Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn trên Nam phong tạp chí (1917 đến 1934) - Pdf 23


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
 TRẦN THỊ HẰNG NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN
TRÊN NAM PHONG TẠP CHÍ (1917 – 1934)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC


Thái Nguyên – 2014

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, khoa sau đại học, khoa ngữ
văn trường Đại học sư phạm Thái Nguyên, cùng toàn thể các thầy cô giáo đã
tham gia giảng dạy và hướng dẫn nghiên cứu khoa học cho tập thể lớp cao học
K20 – Văn học Việt Nam đã tạo điều kiện cho tôi có điều kiện học tập và
nghiên cứu khoa học.
Xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới TS. Cao Thị Hảo – người thầy rất
nghiêm khắc, tận tình trong công việc đã truyền thụ cho tôi nhiều kiến thức
quý báu cũng như kinh nghiệm nghiên cứu khoa học trong suốt quá trình học
tập và nghiên cứu đề tài.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình thầy cô và bạn bè đã luôn
động viên, khuyến khích và tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập,
nghiên cứu và thực hiện luận văn này.
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 04 năm 2014
Tác giả luận văn Trần Thị Hằng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

LỜI CAM ĐOAN


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục i
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 8
CHƢƠNG 1: THỂ LOẠI TRUYỆN NGẮN TRÊN NAM PHONG TẠP CHÍ
NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX 8
1.1 Truyện ngắn và ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn 8
1.1.1 Truyện ngắn 8
1.1.2. Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn 13
1.2. Sự xuất hiện của Nam Phong tạp chí và truyện ngắn trên Nam
Phong tạp chí 17
1.2.1. Bối cảnh lịch sử 17
1.2.2. Đóng góp chung của Nam Phong tạp chí. 21
1.2.3. Truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí 24
1.2.4. Những đóng góp của truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí. 28
CHƢƠNG 2: CÁC THÀNH PHẦN CƠ BẢN CỦA NGÔN NGỮ NGHỆ
THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN TRÊN NAM PHONG TẠP CHÍ 35
2.1. Lời trần thuật 35
2.1.1. Khái niệm lời trần thuật 35
2.1.2. Ngôn ngữ người kể chuyện bước đầu được cụ thể hóa 36
2.1.3. Ngôn ngữ miêu tả đi sâu vào trạng thái cảm xúc của con người 43
2.2. Lời đối thoại ngắn gọn, sinh động 48
2.3. Lời độc thoại nội tâm. 59
i


chóng khẳng định được vai trò của mình trong tiến trình phát triển văn học.
Ngay từ thời kỳ trung đại chúng ta đã thấy xuất hiện một số truyện như Việt
điện u linh bao gồm các truyện về thần thánh và các nhân vật lịch sử. Đến thế
kỷ XV Lĩnh Nam chích quái đã mở rộng phạm vi tới các truyện sinh hoạt
trong dân gian, thế kỷ XVI có Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ đã thể hiện
sự tiến bộ vượt bậc trong việc sử dụng hình thức văn xuôi. Sang thế kỷ XVIII
có Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ đã ghi chép các giai thoại lịch sử của
các nhân vật trong xã hội…Toàn bộ những tác phẩm kể trên đều là những tác
phẩm văn xuôi viết bằng chữ Hán. Qua thời gian nội dung các truyện đã đi từ
những câu chuyện thần thoại đến những truyện trong đời sống hằng ngày.
Tính sáng tạo nghệ thuật cũng được nâng cao dần, màu sắc văn chương phong
phú hơn. Tuy nhiên, phải đến đầu thế kỷ XX, truyện ngắn mới trở thành một
thể loại đặc biệt không thể vắng bóng của văn học Việt Nam. Trong mỗi tác
phẩm, các tác giả không chỉ phản ánh số phận, tính cách của các nhân vật tiêu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

biểu cho một lớp người trong xã hội lúc đó mà qua đó còn bộc lộ được thái độ
của tác giả trước những hiện tượng của đời sống xã hội.
1.2. Ngôn ngữ là một phương tiện vô cùng quan trọng trong sáng tác văn
học. Nó là hình thức duy nhất để khẳng định sự có mặt và tồn tại của tác
phẩm. Thông qua ngôn ngữ nhà văn có thể bộc lộ được cách suy nghĩ và tài
năng sáng tạo của mình. Nhà văn là người tổ chức ngôn từ tạo nên hình tượng
nghệ thuật, chỉnh thể cho tác phẩm.Trong truyện ngắn, ngôn ngữ trở thành
một đối tượng đặc biệt được quan tâm nghiên cứu bởi những đặc trưng thể
loại của nó. Truyện ngắn với dung lượng ngôn từ không lớn nhưng chúng
phản ánh được một lát cắt của cuộc sống thể hiện bản chất hiện thực của xã
hội và con người. Đi vào nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn
trên Nam Phong tạp chí chúng ta mới thấy rõ được dấu ấn ngôn ngữ giai đoạn
giao thời, và có một cái nhìn cụ thể hơn về quá trình hiện đại hoá văn học.

thì truyện ngắn Nam Phong hiện diện như một mảng của văn xuôi hiện đại.
Việc tìm hiểu một cách đầy đủ toàn diện về truyện ngắn Nam Phong nói
chung và ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Nam Phong tạp chí nói riêng
là một việc làm rất cần thiết.
2.1 Giai đoạn trƣớc năm 1945
Nghiên cứu về truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí sớm nhất phải kể
đến công trình Việt Nam văn học sử yếu (năm 1941) của Dương Quảng
Hàm. Tác giả đã dành khá nhiều trang viết về Nam Phong với có những
nhận xét sắc sảo về sự chuyển biến của hệ thống thể loại từ trung đại sang
hiện đại, đồng thời những nhận xét đó góp phần dự báo về một nền văn xuôi
mới – văn xuôi quốc ngữ.
Năm 1942 trong cuốn Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã nói đến một
cách sơ lược về các sáng tác văn học bằng chữ quốc ngữ giai đoạn giao thời
trong đó có nói tới nhóm tác giả trên Nam Phong tạp chí như Phạm Duy Tốn,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

Nguyễn Bá Học…Tuy nhiên, đây mới chỉ là một công trình nghiên cứu khái
quát, có đề cập đến cách sử dụng ngôn ngữ của các tác giả trên nhưng chưa
làm rõ được một số vấn đề cơ bản về ngôn ngữ trong truyện ngắn trên Nam
Phong tạp chí.
Bên cạnh đó, nghiên cứu về Nam Phong tạp chí không thể không kể đến
các bộ sách như: Việt Nam văn học sử trích yếu của Nghiêm Toản, Lược sử
văn học Việt Nam của Thế Phong, các bộ Lược thảo lịch sử văn học Việt
Nam của nhóm Lê Quý Đôn…Hầu như, các công trình nghiên cứu trên đều
đề cập tới nền văn học giao thời nói chung và một số vấn đề của văn chương
trên Nam Phong nói riêng. Ngoài ra, một số bài nghiên cứu, những chuyên
luận về Nam Phong như cuốn: Chủ đích Nam Phong của Nguyễn Văn Trung,
Phê bình và cảo luận của Thiếu Sơn cũng ít nhiều có những gợi mở về ngôn
ngữ, cách hành văn của truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí.

nghệ thuật của truyện ngắn trên báo Nam Phong. Trên Tạp chí Ngôn ngữ và
đời sống có bài Ngôn ngữ người kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn
Bá Học và Phạm Duy Tốn của tác giả Cao Thị Hảo đã đề cập tới vấn đề ngôn
ngữ nghệ thuật của hai tác giả lớn viết truyện ngắn trên báo Nam Phong.
Có thể nói, những công trình và bài viết trên đã đi sâu vào tìm hiểu những
vấn đề về nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí,
nhưng chưa có công trình nào đi sâu vào khai thác, khảo sát, hệ thống hóa ngôn
ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí để khẳng định được
những đặc điểm cụ thể về ngôn ngữ của thể loại truyện ngắn đã sớm xuất hiện
trên Nam Phong tạp chí trong tiến trình phát triển văn học dân tộc.
Chọn đề tài Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn trên Nam Phong
tạp chí (1917 – 1934), chúng tôi mong muốn bước đầu khảo sát một cách cụ
thể ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn viết bằng chữ quốc ngữ trên tạp
chí này. Nhưng do hạn chế về mặt tư liệu vì Tạp chí Nam Phong ra đời cách
đây khá lâu, việc lưu giữ có nhiều khó khăn nên đây cũng là một thách thức
với người nghiên cứu. Tuy nhiên để bổ sung một cái nhìn toàn diện đối với
thể loại truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí chúng tôi quyết định chọn hướng
nghiên cứu này.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

3. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Phạm vi nghiên cứu
Thực hiện luận văn này chúng tôi tiến hành khảo sát 47 truyện ngắn viết
bằng chữ quốc ngữ in trong cuốn Đoản thiên tiểu thuyết, truyện ngắn trên
Nam Phong tạp chí của Nguyễn Đức Thuận – Nxb Văn học, 2013. Trong đó
tập chung vào những tác giả tiêu biểu như: Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học,
Lê Đức Nhượng, Nguyễn Khắc Cán, Tùng Toàn…
Ngoài ra chúng tôi cũng tham khảo thêm những truyện ngắn của các
tác giả khác cùng thời như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái

5.4 Phƣơng pháp nghiên cứu liên ngành.
Vấn đề ngôn ngữ nghệ thuật có liên quan đến nhiều lĩnh vực khoa học
khác như: Lí luận văn học, lịch sử, văn hoá. Do đó, chúng tôi vận dụng
phương pháp này nhằm làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu.
6. Đóng góp mới của luận văn.
- Cung cấp một cái nhìn toàn diện về đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật của
thể loại truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí (1917 – 1934).
- Thấy được những đóng góp cụ thể và những hạn chế còn tồn tại ở
phương diện ngôn ngữ trong truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí trong quá
trình hiện đại hoá văn học Việt Nam giai đoạn giao thời.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung chính
của luận văn được triển khai trong 3 chương.
Chương 1. Thể loại truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí những năm đầu
thế kỷ XX.
Chương 2. Các thành phần cơ bản trong ngôn ngữ nghệ thuật truyện
ngắn trên Nam Phong tạp chí.
Chương 3. Đặc điểm về từ ngữ, câu văn trong truyện ngắn trên Nam
Phong tạp chí.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
THỂ LOẠI TRUYỆN NGẮN TRÊN NAM PHONG TẠP CHÍ
NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX

1.1 Truyện ngắn và ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn
1.1.1 Truyện ngắn
1.1.1.1 Khái niệm

Nguyễn Công Hoan khẳng định: truyện ngắn không phải là truyện mà là
một vấn đề đƣợc xây dựng bằng chi tiết.[35.15]
Nguyên Ngọc thì cho rằng: truyện ngắn là một bộ phận của tiểu thuyết
nói chung, vì thế không nên nhất thiết trói buộc truyện ngắn vào những khuôn
mẫu gò bó. Truyện ngắn có nhiều vẻ, có truyện viết về cả một đời ngƣời, lại
có truyện chỉ ghi lại một vài giây phút thoáng qua.[10.45]
Để có một cái nhìn thống nhất hơn, toàn diện hơn về truyện ngắn, chúng
tôi khảo sát một số khái niệm truyện ngắn trong các cuốn: Từ điển thuật ngữ
văn học, Từ điển văn học, 150 thuật ngữ văn học Tất cả coi truyện ngắn là
một: “thể tài tác phẩm tự sự cỡ nhỏ”, và “thƣờng đƣợc viết bằng văn xuôi”,
đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội. Điểm
chung cơ bản đó là sự giới hạn về dung lượng của truyện ngắn và thích hợp
với người tiếp nhận “đọc nó liền một mạch không nghỉ ”.
Ở Việt Nam, theo Thanh Lãng thì khái niệm truyện ngắn hiện đại
Việt Nam chỉ có từ đầu thế kỷ XX trở đi.
Bùi Việt Thắng cho rằng truyện ngắn có mầm mống từ rất sớm, nó có
mầm mống từ văn xuôi trung đại chữ Hán, ông luận giải có truyện ngắn chữ
Hán và truyện ngắn hiện đại trong dòng chảy của lịch sử văn học Việt Nam.
Thế kỷ XI, mầm mống truyện ngắn đã xuất hiện với Việt điện u linh. Thế kỷ
XV trở đi, truyện viết mang tính nghệ thuật có yếu tố cá nhân và yếu tố thần
kỳ trong văn học. Thế kỷ XVII về sau, nó biến đổi dần thành ra tiểu thuyết
chương hồi và truyện Nôm.
Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX chữ quốc ngữ phổ biến rộng rãi đặc
biệt ở Nam Bộ, tác phẩm dịch thuật cũng đi vào miền Nam. Nguyễn Trọng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

Quản, Trần Chánh Chiếu sáng tác những truyện mang đề tài tôn giáo, Huỳnh
Tịnh Của, Trương Vĩnh Ký viết những truyện gắn với những vấn đề xã hội
(hình thức ngắn, đậm chất dân gian: gây cười, ngụ ngôn).

cỡ nhỏ, số trang ít, ít sự kiện, ít nhân vật, phạm vi phản ánh hẹp nhưng tất cả
những chi tiết góp phần làm cho câu chuyện đạt đến hiệu quả mong muốn, tác
động mạnh mẽ và giá trị thẩm mỹ lớn lao.
* Tình huống là yếu tố không thể thiếu
Tình huống được nảy sinh từ một sự kiện, một mâu thuẫn nhất định. Mâu
thuẫn càng quyết liệt, bất ngờ, thì tình huống càng hấp dẫn, cuốn hút. Khi tình
huống phát triển cao thì sẽ xuất hiện xung đột. Tình huống giúp cho những gì
còn nằm trong hình thức chưa phát triển nay bộc lộ và hoạt động tích cực. Vì
thế, truyện ngắn cũng như các thể loại tự sự khác, không thể thiếu tình huống.
Chỉ trong các tình huống cụ thể các nhân vật mới bộc lộ tính cách, tâm lý hoặc
thay đổi tính cách, tâm lý nhằm biểu đạt tư tưởng nghệ thuật của nhà văn.
Nói tóm lại, khi tiếp cận một truyện ngắn người đọc cần phải nắm được giá
trị của các bình diện nghệ thuật cấu thành cái thực thể sinh động - là truyện ngắn.
Nhưng nếu chưa nắm được tình huống thì xem như chưa nắm được chiếc chìa
khóa mầu nhiệm để mở vào một thế giới bí ẩn của truyện ngắn.
* Nhân vật đƣợc thể hiện nhƣ một lát cắt điển hình
Nhân vật có vai trò hết sức quan trọng trong tác phẩm. Có thể nói nhân
vật là xương sống là linh hồn của mỗi tác phẩm, nhân vật cũng là người phát
ngôn cho tư tưởng nhà văn, thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người của
tác giả.
Nếu nhiệm vụ của tiểu thuyết là theo dõi, tìm hiểu và mô tả tỉ mỉ sự
thăng trầm của số phận thì nhiệm vụ của truyện ngắn thường hướng tới khắc
họa một hiện tượng, một nét tính chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống
tâm hồn con người - nhân vật tâm trạng.
Theo Sêkhốp, nhân vật truyện ngắn phải được hiểu theo nghĩa rộng, có
khi là người, có khi là vật. Cho dù là tồn tại dưới dạng nào thì tất cả các nhân

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

vật đều hướng tới con người. Chỗ khác biệt cơ bản nhất của truyện ngắn là


1.1.2. Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn
1.1.2.1. Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật
Trong đời sống giao tiếp hằng ngày của con người thì ngôn ngữ là
phương tiện vô cùng quan trọng, để con người có thể trao đổi tư tưởng tình
cảm, cảm xúc, bộc lộ những suy nghĩ của mình trước những vấn đề của đời
sống xã hội. Đặc biệt trong sáng tác văn học nghệ thuật thì ngôn ngữ lại trở
thành phương tiện không thể thiếu để các nhà văn xây dựng hình tượng và
phản ánh đời sống xã hội của mỗi giai đoạn thời kỳ khác nhau. Đồng thời
ngôn ngữ là “cầu nối” để các tác phẩm đến với người tiếp nhận một cách dễ
dàng hơn, để họ có thể đồng cảm chia sẻ đối với mỗi số phận nhân vật.
Theo F. Sausure – một nhà ngôn ngữ học lớn của thế kỷ XX, hoạt động
ngôn ngữ bao hàm nhiều mặt, nhiều nhân tố không thể tách rời nhau: âm và
nghĩ, nhân tố vật lý, sinh lý, tâm lý, nhân tố cá nhân và xã hội, truyền thống
thói quen… Và theo F. Sausure thì : ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu, mỗi
tín hiệu có hai mặt như hai mặt của một tờ giấy, không thể tách rời nhau gồm
cái biểu đạt (âm thanh ngôn ngữ) và cái được biểu đạt (khái niệm). Như vậy
ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp của xã hội và là phương tiện để tư duy.
Hiện nay có rất nhiều những cách hiểu khác nhau về ngôn ngữ nghệ
thuật. Theo Từ điển Tiếng Việt, ngôn ngữ nghệ thuật được hiểu theo nghĩa
rộng: “là một hệ thống các phƣơng thức, phƣơng tiện tạo hình, biểu hiện, hệ
thống các quy tắc thông báo bằng tín hiệu thẩm mỹ của một ngành sáng tác
nghệ thuật. Ngƣời ta có thể nói đến ngôn ngữ ba lê, ngôn ngữ chèo, ngôn
ngữ” [25.6]. Khái niệm này đã nêu ra cách hiểu khái quát về ngôn ngữ nghệ
thuật nhưng chưa chỉ ra được những nét riêng của nó với tư cách là phương
tiện biểu hiện của các sáng tác văn học loại hình nghệ thuật ngôn từ. Vì thế
khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật cần được khu biệt một cách rõ hơn.
Trong công trình nghiên cứu Lời văn nghệ thuật Nguyên Hồng. Lê
Hồng My đã dẫn ra khái niệm ngôn ngữ trong cuốn Từ điển biểu tượng văn
hoá thế giới: “Ngôn ngữ là hệ thống ngữ âm, những từ và quy tắc kết hợp

thuật, tạo thành cơ sở ngôn từ của văn bản nghệ thuật, là hình thức ngôn từ
nghệ thuật của tác phẩm văn học” [33.187]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

Ngôn ngữ văn học là “ ngôn ngữ mang tính nghệ thuật dùng trong văn
học” [33.215]
Có thể nói, ngôn ngữ nghệ thuật hay ngôn ngữ văn học đều là ngôn ngữ
mang tính nghệ thuật được dùng trong văn học, nó là sản phẩm do các nhà
văn sáng tạo trên cơ sở kho tàng ngôn ngữ chung và được tổ chức một cách
đặc biệt để phản ánh đời sống, thể hiện tư tưởng, tình cảm. Theo M. Gorki
“Ngôn ngữ là do nhân dân sáng tạo ra. Chia ngôn ngữ ra làm ngôn ngữ văn
học và ngôn ngữ nhân dân chỉ có nghĩa là chúng ta có một thứ ngôn ngữ
“nguyên liệu” và một thứ ngôn ngữ đã đƣợc các nhà nghệ sĩ gọt giũa thêm
mà thôi”.[41.43]. Như vậy ngôn ngữ nghệ thuật chính là phương tiện đã được
gọt giũa của người nghệ sĩ để thể hiện thế giới nghệ thuật của riêng mình.
1.1.2.2. Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn
Văn học là nghệ thuật ngôn từ, ngôn từ là chất liệu của văn học: Ngôn
ngữ là công cụ giao tiếp trong đời sống xã hội. Ngôn ngữ góp phần trực tiếp
vào việc giao lưu và phát triển xã hội. Ngôn ngữ có vị trí quan trọng trong
sáng tác văn học. Nhưng mỗi thể loại văn học đều có những đặc trưng riêng
của nó. Những đặc trưng này chi phối việc tác giả lựa chọn ngôn ngữ để xây
dựng lên một thế giới nghệ thuật của mình. Ngôn ngữ tự sự khác với ngôn
ngữ trữ tình và kịch. Do thiên về phản ánh hiện thực đời sống nên ngôn ngữ
của tác phẩm tự sự thường nghiêng về tính chính xác, cá thể hoá nhằm tái tạo
lại sự vật trong hình thái cụ thể và độc đáo, còn tác phẩm trữ tình bộc lộ trực
tiếp thế giới chủ quan của chủ thể ngôn ngữ giàu sắc thái biểu cảm, trong khi
đó ngôn ngữ của kịch lại rất giàu kịch tính, đem lại cho con người sự khám
phá và tò mò.
Truyện là thể loại văn học xuất hiện từ lâu, đây là loại văn tự sự kể chuyện

này phản ánh được sự cách tân của các nhà văn cũng như sự tiến bộ của xã
hội. Tìm hiểu Ngôn ngữ nghệ thuật của truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí
(1917- 1934) chúng ta sẽ thấy rõ điều này.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

1.2. Sự xuất hiện của Nam Phong tạp chí và truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí
1.2.1. Bối cảnh lịch sử
Sang đầu thế kỉ XX, về cơ bản thực dân Pháp đã bình định song xứ Đông
Dương về mặt quân sự. Cùng với sự tan rã của nghĩa quân Phan Đình Phùng
(1896), phong trào chống Pháp dưới lá cờ Cần Vương, kéo dài hàng chục năm
của nhân dân Việt Nam đã chấm dứt. Thực dân Pháp đã biến nước ta trở
thành một bộ phận của thế giới trong tình thế mất chủ quyền.
Chính sách vơ vét sức người sức của để phục vụ cho chiến tranh đã được
thực dân Pháp áp dụng ở tất cả các nước thuộc địa. Tại Việt Nam quá trình
này đã làm xã hội nước ta thay đổi một cách sâu sắc và toàn diện, chuyển từ
chế độ phong kiến sang chế độ thực dân nửa phong kiến. Trước đây nước ta
chủ yếu là nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, nhỏ lẻ, manh mún thì giờ đây lại
xuất hiện một nền sản xuất mới có áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật
phương Tây, hàng loạt các nhà máy, xí nghiệp, đô thị mọc lên. Phải nói rằng
thực dân Pháp một mặt chúng ra sức vơ vét tài nguyên thiên nhiên nước ta
làm giàu cho chính quốc nhưng mặt khác lại làm cho toàn bộ đời sống kinh tế
xã hội nước ta thay đổi. Đặc biệt là sự xuất hiện thêm những giai tầng mới
không chỉ có giai cấp địa chủ và nông dân mà còn có sự có mặt của giai cấp
công nhân, giai cấp tiểu tư sản và giai cấp tư sản. Mỗi giai cấp đều có những
tư tưởng,thái độ chính trị, vị trí xã hội và quyền lợi kinh tế khác nhau.
Bên cạnh đó để thuận tiện cho việc khai thác tài nguyên thiên nhiên nước
ta, chúng đã cho xây dựng một hệ thống cơ sở giao thông liên lạc thuận tiện.
Điều này làm cho sự giao lưu văn hoá giữa các vùng miền trở nên dễ dàng
hơn. Song dã tâm của thực dân Pháp không chỉ dừng ở đây chúng còn muốn

lược nước ta, khi xã hội Việt Nam vẫn là một xã hội phong kiến với nền nông
nghiệp lúa nước đã tồn tại từ ngàn năm trước, thì đội ngũ tri thức chủ yếu là lớp
nhà nho nguyên hợp với một tư tưởng gần như đồng nhất từ trên xuống duới,
hoặc là “hành đạo”, hoặc là “ẩn dật”. Đến tận thế kỷ XIX trong văn học Việt
Nam mới xuất hiện thêm một mẫu nhà nho mới – Nhà nho tài tử. Họ vừa là
nhân vật trong tác phẩm văn học, vừa là những văn sĩ tài hoa, tiêu biểu là Cao
Bá Quát, Nguyễn Công Trứ …và người đại diện cuối cùng là Tản Đà.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

Việc quân Pháp tiến đánh và dần độc chiến Việt Nam cùng với những
chính sách cai trị thâm độc của chúng đã làm cho xã hội phong kiến Việt Nam
bị lung lay tới tận gốc rễ. Một ý thức hệ Nho giáo tồn tại hàng ngàn năm
tưởng chừng sẽ vững bền mãi nay đột ngột sụp đổ, nếp nghĩ, nếp sinh hoạt
của người Việt đổi thay theo chiều hướng có cả tích cực lẫn tiêu cực. Lớp
người “nhạy cảm” nhất với những biến động của xã hội là giới trí thức, việc
“hiện đại hoá”, “chuyên nghiệp hoá” đội ngũ tri thức đã diễn ra. Nếu trước
đây, nhà Nho sáng tác để phục vụ mục đích chính trị hoặc để mua vui, để gửi
gắm tâm sự… Thì hôm nay, đã có những nhà Nho từ nông thôn ra thành thị,
dùng ngòi bút của mình để kiếm sống nuôi thân. Sự phân công lao động nội
tại của tầng lớp trí thức đã diễn ra, xuất hiện thêm những loại tri thức mới
chưa từng có trước đây như: ký giả, văn sĩ chuyên nghiệp, nhà khoa học, nhà
tư tưởng …Hơn thế, ngay trong bản thân mỗi văn nghệ sĩ cũng có sự phân
công khác trước, các yếu tố: nhà văn, nhạc sĩ, hoạ sĩ, nhà thơ…Trước kia
thường tồn taị trong một người thì nay được phân công rành mạch.
Một khi nếp sống thay đổi thì tư tưởng sống, nếp nghĩ cũng thay đổi.
Phần lớn giới tri thức những năm đầu thế kỷ XX đã sống thu mình lại, không
dám đấu tranh trực diện với kẻ thù như trước (ngoại trừ một số nhà chí sĩ yêu
nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh). Họ vẫn yêu nước, vẫn đau xót
trước cảnh đất nước rơi vào vòng nô lệ xơ xác, tiêu điều nhưng chỉ dám dùng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status