Ngôn ngữ trần thuật trong
tiểu thuyết Việt Nam đương đại Hình như Khẩn ở đây từ xa xưa, đã bước mòn những bậc đá, rễ tùng nhưng chưa
hề quen biết bất cứ một người đàn bà nào (1). Thật không nhỉ? (2 ). Thật (3). Phía trước
có một cái am nhỏ, một mùa thu ta đã ngủ trong ấy suốt ba ngày và đã mơ thấy hòn đá
hình Phật nằm (4). Rồi sau ta nhặt được hòn đá ấy giữa lòng đoạn suối cạn sau một đêm
trăng đổ trắng xóa (5). Ta đã đem về làm gối ngủ (6). Nó còn không (7)? Chắc là còn
(8). Một quả chín rụng xuống, tiếng rụng mà an nhiên làm sao (9). Đời người cũng thế,
cũng rụng xuống giữa mênh mông bạt ngàn ngày tháng, mênh mông bạt ngàn giận hờn
yêu ghét (10). (Ngồi– Nguyễn Bình Phương).
Diễn ngôn trên có sự kết hợp cùng lúc lời kể, lời tả, lời bình luận, lời độc thoại
(của người kể chuyện mang điểm nhìn luân phiên giữa điểm nhìn của chính mình và
điểm nhìn của nhân vật):
Câu (1): lời kể của người kể chuyện mang điểm nhìn toàn tri, nhìn về chuyện của
người thứ ba (Khẩn) một cách khách quan và biết tường tận. Dấu hiệu câu kể nằm ở thì
quá khứ với sự xuất hiện của từ đã (nếu với tiếng Anh, Pháp, dấu hiệu sẽ nằm ở thì của
động từ và sẽ dễ thấy hơn so với tiếng Việt).
Câu (2), (3) và (7), (8) là những câu vắng chủ thể. Ở đây có sự xen lẫn vào nhau của
lời nhân vật và lời người kể đến mức khó phân biệt (Tuy nhiên nếu (2) và (3) nghiêng về lời
người kể chuyện thì (7) và (8) có vẻ là lời nhân vật). Cứ một cặp hai câu là một đối đáp (hỏi
2. Tính chất đa thanh của ngôn ngữ người kể chuyện trong tiểu thuyết Việt
Nam đương đại
Bakhtin là một trong những nhà lí luận đầu tiên đề cập đến tính đa thanh
(polyphonic) của tiểu thuyết. Đối chiếu tiểu thuyết Dostoievski (tiểu thuyết phức điệu) và
tiểu thuyết truyền thống (tiểu thuyết độc thoại), Bakhtin khẳng định tính đa thanh của tiểu
thuyết hiện đại. Theo Bakhtin, đa thanh là: “Tính nhiều tiếng nói và nhiều ý thức độc lập
không hòa đồng với nhau, tính phức điệu thực thụ của những tiếng nói có đầy đủ giá trị”
(5)
;
Như vậy, đa thanh là việc tổ chức đồng thời những tiếng nói khác nhau.Văn bản đa thanh
gồm nhiều giọng: giọng nhân vật, giọng người kể chuyện, giọng tác giả tạo nên độ căng và
sự tương phản đáng kể. Những tiếng nói ấy có sự độc lập tương đối, mang đầy đủ giá trị tự
thân.
Vấn đề tổ chức đồng thời những tiếng nói khác nhau cũng được các nhà trần thuật
học quan tâm. Theo Genette, trần thuật ngôn từ (narrative of words) gồm ba cấp độ: diễn
ngôn được mô phỏng, diễn ngôn được trần thuật và diễn ngôn đảo.Diễn ngôn được mô
phỏng là đối thoại được ghi lại bởi người kể chuyện (lời trực tiếp). Diễn ngôn được trần
thuật là đối thoại được tóm tắt bởi người kể chuyện hiện hữu (còn gọi là lời gián tiếp). Diễn
ngôn đảo là đối thoại được đưa ra theo lối nói gián tiếp nhưng vẫn giữ được dấu ấn ngôn từ
riêng của nhân vật (còn gọi là lời gián tiếp tự do).
Đưa ra ba cấp độ của trần thuật ngôn từ, phân biệt giữa đối thoại được ghi lại bởi
người kể chuyện, đối thoại được người kể chuyện tóm tắt lại và đối thoại được ghi lại bởi
lời gián tiếp nhưng vẫn mang nét riêng của ngôn ngữ nhân vật; Genette quan tâm đến việc
đối thoại được đưa vào truyện kể ra sao; người kể chuyện đã làm thế nào để biến lời thoại
thành lời kể.
Tiểu thuyết đa thanh là một thành tựu lớn của văn học Việt Nam sau 1986. Chúng tôi
vận dụng lí thuyết Genette khi đi sâu tìm hiểu tính chất đa thanh của ngôn ngữ trần thuật
trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Bởi lẽ, không thể tồn tại việc nhiều giọng trong tiểu
thuyết nếu không có sự xuất hiện đồng thời của nhiều tiếng nói, trong đó sự hòa trộn giữa
lời người kể chuyện và lời nhân vật là một trường hợp tiêu biểu.
Trừ câu mở đầu và kết thúc, đoạn văn thuần túy là lời kể của người kể chuyện hướng
đến việc mô tả hành động của nhân vật và giới thiệu “chuyện” muốn kể (chuyện họp lại
trường hợp của Nghĩa); các câu còn lại đều là sự thuật lại lời nói của nhân vật bởi người kể
chuyện. Những chỉ dẫn cho biết ai nói, ai mới là chủ thể của phát ngôn trong lời thuật lại
của người kể chuyện được thể hiện bằng công thức: nhân vật + động từ chỉ việc nói năng
(Ông Tước cho rằng, Khẩn bảo, Ông Tước hỏi, Khẩn cãi, Ông Tước lầu bầu…). Đây
chính là phần lời chỉ dẫn của người kể chuyện. Nhưng tiếp theo đó là lời nhân vật (vốn là
lời của nhân vật) được người kể chuyện thuật lại (có ai cầm tay ông Việt giơ lên đâu, rõ
ràng nội bộ ban cậu vẫn còn hiện tượng bằng mặt nhưng không bằng lòng…). Chỉ bằng
cách thêm vào những chỉ dẫn (ai nói) và đưa nguyên lời nói của người ấy vào, lời nhân vật
đã trở thành lời người kể chuyện.