối viết phóng túng
của nhà văn với những câu văn không chấm phẩy, phá cách, trật khớp trong đối thoại,
cả những ý nghĩ miên man, chắp nối vụn vặt, nhảy cóc của nhân vật… tạo nên một
“mê lộ ngôn từ”, nhấn chìm nhân vật trong những “dòng chảy cuồng nộ”…Phải
chăng việc phá vỡ khuynh hướng tuyến tính, đề cao tính bất định, đứt đoạn, phân
mảnh trong việc xây dựng cốt truyện là một trong những biểu hiện của chất hậu hiện
đại trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới. Với kiểu cốt truyện phân mảnh, các
nhà văn muốn thể hiện một quan niệm mới về hiện thực: Đó là một hiện thực không
toàn vẹn, một hiện thực đổ vỡ, rạn nứt, một cuộc sống đang tan rã dần dần, một cuộc
sống không dễ tìm mối tương giao, không có một hiện thực cố định để tiếp cận mà có
vô số hiện thực bất định để ứng phó. Thế giới là tập hợp của những mảnh vụn hiện
thực - mỗi mảnh vụn nằm ở một chỗ riêng của nó - mỗi mảnh vụn tự nó là một tâm
điểm, nó có giá trị tự thân của nó.
Có thể nói, không thể hiểu được sâu sắc tác phẩm văn học nếu không tìm hiểu
điểm nhìn nghệ thuật trần thuật. Đó là vị trí của người trần thuật quan sát, cảm thụ,
miêu tả và đánh giá đối tượng. Tìm hiểu tiểu thuyết Việt Nam đương đại, đáng chú ý
là ba hiện tượng: sự dịch chuyển điểm nhìn nghệ thuật, sự luân chuyển điểm nhìn
người trần thuật và nhân vật, nhiều điểm nhìn.
Trong văn học truyền thống, các tác phẩm văn học được xây dựng từ điểm
nhìn tương đối ổn định, đó là cái nhìn „„biết trước‟‟, người kể chuyện miêu tả, tái


14
vật trong tác phẩm. Nét độc đáo trong tác phẩm là phần lớn được nhìn bằng cái nhìn
của nhân vật Kiên, ngay đoạn mở đầu tác phẩm người đọc ngỡ như tác phẩm được kể
bằng ngôi thứ ba nhưng thực chất là sự giấu kín người trần thuật nhằm tạo nên sự bất
ngờ cho độc giả. Nhưng không chỉ dừng lại điểm nhìn của Kiên, tác giả còn đặt điểm
nhìn vào các nhân vật : cha của Kiên, Phán… Đáng lưu ý hơn là cái nhìn của Phương.
Yêu Kiên nhưng Phương có quan điểm riêng, khi Kiên sắp ra trận, Phương đã có cái
nhìn về chiến tranh khác với Kiên. Kiên cảm thấy cần tham chiến (gần với mẹ), còn
Phương suy nghĩ gần giống cha Kiên, nhìn thấy trước sự bi thảm của chiến tranh.
Mỗi người có cách cảm nhận, nhìn nhận về chiến tranh riêng (với nhiều điểm nhìn
trần thuật khác nhau) đã tạo nên sự đa chiều, cách xây dựng điểm nhìn của Bảo Ninh
khước từ cách nhìn một phía, áp đặt chiến tranh chỉ hiểu một cách duy nhất. Điểm
nhìn người trần thuật, xuất hiện ở phần cuối của tác phẩm, người kể chuyện xưng
„„tôi‟‟ mới xuất hiện. Tôi tình cờ có được bản thảo, kể lại việc sắp xếp của mình.
Người kể chuyện : „„Không hề có một chữ nào là của tôi trong bản thảo mới, tôi chỉ
xoay xoay vặn vặn như người chơi Rubíc vậy thôi. Nhưng sau khi chép xong đọc lại,
tôi ngỡ ngàng nhận thấy ý tưởng của mình, những cảm giác của mình, thậm chí cả
những cảnh ngộ của mình nữa. Dường như do sự tình cờ của câu chữ và bố cục, tôi
và tác giả đã ngẫu nhiên trở nên hòa đồng tư tưởng, trở nên rất gần nhau. Thậm chí
tôi ngờ rằng có quen anh trong chiến tranh‟‟[71]. Người kể chuyện chỉ ghi lại những
gì đã có của „„tôi‟‟ trong bản thảo (Kiên). Khi người trần thuật thấy mình và nhân vật
ngẫu nhiên hòa đồng, gần gũi tức là thừa nhận sự giống nhau về quan điểm. Người
trần thuật đã từng trải qua những đau đớn dằn vặt như nhân vật cuả mình – hình thức
trải nghiệm trong trải nghiệm. Nhưng khi người kể chuyện nói tới tình trạng „„Mỗi
người trong chúng tôi bị chiến tranh chà nát theo một kiểu riêng, mỗi người ngay từ
ngày đó đã mang trong lòng một cuộc chiến tranh của riêng mình‟‟[71], chính vậy
đã hé mở khả năng có thể sẽ có rất nhiều cuộc chiến tranh khác nữa được kể lại vì
mỗi người có một cuộc chiến tranh riêng, một nỗi buồn riêng.


16
tiểu thuyết lại gần gũi với đời sống, nó mang những đặc trưng thể loại : tính văn xuôi,
tính tổng hợp, tính đa thanh. So với ngôn ngữ thi ca, ngôn ngữ tiểu thuyết có phạm vi
hoạt động tự do linh hoạt hơn. Trong ngôn ngữ của nhân vật, tiểu thuyết thu nạp các
dạng thức lời nói khác nhau của nhiều tầng lớp trong xã hội. Tiểu thuyết miêu tả
cuộc sống như nó vốn có, ngôn ngữ tiểu thuyết được soi sáng không chỉ bởi ngôn
ngữ tác giả mà còn được soi sáng bởi ngôn ngữ nhân vật. Tính đối thoại là yếu tố cơ
bản của ngôn ngữ tiểu thuyết, tác giả cùng tham gia tranh luận với ngôn ngữ nhân vật,
hòa nhập đối thoại với nhân vật. Ý thức đối thoại trong tiểu thuyết thời kỳ đổi mới
được triển khai và phát huy trong bối cảnh lịch sử mới, trong không khí dân chủ hóa
của đời sống văn học. Ngôn ngữ tiểu thuyết đương đại gần với ngôn ngữ đời thường ,
đậm khẩu ngữ tiêu biểu như Thời xa vắng của Lê Lựu, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai,
Cơ hội của chúa - Nguyễn Việt Hà, Đi tìm nhân vật -Tạ Duy Anh, Thoạt kỳ thủy –
Nguyễn Bình Phương…
Ngôn ngữ độc thoại nội tâm cũng đóng vai trò quan trọng trong tiểu thuyết
đương đại, góp phần đi sâu vào thế giới nội tâm đầy bí ẩn của nhân vật, các nhà văn
đã sử dụng những giấc mơ thông qua kỹ thuật dòng ý thức để biểu hiện độc thoại nội
tâm đã giúp các nhà văn khai thác và khám phá thế giới tâm linh của con người. Tiếp
thu những thủ pháp dòng ý thức của tiểu thuyết phương Tây làm phương tiện đi vào
thế giới tâm linh của nhân vật. Kỹ thuật dòng ý thức sử dụng dòng thời gian đồng
hiện, hồi ức, hoài niệm, dòng suy tưởng, những giấc mơ để nhân vật tự bộc lộ những
miền sâu kín của tâm hồn nằm ngoài vòng kiểm soát của ý thức con người. Nhiều tác
phẩm đã sử dụng môtíp giấc mơ như một ngôn ngữ độc thoại đặc biệt để giải mã thế
giới vô thức của con người, thể hiện rõ nét trong tác phẩm Ngồi, Người đi vắng –
Nguyễn Bình Phương, Nỗi buồn chiến tranh – Bảo Ninh, Giàn thiêu – Võ Thị Hảo…
Giọng điệu tiểu thuyết Việt Nam đương đại cũng rất đa dạng. Có giọng thương
cảm trữ tình, có giọng suồng sã, giọng chua chát, bi thương, giọng ỡm ỡ, giọng suy
tưởng, triết lý…Giọng điệu có vai trò quan trọng trong việc thể hiện cá tính sáng tạo
của tác giả. Mỗi nhà văn trong sự làm mới thể loại cũng làm mới giọng điệu, góp


Giọng chủ đạo trong tiểu thuyết đương đại Việt Nam còn có giọng vô âm sắc,
cung cấp sự thật không kèm theo giọng điệu, không có ngữ điệu. Giọng điệu vô âm
sắc xuất hiện nhiều trong tiểu thuyết của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn
Bình Phương, Thuận…Ở tiểu thuyết Thoạt kỳ thủy – Nguyễn Bình Phương dùng
giọng kể đều đều, như một „„giọng văn trắng‟‟, câu văn đặt cạnh nhau khô khan, rời
rạc, các chi tiết được giản lược tối đa, lược bỏ lời chỉ dẫn, chủ thể phát ngôn : „„Bị
dắt đi, dắt đi. Có mấy sợi lông mao treo dưới tán lá đen. Hai người ngồi trong hốc
cổ thụ nói về máu. Đập đập đập đập đập…đẻ ả từ nách này‟‟[64]. Trong tiểu thuyết
T mất tích ngay từ đoạn mở đầu Thuận viết : „„T mất tích. Cảnh sát, sau bốn mươi
tám tiếng đúng quy định hình sự, đã khẳng định như vậy và tung kế hoạch truy tìm
trên phạm vi toàn quốc.‟‟. Giọng điệu vô âm sắc cũng góp phần làm nổi bật hiện thực
phân rã, vỡ vụn, qua đó làm rõ trạng thái cô đơn của con người.
Đa dạng về giọng điệu đã tạo nên sự phong phú, nhiều diện mạo phong cách
của tiểu thuyết đương đại Việt Nam, kết hợp nhiều giọng điệu xuất hiện nhiều ở cuối
thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI góp phần đưa văn học Việt Nam hòa chung vào xu thế
hậu hiện đại thế giới.
Tiểu thuyết Việt Nam đương đại đã có ý thức tìm tòi, đổi mới nghệ thuật và kỹ
thuật tiểu thuyết gắn với nội dung nhân văn đã thúc đẩy thể loại phát triển, góp phần
cách tân và hiện đại hóa văn xuôi Việt Nam. Bằng tài năng, tâm huyết các tác giả tiểu
thuyết đã nỗ lực tìm tòi, đổi mới tư duy nghệ thuật tiểu thuyết đưa tiểu thuyết Việt
Nam hòa nhịp với văn học nhân loại, tạo nên diện mạo mới cho tiểu thuyết và cho
văn học Việt Nam đương đại.
1.1.2 Đổi mới quan niệm về hiện thực
Văn học bắt nguồn từ cuộc sống, phản ánh cuộc sống, bày tỏ quan điểm, lập
trường đối với đời sống. Ở mỗi giai đoạn khác nhau, văn học có cách phản ánh và
nội dung phản ánh khác nhau. Hiện thực nổi bật nhất của văn học giai đoạn trước đổi
mới là hiện thực của đời sống chính trị xã hội với hai nội dung chính: cuộc chiến
tranh vệ quốc và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Khi toàn dân tộc một lòng

19

thực vĩ đại nhất. Chiến tranh trở thành hiện thực lớn nhất được phản ánh trong nhiều
tác phẩm tiêu biểu như: Người mẹ cầm súng – Nguyễn Thi, Đất nước đứng lên –
Nguyên Ngọc, Dấu chân người lính – Nguyễn Minh Châu, Vỡ Bờ - Nguyễn Đình
Thi… Nhìn lại nền văn học Việt Nam từ 1945 – 1975 mang đậm chất sử thi, phù hợp
với thời đại lịch sử hào hùng “Cả nước cùng chung tâm hồn, cùng chung khuôn mặt”
(Chế Lan Viên). Chiến tranh kết thúc, đất nước bước vào kỷ nguyên độc lập, nhu cầu
đổi mới toàn diện đời sống được đặt ra như một vấn đề sống còn. Văn học cũng vậy,
đời sống thay đổi văn học cũng phải vận động để phù hợp với thực tế. Từ sau đổi
mới, văn xuôi chuyển sang cảm hứng thế sự - đời tư và thực tế, văn học vẫn đậm chất
sử thi nhưng đã mang nội dung hiện thực, đã xuất hiện nhiều tác phẩm mang cảm
hứng thế sự được đông đảo công chúng quan tâm chú ý như Mùa lá rụng trong vườn
(Ma Văn Kháng), Hành trình ngày thơ ấu (Dương Thu Hương), Thời xa vắng (Lê
Lựu)… Từ sau năm 1986 các tác phẩm thế sự đã hoàn toàn chiếm ưu thế trên văn
đàn, từ sau năm 1990 hàng loạt tiểu thuyết xuất hiện đều được viết bởi cảm hứng thế
sự : Bên kia bờ ảo vọng, Hôn nhân không có giấy giá thú, Một cõi nhân gian bé tý,
Ăn mày dĩ vãng, Thiên sứ…đều đặt ra vấn đề đời sống từ góc độ đạo đức – sinh hoạt,
đời tư cá nhân.
Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới đã tiếp cận và khai thác sâu hơn vào cái hiện thực
hàng ngày, cái đời thường của đời sống cá nhân. Nhìn thẳng vào những mảnh vỡ,
những bi kịch nhân sinh, mổ xẻ, phơi bày bằng cái nhìn trung thực, táo bạo, hướng
tới thân phận con người mang đậm giá trị nhân văn. Đáp ứng nhu cầu nhận thức đánh
giá lại những vấn đề của quá khứ, nhiều tác phẩm đã khai thác vấn đề cải cách ruộng
đất với tinh thần trung thực của văn học, nhận thức lại những sai lầm ấu trĩ, những
mặt trái của hiện thực được xem xét kĩ lưỡng, công bằng hơn. Mảnh đất lắm người
nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Những thiên đường mù (Dương Thu Hương) là
những tác phẩm như thế. Nếu trước kia, văn học thiên về ca ngợi biểu dương, khẳng
định cái tích cực, đẹp đẽ thì bây giờ có nhu cầu bổ sung bằng khám phá mặt trái, mặt
tiêu cực và sức mạnh phê phán. Trong “Mảnh đất lắm người nhiều ma” (Nguyễn

21

Rồi một buổi sáng nọ, Phùng đã bắt gặp một cảnh “đắt” trời cho: “trước mặt tôi là
bức tranh mực tàu của danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào
bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh sáng mặt trời
chiếu vào…một vẻ đẹp thật đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi bối rối,
trong trái tim có gì bóp thắt vào”. Người nghệ sĩ cảm thấy hạnh phúc tràn ngập tâm
hồn mình, do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại, anh “tưởng chính mình
vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc
trong ngần của tâm hồn”. Nhưng khi con thuyền vào bờ, vẻ đẹp toàn bích, lung linh
kia không còn nữa mà thay vào đó là một người đàn bà xấu xí, khuôn mặt mệt mỏi và
một người đàn ông thô kệch, con mắt đầy vẻ dữ tợn :“lão đàn ông lập tức trở nên
hùng hổ, mắt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày
xưa, …lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp
vào lưng người đàn bà… Người đàn bà với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục, không
hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách chạy trốn.” Cuộc sống có
nhiều mặt, nhiều vẻ nhà văn không thể nhìn cuộc sống bằng con mắt phiến diện, chỉ
nhìn thấy mặt này mà không thấy mặt kia, chỉ thấy bề ngoài mà không nắm được bản
chất bên trong. Người nghệ sĩ không thể chỉ chú trọng vào cái đẹp, cái cao cả mà bỏ
qua những mặt khác của cuộc sống.
Hòa bình lặp lại với bao điều mới mẻ nhưng cũng nhiều bức xúc, bộn bề của
thời hậu chiến, điều đó đã mở ra một hướng đi mới cho văn học. Phạm vi hiện thực
toàn diện hơn, chân thực hơn. Từ hiện thực cuộc sống mới văn học tìm đến cuộc
sống nhân sinh, thế sự đời tư mới mẻ, chân thực, đậm chất nhân văn và gần gũi với
con người. Các tác phẩm tiêu biểu của giai đoạn này có thể kể đến : Cha và con,
Cuộc gặp gỡ cuối năm – Nguyễn Khải, Mảnh đất lắm người nhiều ma – Nguyễn
Khắc Trường, Cỏ lau, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Khách ở quê ra…-
Nguyễn Minh Châu… Các tác giả đã tìm đến những mảng hiện thực bộn bề của đời
thường bày tỏ ý thức trách nhiệm với cuộc đời với con người.

23
Viết về chiến tranh, bên cạnh những chiến công hiển hách, những tượng đài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status