ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_________________ HOÀNG DĨ ĐÌNH
(HUANG YITING) NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975
(TRÊN TƯ LIỆU TRUYỆN NGẮN BA NHÀ VĂN NỮ) LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2012 MỤC LỤC
Phần Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu 3
3. Đóng góp mới của luận án 3
4. Phạm vi nghiên cứu 4
5. Đối tượng nghiên cứu 4
6. Phương pháp nghiên cứu 5
7. Cấu trúc luận án 5
Phần nội dung
Chương 1 Cơ sở lý thuyết về Ngôn ngữ trần thuật 6
1.1 Tổng quan những thành quả nghiên cứu về Ngôn ngữ trần thuật 6
1.2 Quan niệm về "trần thuật" và "ngôn ngữ trần thuật" 14
1.2.1
Quan niệm theo hướng ngôn ngữ học-lý thuyết hành động ngôn
từ
14
1.2.2
Các quan niệm theo hướng văn học 15
1.2.3
Định nghĩa của "ngôn ngữ trần thuật" 21
2.2.3
Người trần thuật đứng bên trong truyện – người trần thuật nhân
vật
66
2.3 Người trần thuật với mức độ được nhận biết trong truyện 76
2.4 Người trần thuật trong quan hệ với tác giả tiềm ẩn 86
Tiểu kết. 91
Chương 3 Điểm nhìn trong truyện ngắn các nhà văn nữ 97
3.1 Dẫn nhập 97
3.2 Mối quan hệ giữa các yếu tố của điểm nhìn 98
3.2.1
Các yếu tố của điểm nhìn 99
3.2.2
Mối quan hệ giữa các yếu tố của điểm nhìn 103
3.3 Mối quan hệ giữa điểm nhìn và nhân xưng 105
3.3.1
Vai trò của nhân xưng và ngôi trong điểm nhìn 105
3.3.2
Mối quan hệ giữa điểm nhìn với nhân xưng 109
3.3.3
Sự đan xen của cái tôi trần thuật và cái tôi từng trải 135
3.4 Các phương thức làm thay đổi điểm nhìn 142
3.4.1
4.4.4
Những từ ngữ mang tính chất lịch sử - thời đại 188
4.4.5
Những ngữ đoạn miêu tả về thời gian 188
Tiểu kết. 189
Kết luận và kiến nghị 191
Chú thích. 194
Danh mục công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận án. 195
Tài liệu tham khảo. 196
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thể loại truyện ngắn trong suốt thế kỷ 20 là một dòng chảy liên tục, thời nào cũng
có nhiều thành tựu. Đặc biệt từ sau 1975, trong sự đổi mới văn học, truyện ngắn đã đóng
vai trò quan trọng với sự đóng góp của các nhà văn thuộc nhiều thế hệ.
Nếu như văn học Việt Nam trước năm 1975 mang tính chất sử thi, là tiếng nói của
dân tộc của quốc gia, thì văn học Việt Nam sau 1975 lại mang tính chất thế sự, là tiếng
nói của người dân của đời tư. Năm 1975 là cái mốc phân chia giai đoạn phát triển lịch
sử cũng như văn học ở Việt Nam. Sau 1975, nhất là sau 1986, với làn gió đổi mới mở
cửa, văn học Việt Nam thật sự đã mới hơn giai đoạn trước rất nhiều: không những mới
ở ý thức sáng tác, tư duy nghệ thuật, mà còn mới ở hiện thực được phản ánh trong các
thiên truyện cũng như các phương thức nghệ thuật, trong đó, có ngôn ngữ trần thuật là
Việt Nam sau 1975.
Số lượng truyện ngắn của các nhà văn nữ Việt Nam rất phong phú. Những nghiên
cứu, phê bình về tác phẩm cũng như về vấn đề phụ nữ được phản ánh qua tác phẩm từ
khía cạnh tác giả - ý nghĩa tác phẩm dễ tìm thấy từ các trang báo, các tạp chí. Nhưng,
các bình luận, ý kiến bàn sâu về ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn các nhà văn nữ
trên bình diện ngôn ngữ học với các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học thì vẫn còn
khiêm tốn. Đi sâu nghiên cứu đề tài Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn các nhà văn
nữ Việt Nam, sẽ góp phần tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ trần thuật (từ người trần thuật,
điểm nhìn, thời gian ) trong truyện ngắn của các nhà văn nữ, qua đó, rút ra những khám
phá lí luận về ngôn ngữ trần thuật của các nhà văn nữ và phương pháp nghiên cứu mới
về truyện ngắn của các nhà văn nữ.
Đây là một đề tài nghiên cứu chủ yếu dựa trên các lí thuyêt cơ sở của Ngôn ngữ
học để triển khai khảo sát và nghiên cứu. Đồng thời, cũng là một đề tài nghiên cứu
xuyên ngành. Những lí thuyết về Hành động ngôn từ, Ngữ pháp học, Ngữ nghĩa học,
Ngữ dụng học, Văn bản học, Tự sự/Trần thuật học đã cung cấp khung lí luận hữu quan
cho chúng tôi tiếp cận kết quả nghiên cứu của luận án.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu: Giới thuyết khái niệm Ngôn ngữ trần thuật, những yếu
tố, những vấn đề liên quan, và xem đó là công cụ then chốt, chiếu ứng với đối tượng
nghiên cứu, nhận diện nó trong loại hình ngôn ngữ trần thuật của tác phẩm truyện ngắn
nữ.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Vận dụng khái niệm Ngôn ngữ trần thuật vào nghiên
cứu các tác phẩm truyện ngắn nữ. Khảo sát, phân tích và miêu tả đặc điểm các phương
diện/cấp độ ngôn ngữ trong lời trần thuật. Trên cơ sở đó, chỉ ra những nét nổi bật trong
phong cách ngôn ngữ của từng tác giả được biểu hiện qua tác phẩm truyện ngắn.
2.3 Đi sâu tìm hiểu
- Đặc điểm, phong cách ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn các nhà văn nữ;
- Phân tích chiến lược trần thuật của các nhà văn nữ.
3. Đóng góp mới của luận án
3.1 Về giá trị lý luận
- Các tập truyện có liên quan đến các tác giả trên như Bốn cây bút nữ của Bùi Việt
Thắng,
5. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu về Đặc điểm ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn các nhà
văn nữ Việt Nam từ những khía cạnh như Người trần thuật, Điểm nhìn, Thời gian, Hình
thức ngôn ngữ đặc biệt
- Ở cấp độ Người trần thuật, luận án nghiên cứu về Người trần thuật với cấp bậc
trần thuật và trong quan hệ với truyện kể, Người trần thuật với trình độ được nhận biết
trong truyện và Người trần thuật trong quan hệ với tác giả tiềm ẩn;
- Ở cấp độ Điểm nhìn, luận án nghiên cứu về Mối quan hệ giữa các yếu tố của
điểm nhìn, Mối quan hệ giữa điểm nhìn và nhân xưng và Các phương thức làm thay đổi
điểm nhìn;
- Ở cấp độ Thời gian, luận án nghiên cứu về Tính chất thời gian “một chiều”,
Tính chất thời gian “đa chiều” và Các phương thức biểu hiện thời gian trong văn bản.
6. Phương pháp nghiên cứu
Luận án này được thực hiện theo hướng nghiên cứu của Ngôn ngữ học, đặc biệt là
theo hướng nghiên cứu của lý thuyết về tính hệ thống và cấu trúc. Trước một đối tượng
như vậy, luận án sẽ áp dụng một số phương pháp nghiên cứu như phương pháp miêu tả
ngôn ngữ, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp phân
tích ngữ nghĩa-ngữ dụng, phương pháp phân tích diễn ngôn trên cơ sở thu tập, phân
tích ngữ liệu nắm được để tìm ra đặc điểm Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn các
nhà văn nữ Việt Nam nói chung cũng như đặc điểm ngôn ngữ trần thuật của từng nhà
văn nữ đã nêu ỏ trên nói riêng. Hướng xử lí tư liệu và những khái quát của luận án sẽ cố
gắng tuân thủ tối đa những phương pháp khoa học này.
7. Cấu trúc của luận án
Tương ứng với nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, ngoài phần Mở đầu và phần Kết
luận, nội dung luận án sẽ đươc triển khai trong 4 chương:
Chương 1. Cơ sở lý thuyết của Ngôn ngữ trần thuật
Chương 2. Người trần thuật trong truyện ngắn các nhà văn nữ
Chương 3. Điểm nhìn của ngôn ngữ trần thuật trong các truyện ngắn các nhà
luận án, chúng tôi sẽ chỉ nghiên cứu ngôn ngữ của người trần thuật. Ngôn ngữ đã cấu
trúc lên phương thức trần thuật. Đối với một tiểu thuyết, cái quan trọng là nó được viết
như thế nào, bằng một hệ thống ngôn từ gì và hình thức câu như thế nào để làm cho câu
chuyện/sự kiện xảy ra trước mắt người đọc. Tất cả những thứ trên có liên quan đến cấu
tạo nội bộ trên bình diện ngôn ngữ của tác phẩm văn học/văn bản tự sự được tổng hợp
lại trong một khái niệm Ngôn ngữ trần thuật. Như vậy, muốn hiểu thấu đáo một văn bản
tự sự nào đó, cần tìm hiểu về Ngôn ngữ trần thuật.
Ngôn ngữ trần thuật (Narrative discourse trong tiếng Anh, Discours naratif trong
tiếng Pháp) là một khái niệm hết sức trừu tượng, phức tạp, liên quan đến rất nhiều yếu tố
trong việc trần thuật. Nếu tiếp cận khái niệm Ngôn ngữ trần thuật từ khía cạnh khác
nhau, tức là, nếu xuất phát từ Ngôn ngữ học, Văn học, Tự sự học hay là Văn bản học
thì sẽ có những nhận xét và đánh giá khác nhau về yếu tố cấu thành, nội hàm, ngoại diên,
tác dụng hay vai trò của nó. Tuy nhiên, cũng có phần trùng hợp hoặc đan xen nhau.
Trong các tài liệu chúng tôi nắm được, hầu như không một ai tập trung nêu ra, hoặc định
nghĩa cụ thể về Ngôn ngữ trần thuật. Vậy, có thể nói, Ngôn ngữ trần thuật là một tập hợp
thể của những yếu tố liên quan.
Bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ 20, khái niệm Ngôn ngữ trần thuật được
nhiều ngành, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến và luận bàn một cách đa dạng từ nhiều
khía cạnh khác nhau với nội dung ngày một phong phú hơn. Những công trình nổi tiếng
liên quan đến vấn đề Ngôn ngữ trần thuật thời kỳ này của các nhà nghiên cứu Trần thuật
học/Tự sự học, Ngôn ngữ học, Văn học cũng lần lượt ra mắt công chúng với một số
lượng đáng kể.
Ở phương Tây có: Lý luận tự sự đương đại (Recent Theories of Narrative) của
Wallace Martin (1986), Nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể (Introduction to the
Structural Analysis of Narratives) của Roland Barthes (1977), Ngôn ngữ trần thuật –
ngôn ngữ trần thuật mới (Narrative Discourse – New Narrative Discourse) của G.
Genette (1986), Trần thuật học: Dẫn luận lý luận tự sự (Narratology: Introduction to the
Theory of Narrative) của Mieke Bal (1985, 1997). Kết cấu của thời gian trong tự sự hư
cấu (La Configuration Du Temps Dans Le Récit De Fiction) của Paul Ricoeur
(1983-1985), Quyền uy của sự hư cấu (Fictions ò Authority) của Susan S. Lanser
Narrative Discourse) của G. Genette.
Genette đã vận dụng lý thuyết Trần thuật học để khảo sát và bàn luận về bộ tiểu
thuyết nổi tiếng Đi tìm thời gian đã mất của nhà văn trứ danh Pháp Marcel Proust.
Trong dẫn luận của Ngôn ngữ trần thuật, Genette đã khu biệt ba hàm nghĩa của tự sự (la
recit), định nghĩa ba khái niệm truyện, tự sự và trần thuật. Đồng thời, Genette cũng
vận dụng cả lý thuyết ngôn ngữ học của Ferdinand de Saussure để giải thích truyện kể,
tự sự và trần thuật. Trong đó, “cái được biểu đạt” hoặc nội dung trần thuật tức truyện
kể - thường chỉ những sự kiện/sự tình hoặc chân thực hoặc hư cấu; “cái biểu đạt”, trình
bày, lời nói hoặc văn bản trần thuật là tự sự theo nghĩa gốc - chỉ những chuỗi lời nói
hoặc văn bản kể về những sự kiện/sự tình đó; còn tất cả những hành động kể/trần thuật
mang tính sáng chế (sản xuất ra những văn bản có nội dung truyện kể) và kể cả những
tình cảnh thực hay hư ảo mà hành động trần thuật xảy ra trong đó đều là trần thuật. [71,
tr. 7]
Một hàm nghĩa nổi bật nhất, quan trọng nhất và cũng được chú ý nhiều nhất của
tự sự là nó đảm nhiệm bằng miệng hoặc chữ viết công việc trình bày về một hay một
chuỗi sự kiện/sự tình. Rõ ràng với nghĩa như thế tự sự là chỉ hành động trần thuật. Vậy
không có hành động trần thuật thì không có trần thuật, có khi thậm chí không có nội
dung trần thuật. [71, tr. 6] Có hành động trần thuật thì phải có chủ thể trần thuật. Genette
quan niệm rằng, không thể có những tự sự không có người trần thuật. Nếu không có
người trần thuật, tự sự sẽ không thể được thực hiện, và đó sẽ là một hành động vô trần
thuật, vì thế cho nên nó dứt khoát là một trần thuật không có hành động giao tiếp [71, tr.
68].
Cũng trong cuốn sách này, Genette chia khái niệm tự sự (theo nghĩa rộng) ra ba
phạm trù: Thời gian (quan hệ thể hiện thời gian truyện kể và thời gian ngôn ngữ/lời nói);
Ngữ thể (phương thức cảm nhận truyện kể của người trần thuật, gồm vấn để “điểm
nhìn”) và Ngữ thức (các loại hình lời nói được người trần thuật sử dụng, tập trung thể
hiện vấn đề “khoảng cách” và ngôi) [71, tr. 9]. Đó sẽ là những luận cứ quan trọng của
luận án chúng tôi.
Khi kể về một sự kiện/sự tình, người ta có thể kể ít hay nhiều tùy từng trường hợp
và ý mình, cũng có thể kể từ khía cạnh này nọ tùy theo sự cần thiết của mình. Phạm trù
Genette) [73, tr. 2].
1.1.3 Lý luận tự sự hậu hiện đại của Mark Currie tập trung thảo luận những đổi
thay của hậu hiện đại và giải cấu mang tính chất triệt để về các yếu tố lí luận tự sự như
“khách thể tự sự”, “thời gian và không gian tự sự”, “chủ thể tự sự” vân vân trong Tự
sự học truyền thống hay còn gọi là Tự sự học kinh điển. Tư tưởng của tác giả đã tiếp
nhận và thể hiện những trào lưu tư tưởng hiện đại của các đại gia, trong đó, có Chủ
nghĩa giải cấu của Derrida, Hình thái ý thức của Althusser, Chủ nghĩa Hậu hiện đại của
Triết gia Pháp Jean-Francois Lyotard, Chủ nghĩa Tân lịch sử của Nhà tư tưởng Pháp
Michel foucault, xây dựng lại lí luận tự sự. Hai chủ đề quan trọng được thể hiện trong
cuốn sách là quan hệ giữa tự sự với thân phận, vai trò của thời gian trong việc trần
thuật đã đi suốt cả tác phẩm. Chung quanh hai chủ đề đó, những vấn đề “tiểu thuyết”,
“phê bình” và “ý thức hệ” đã được liên kết với nhau. Tự sự, thân phận, thời gian và ý
thức hệ là những cái được các nhà nghiên cứu hậu hiện đại chú tâm trong nghiên cứu
văn học cũng như nghiên cứu văn hóa hiện nay.
1.1.4 Nghiên cứu về trần thuật học và phong cách học tiểu thuyết của Thân Đan
là một cuốn sách có những nghiên cứu độc đáo và toàn diện kết hợp cả Trần thuật học
và Phong cách học tiểu thuyết. Ngoài đánh giá và phân tích một cách sâu sắc và toàn
diện những lí thuyết cơ bản của Trần thuật học và Phong cách học tiểu thuyết, tác giả đã
dành cả ba chương tập trung nghiên cứu và đánh giá những mảng trùng khớp của Trần
thuật học và Phong cách học tiểu thuyết từ các khía cạnh như “diễn ngôn trong Trần
thuật học” với “văn bản trong Phong cách học tiểu thuyết”, “phân loại, tính chất và vai
trò của các loại góc độ trần thuật khác nhau”, “các loại hình thức diễn đạt khác nhau
và vai trò của lời nói nhân vật” , bổ sung và làm rõ hơn những vấn đề trước đây tuy đã
có nhiều nhà nghiên cứu đề cập và tìm hiểu nhưng vẫn còn nhiều thiếu sót và mơ hồ
như các khái niệm trần thuật, điểm nhìn, ngôi dựa trên cơ sở phân tích văn bản văn
học nổi tiếng trên thế giới.
1.1.5 Trong cuốn Trần thuật học của Đổng Tiểu Anh, Trần thuật học được tác giả
quan niệm là nghiên cứu làm thế nào để diễn đạt quan điểm, ý thức, tư tưởng bằng các
hình thức nghệ thuật (tức các phương thức của trần thuật) của văn bản. [58, tr. 43] Tác
giả đã khảo sát tất cả mọi hình thức trần thuật được thể hiện trên các văn bản trong dòng
thời gian đã được sắp xếp lại theo ý đồ của người kể, mang tính chủ quan.
Cũng nghiên cứu về thời gian trong truyện, chị Lê Thị Tuyết Hạnh đã khẳng định
vai trò quan trọng của thời gian trong các yếu tố cấu trúc lên một văn bản tự sự văn học.
Trong công trình Thời gian nghệ thuật trong cấu trúc văn bản tự sự (qua các truyện
ngắn Việt Nam giai đoạn 1975-1995), chị Hạnh đã đi sâu khảo sát quan hệ giữa thời
gian với sự kiện cũng như thời gian với tâm lý nhân vật, xét dưới góc độ truyện. Thời
gian được xem xét như là một trung tâm trong việc tổ chức một tác phẩm văn học. Tác
giả quan niệm rằng, thời gian có "chức năng như một thủ pháp, một tín hiệu, có giá trị
nghệ thuật riêng", [18, tr. 191] nó phối hợp với những yếu tố khác trong một hệ thống
văn bản tự sự văn học như điểm nhìn, giọng kể để thể hiện tính liên tục và tính lôgíc
của sự kiện lịch sử hay tính ước lệ, phi thời của tâm trạng tâm lý nhân vật. Bởi thế, hình
thức thời gian trong truyện cũng trở nên "phong phú, đa dạng, biến hóa của các kiểu
loại", giữa các hình thức đó, có sự xâm nhập và giao thoa nhất định.
Bài viết Điểm nhìn trong lời nói giao tiếp và điểm nhìn nghệ thuật trong truyện của
Nguyễn Thái Hòa phân biệt điểm nhìn trong văn bản tự sự với điểm nhìn của lời nói
trong giao tiếp thường ngày. Tác giả cho rằng hai điểm nhìn đó có nét giống nhau nhưng
về cơ bản, chúng khác nhau về chức năng và cấu trúc. Theo tác giả, "Điểm nhìn nghệ
thuật, là điểm xuất phát của một cấu trúc nghệ thuật, là một cấu trúc tiềm ẩn được
người đọc tiếp nhận bằng thao tác suy ý từ các mối quan hệ phức hợp giữa người kể và
văn bản, giữa văn bản và người đọc văn bản, giữa người kể và người đọc hàm ẩn." [27,
tr. 96]
Dựa trên cơ sở lí thuyết hội thoại và lí thuyết điểm nhìn, trong bài Về khái niệm
"truyện kể ở ngôi thứ bá ba" và "người kể chuyện ở ngôi thứ ba", Nguyễn Thị Thu
Thủy đã làm sáng tỏ sự khác biệt về khái niệm "truyện kể ở ngôi thứ ba" và "người kể
chuyện ở ngôi thứ ba", và cho rằng, nên gọi một cách chính xác hơn "truyện kể ở ngôi
thứ ba": một là "Truyện kể có NKC hàm ẩn kể theo điểm nhìn nhân vật", hai là "Truyện
kể có NKC hàm ẩn kể theo điểm nhìn của mình". [39, tr. 145] Luận án Tiến sĩ ngôn ngữ
học với đề tài Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (điểm nhìn và
ngôn ngữ kể chuyện) của chị Thủy cũng khảo sát và nghiên cứu về điểm nhìn và tìm
hiểu quan hệ điểm nhìn với các phương thức kể chuyện.
- Hành động ngôn trung (illocutionary act) là hành động nói nhằm thực hiện mục
đích giao tiếp nhất định của lời nói (đích ngôn trung) như trần thuật, cầu khiến, hỏi
bằng lực thông báo của một phát ngôn (lực ngôn trung).
- Hành động dụng ngôn (perlocutionary act) là hành động nói nhằm đạt được
hoặc gây hiệu quả nhất định đến tâm lý người nghe thông qua lời nói.
Trong ba loại hành động trên, lý thuyết hành động ngôn từ quan tâm nhiều đến
hành động ngôn trung vì nó có thể thay đổi tư cách pháp nhân của người đối thoại [34,
tr.35], bộc lộ tính cách của người phát ngôn.
Hành động ngôn trung nằm ngay trong lời nói và được nhận diện bằng dấu hiệu
ngôn ngữ ở mặt hình thức hoặc ở mặt ý nghĩa. [34, tr.34] Căn cứ theo đích ngôn trung,
các hành động ngôn trung khái quát là trần thuật được phân chia thành các kiểu hành
động ngôn từ cụ thể hơn là trình bày, đánh giá được phân biệt với các kiểu cầu khiến,
hỏi. Trong đó, hành động trần thuật thuộc kiểu hành động trình bày. Ngôn ngữ trần
thuật là hình thức biểu hiện của hành động ngôn từ trần thuật.
Văn bản trần thuật có thể được coi như là một câu trần thuật được mở rộng nhằm
kể lại các sự kiện cho người tiếp nhận trần thuật biết, đồng cảm và nhận xét cùng mình.
Quá trình tạo dựng một văn bản trần thuật của người trần thuật cũng là một hành động
ngôn từ, cụ thể là hành động tạo ngôn.
Phân tích ngôn ngữ trần thuật trong các văn bản tự sự tương đương với việc phân
tích hành động ngôn trung, tức người trần thuật làm thế nào và bằng hình thức gì để
phản ánh thực tại của một sự kiện và đồng thời, làm cho hành động ngôn từ của người
trần thuật mang lại hiệu lực, hiệu quả nhất định.
Hành động ngôn trung (tức mục đích trần thuật) của người trần thuật thường nằm
trong diện ngôn ngữ và được nhận diện bằng các ký hiệu ngôn ngữ, đó là những hình
thức biểu hiện của ngôn ngữ người trần thuật gồm các từ ngữ chỉ nhân xưng và ngôi,
các từ ngữ và ngữ đoạn biểu thị nghĩa thời gian
Qua các dấu hiệu ngôn ngữ được thể hiện bằng hành động ngôn từ, người ta có
thể nhận diện tính cách, tâm lý của người phát ngôn và do vậy, hành động trần thuật
được phân tích một cách khách quan, khoa học hơn mà được giảm tính tư biện, chủ
quan. Vì vậy, việc phân tích tâm lý, tính cách nhân vật từ góc độ ngôn ngữ sẽ có tính
Văn bản là một chỉnh thể có giới hạn và được tổ hợp lại bởi các ký hiệu ngôn ngữ hoặc
môi giới, tức ngôn ngữ (discourse) miêu tả về những câu chuyện đó bằng lối nói hoặc
viết. [65, tr. 12] Nếu ngôn ngữ ở đây được lý giải là sự diễn đạt và cấp bậc trần thuật của
văn bản trần thuật thì câu truyện kể thuộc về đối tượng trần thuật hoặc cấp bậc được trần
thuật. [65, tr. 12]
Trong quá trình giao lưu của văn bản trần thuật, có thể phân chia ra các cấp bậc
khác nhau, nhưng vấn đề là nguyên tắc phân chia là gì và phân chia như thế nào. [65, tr.
28] Manfred Jahn cho rằng việc giao lưu trong văn bản trần thuật ít nhất phải đề cập đến
3 cấp bậc, sự giao lưu giữa mỗi cấp bậc đều liên quan đến người phát ra và tiếp nhận
thông tin của bản thân nó. [65, tr. 29] Cấp bậc giao lưu 1 là cấp bậc giao lưu chân thực
hoặc giao lưu phi hư cấu được diễn ra giữa tác giả và độc giả, thuộc diện siêu văn bản
(extratextual). Theo chúng tôi, cấp bậc này thuộc về cấp bậc độc giả tiếp nhận và lí giải
về tác phẩm theo kinh nghiệm của mình. Cấp bậc thứ 2 là cấp bậc điều phối hư cấu hoặc
cấp bậc ngôn ngữ tự sự, ở cấp bậc này, người trần thuật hư cấu kể truyện cho một người
tiếp nhận trần thuật được chỉ đinh hoặc vô định. Theo chúng tôi, cấp bậc này chỉ tất cả
những hành vi trần thuật mang tính sáng chế, tức trần thuật của Genette. Cấp bậc thứ 3
là cấp bậc hành động, các nhân vật chính của truyện giao lưu trong phạm vi cấp bậc này.
Đây là một cấp bậc thuộc diện câu chuyện hoặc là truyện kể. Cấp bậc 1 và 3 nằm ngoài
phạm vi nghiên cứu của luận án chúng tôi.
Như vậy, các cấp bậc của văn bản tự sự được phân chia như sau:
Cấp 1: giao lưu giữa tác giả chân thực và độc giả chân thực.
Cấp 2: giao lưu giữa người trần thuật và người tiếp nhận trần thuật. Người trần
thuật được coi như là người diễn tả của các hình vi ngôn ngữ.
Cấp 3: giao lưu giữa các nhân vật trong văn bản trần thuật, giao lưu này được triển
khai hoặc được kể lại với một môi giới là người trần thuật.
Có hai loại người trần thuật trong cấp 3. Một là người trần thuật nằm ngoài câu
chuyện, đơn thuần đảm chức người kể chuyện và trình diễn câu chuyện bằng cách trần
thuật. Hai là người trần thuật đồng thời có tư cách là người tham gia vào câu chuyện, tức
người trần thuật đồng thời cũng là nhân vật của truyện, chỉ khác nhau với các nhân vật
khác ở chỗ trình độ tham gia vào câu chuyện mà thôi. Cấp 2 và 3 thuộc diện văn bản
trong đó các sự tình được tổ hợp lại bởi một kí hiệu ngôn ngữ (ngôn ngữ tự nhiên) hoặc
những kí hiệu khác. Cùng với cấu trúc tự sự, Ngôn ngữ trần thuật nghiên cứu trình tự
thời gian và sự tình dưới hình thức thể hiện của ngôn ngữ, tập trung vào các mối quan
hệ có thể có giữa chuyện kể và văn bản, quá trình trần thuật và văn bản, chuyện kể và
quá trình trần thuật. Mấy thuật ngữ như trần thuật và người trần thuật, tiêu điểm
hóa-người tiêu điểm hóa và nhân tố tiêu điểm hóa vân vân thể hiện nổi bật đặc tính của
Ngôn ngữ trần thuật. Nhìn chung, quan điểm của ông Đàm Quân Cường có phần trùng
khớp với quan điểm của Genette. Cho nên, quan điểm trên đây của họ sẽ là cái cơ sở
chính mà chúng tôi căn cứ vào đó để triển khai phân tích. Nó đã hàm chứa tối đa những
yếu tố liên quan của Ngôn ngữ trần thuật.
Đổng Tiểu Anh giải thích Ngôn ngữ trần thuật như sau: trần thuật được cấu tạo
bởi 3 phạm trù là người trần thuật, phương thức trần thuật và ngữ thái, ngữ thức, cấu
trúc do trần thuật sản xuất ra. Chị ấy nhất trí với Genette ở chỗ Ngôn ngữ trần thuật nằm
trong ba phạm trù thời, thái, thức của Genette. Nhưng yếu tố được bao hàm trong ba
phạm trù đó thì khác ông Genette:
+ Thái là chủ thể trần thuật gồm ngôi, người trần thuật, người tiếp nhận trần
thuật, tiêu điểm hóa, vân vân;
Ngữ thái trần thuật nghiên cứu về vấn đề “ai đang nói”, tức quan hệ giữa người
trần thuật và việc trần thuật. Nó gồm quan hệ giữa người trần thuật với điểm nhìn của
nhân vật và nhân xưng; quan hệ giữa hình tượng nhân vật được hình thành do việc trần
thuật với thái độ của hình tượng này đối với sự kiện; quan hệ về thái độ của tác giả là
khẳng định hay phủ định đối với nhân vật cũng như sự kiện. [58, tr. 16]
+ Thức gồm trình tự, khoảng cách, tần số, dạng thức câu vân vân.
Ngữ thức trần thuật nghiên cứu về vấn đề “nói như thế nào”, tức quan hệ giữa
việc trần thuật và sự kiện, bao gồm những nội dung sau đây:
1. Sự kiện này diễn ra trong một biên độ thời gian và không gian như thế nào;
2. Lần diễn ra của sự kiện, tức tần số trần thuật;
3. Sự kiện này là hiện hữu hay hư cấu;
4. Những hình thức ngôn ngữ khác nhau để miêu tả, đánh giá vân vân. về sự kiện
đó, tạo thành mô thức trần thuật. Ngoài ra, trần thuật có thể dẫn đến các phương hướng
tiếp, qua nhiều yếu tố, từ nhiều khía cạnh, bằng nhiều thuật ngữ khác nhau. Vậy, có thể
nói, Ngôn ngữ trần thuật là một tập hợp thể của những yếu tố liên quan. Dù thế nào đi
nữa, các nhà nghiên cứu đã tập trung, đi thẳng cũng như đi sâu vào vấn đề "ai kể - kể cái
gì - kể như thế nào": những yếu tố chủ chốt xâu chuỗi nên một văn bản tự sự dưới hình
thức ngôn ngữ.
Trong đề tài nghiên cứu này, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi một là nằm trong
diện cơ tầng đặc trưng ngôn ngữ, hai là nằm trong diện cấp bậc trần thuật. Hai thứ đó có
nhiều điểm đan xen và trùng hợp nhau. Xét chung, khi tìm hiểu và khảo sát đặc điểm
Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn các nhà văn nữ Việt Nam cũng cần bao quát cả
những yếu tố trong hai diện đó.
Ngôn ngữ trần thuật liên quan đến các vấn đề như “ai nói’, “ai nhìn”, “ai phát
ngôn”, “nói như thế nào”. Phương pháp trần thuật thuộc về việc sáng tác của một nhà
văn nào đó, nó mang đậm đặc sắc của cá nhân. Cũng như “lời nói (parole)”, ngôn ngữ
trần thuật là hành động kể của từng cá nhân, là hành động cá nhân về ý chí và trí tuệ,
mang tính chất dị biệt.
Cái mà Ngôn ngữ trần thuật cần đi sâu nghiên cứu là người trần thuật làm thế nào,
bằng cách nào và phương tiện nào để tổ chức, xây dựng và kể lại sự tình. Đơn giản mà
nói, là khảo sát người trần thuật kể chuyện như thế nào, diễn đạt nội dung của truyện
bằng phương pháp nào. Đi về cụ thể hơn nữa, thì Ngôn ngữ trần thuật nghiên cứu về
việc lựa chọn (về mặt ngôn ngữ bản thân) của các ngữ đoạn, các câu văn cụ thể khi diễn
đạt nội dung truyện cũng như nguyên nhân và mục đích của sự lựa chọn đó (về mặt thao
tác các ngữ đoạn, các câu văn đó). Trọng tâm được thể hiện của Ngôn ngữ trần thuật là
kỹ xảo trần thuật trên diện kết cấu văn bản và sự lựa chọn về phương thức tự sự của
người trần thuật. Còn các khái niệm như sự kiện, tài liệu, hành động và ngôn ngữ nhân
vật thì thuộc diện truyện kể, một cấp bậc khác của văn bản tự sự, không nằm trong
phạm vi nghiên cứu của chúng tôi, nên trong luận án này sẽ không được bàn đến.
Tổng quan những quan điểm được trình bày một cách khái quát trên đây của các
nhà nghiên cứu, chúng tôi có thể định nghĩa ngôn ngữ trần thuật như sau:
Ngôn ngữ trần thuật là tất cả những hình thức ngôn ngữ dùng trong việc trần thuật.
Việc trần thuật là một hành động ngôn từ, có một người nào đó đã kể một sự kiện nào
Văn bản trần thuật [65, tr. 24]
tác giả chân
thực ……〉
tác giả tiềm ẩn→(người trần thuật)→(người
tiếp nhận trần thuật)→độc giả tiềm ẩn
……〉độc giả
chân thực
Đồ hình trên cho biết tác giả tiềm ẩn khác hẳn với người trần thuật. Sự khác biệt
giữa hai vai đó ở chỗ tác giả tiềm ẩn không đảm nhiệm bất kỳ một công việc trần thuật
nào. [65, tr. 25] Và cũng qua đồ hình trên, một điều rất quan trọng khác đã được thể hiện
rõ rệt, đó là tác giả chân thực (chủ thể sáng tác) của văn bản tự sự được xếp ngoài phạm
vi giao lưu có người trần thuật tham gia. Có nghĩa là, tác giả chân thực không phải là
người trần thuật vì tác giả chân thực cũng không tham gia vào hoạt động trần thuật. Cho
nên, khu biệt tác giả chân thực và người trần thuật là điều rất quan trọng trong luận án
của chúng tôi.
Theo Genette, chủ thể trần thuật là vai đã để lại nhiều dấu vết trong quá trình sản
sinh Ngôn ngữ trần thuật, nó có thể dễ nhận ra được qua các yếu tố như thời gian trần
thuật, cấp bậc trần thuật và ngôi.
Người trần thuật trước hết là chủ thể trần thuật. Khi bàn đến chủ thể của ngôn
ngữ trần thuật, các nhà thi pháp học hình như đã gặp phải không ít khó khăn ở chỗ có
nên thừa nhận và tôn trọng tính tự chủ của chủ thể này không. Trong đó, chủ thể trần
thuật với chủ thể sáng tác, người trần thuật với tác giả, người tiếp nhận tự sự với độc giả
của tác phẩm được đồng nhất với nhau hay không là một khó khăn lớn cần được giải
quyết. Nếu sự đồng nhất đó xuất hiện trong các văn bản lịch sử hoặc các tự truyện chân
thực thì vẫn có thể tiếp nhận được. Nhưng trong tác phẩm tự sự hư cấu, sự đồng nhất và
làm hỗn hợp mấy yếu tố trên là không hợp lý, vì trong tác phẩm hư cấu, "bản thân người
trần thuật là một vai hư cấu".[71, tr.147] Tiền đề nghiên cứu chủ thể trần thuật phải là
chủ thể này đã để lại những dấu vết được cho là của chủ thể đó trong một văn bản trần
thuật do chủ thể đó làm nên. [71, tr.148] Những yếu tố hạn định liên quan với chủ thể
Nhưng cũng có những trường hợp văn bản tự sự hầu như không có người trần
thuật. Đó là trong các tiểu thuyết hiện đại. Tiểu thuyết hiện đại đã đẩy việc mô phỏng
diễn ngôn sang một cực đoan, hoặc nói đúng hơn là sang một thái cực khác, nó hoàn
toàn tẩy sạch vết tích cuối cùng của chủ thể trần thuật, dẫn đến tình trạng vừa mới bắt
đầu vào truyện thì nhân vật đã mở miệng nói, hễ mở quyển tiểu thuyết ra thì độc giả đã
phải đối mặt với tư tưởng của nhân vật, dòng tư tưởng này được phát triển một cách liên
tục và đã hoàn toàn thay thế cho những hình thức tự sự thường thấy, nó có thể bảo cho
chúng ta biết hành động và tao ngộ của nhân vật. [71, tr.117] Về hiện tượng này, có nhà
nghiên cứu cho rằng, văn bản tự sự như thế là đã vắng mặt chủ thể trần thuật, đó là
những kiểu "văn bản tự sự bằng sự kiện", theo Genette. Nhưng, với Genette, không hề
có văn bản tự sự không có chủ thể/người trần thuật, chỉ có thể nói trong kiểu văn bản đó,
chủ thể/người trần thuật đã im bặt với mức độ tối đa.
“Người trần thuật”, được M. Bal phân tách rõ ràng với “chủ thể/người tiêu điểm
hóa”, là người hành động đã diễn đạt ra ký hiệu ngôn ngữ cấu tạo nên văn bản. [73,
tr.19] Theo bà, “người trần thuật” có được đề cập hay không trong văn bản không gây
tác động đến tình huống trần thuật. Vậy “người trần thuật” dù có gắn với “ngôi thứ
nhất” hay “ngôi thứ ba” vẫn chỉ là một người trần thuật – “chủ thể trần thuật” mà
thôi.
Như định nghĩa của văn bản trần thuật mà Bal đã chỉ rõ, những ký hiệu đó được
sáng tạo do một hành động trần thuật, vai hành động này đã “diễn đạt ra” những ký hiệu
đó. Vai này không thể nào đồng đẳng với tác giả mà ngược lại, tác giả đã thoát khỏi hẳn
văn bản trần thuật và đã chỉ định một người phát ngôn hư cấu, một vai hành động được
gọi tên về mặt thuật ngữ là “người trần thuật” (narrator). Nhưng người trần thuật đó
không phải kể liên tục không ngừng. Hễ các thoại dẫn trực tiếp xuất hiện trong văn bản,
thì người trần thuật sẽ tạm nhường vai trò dẫn dắt câu chuyện cho một nhân vật nào đó.
Vì vậy, việc xác định ai đang kể là một việc làm hết sức quan trọng.
Một vấn đề khác rất quan trọng được Bal quan tâm là cần làm rõ thân phận và địa
vị của người trần thuật. Người trần thuật là chủ thể của ngôn ngữ, là một chức năng hơn
là một cá thể đang diễn đạt về bản thân mình trong những ngôn ngữ cấu tạo lên một văn
bản. Có thể khẳng định dứt khoát rằng, người trần thuật này không phải là tác giả của
Xuất phát từ khía cạnh lí tính và tư duy con người, Đổng Tiểu Anh cho rằng,
trong các tác phẩm văn học lấy con người làm trung tâm, “người” tương đương với chủ
ngữ của câu. Với tư cách là người trần thuật, tác giả là người quyết định lấy ngữ thái của
ngôn ngữ trần thuật. Nhân vật xuất hiện với một từ vựng, một tên gọi, đấy là phương
thức xưng gọi đến từ tác giả, người trần thuật hoặc các nhân vật khác về nhân vật này:
nếu là người trần thuật hoặc người được trần thuật, thì có các danh từ riêng và các đại từ
nhân xưng. [58, tr.51] Quan sát những tên gọi của nhân vật, người ta có thể nhận biết
được thái độ và sự đánh giá của tác giả đối với nhân vật này, đồng thời, đặc trưng hành
động và tính cách nhân vật cũng được thể hiện. [58, tr.62]
Trong phạm vi các đại từ xưng hô ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai hay ngôi thứ ba, về
thực chất mà nói, đấy cũng chỉ là một chứng kiến “có mặt” của các loại diễn ngôn.
“Tôi” có thể là tác giả - người trần thuật, cũng có thể là nhân vật – người trần thuật, hoặc
là một cái gì đó vô sức sống. Nói thế có nghĩa là “tôi” có thể là tất cả mọi sự vật, dù rằng
được biểu hiện bằng tên người hay đại từ nhân xưng, đều cho biết vị trí trần thuật của
người trần thuật, cũng có thể là góc nhìn, tức góc độ nhìn nhận vấn đề của người trần
thuật.
Anh hay là Em, Chị (ngôi thứ hai) là đối tượng giao tiếp của người đang phát
ngôn. Ngôi thứ hai này có thể đặc chỉ cũng có thể phiếm chỉ, là một vị trí đặc biệt của