MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bước sang thế kỷ XX, nền văn học dân tộc đã có những chuyển biến nhất
định. Văn học chuyển dịch theo hướng hiện đại hóa. Đó là sự xuất hiện của các
trào lưu văn học, các quan niệm thẩm mỹ, các hình tượng nghệ thuật, cũng như
các chủ đề, đề tài mới. Và đặc biệt phải kể tới sự thay đổi của hệ thống thể loại
văn học trong giai đoạn giao thời này. Sự phát triển của một nền văn học có thể
được nhìn nhận qua quá trình phát triển của các thể loại nên quá trình hiện đại
hóa nền văn học cũng được xem xét thông qua sự thay đổi cơ cấu thể loại và
những cách tân tìm tòi mới trong từng thể loại đó. Trong quá trình hiện đại hóa,
nền văn học Việt Nam đã xảy ra hiện tượng phá vỡ cơ cấu thể loại cũ. Những
thể loại vùng ngoại biên dần đi vào trung tâm, đồng thời xuất hiện những thể
loại mới du nhập từ nền văn học phương Tây. Sự cách tân nền văn học được thể
hiện rõ nhất qua sự phát triển và chiếm ưu thế của những thể loại văn xuôi cùng
với những đổi mới mạnh mẽ trong chính các thể loại đó.
Thể loại du ký hay còn gọi là thể tài du ký đã xuất hiện trong lịch sử văn
học Việt Nam từ rất sớm. Ngay trong nền văn học trung đại, người ta đã thấy
xuất hiện các bài thơ, bài phú, với nội dung ghi chép lại những sự kiện, cũng
như những danh lam thắng cảnh trong các cuộc du hành của những người lữ
khách. Đặc biệt cuối thế kỷ XVIII, với sự xuất hiện của một loạt các tác phẩm
như: Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác, Tây hành nhật ký của Phạm Phú Thứ,
Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Dậu của Trương Vĩnh Ký…thể tài du ký mới dần phát
triển. Nhưng phải tới mấy thập niên đầu của thế kỷ XX, thể tài du ký mới thực
sự thành một dòng chảy liên tục, mà công đầu là của ông chủ bút báo Nam
Phong.
Đầu thế kỷ XX, giao thông phát triển, việc giao lưu văn hóa được mở
rộng… đã tạo điều kiện cho việc đi lại cho các nhà du ký. Từ đây, hàng loạt các
1
tác phẩm du ký đã được ra đời. Trong mỗi tác phẩm du ký, đằng sau những bức
tranh danh lam thắng cảnh, luôn chứa đựng những nỗi niềm ưu ái, những xúc
cảm chân thành nhất của người viết về quê hương đất nước, về cuộc sống. Bởi
xét về phong tục, tín ngưỡng của người mình(...)Phạm Quỳnh đã biết thuật
chuyện có duyên, biết điểm vào những đoạn tả cảnh xinh tươi, nhất là khéo biết
sử dụng một lời văn thanh thoát trang nhã. Nhưng từ 1925 trở đi, ngòi bút hướng
vào giản dị và chuẩn xác hơn”
Năm 1967, Tạp chí văn học số 02, có bài Về thể ký của tác giả Tầm Dương.
Trong bài viết này tác giả đã phân loại thể ký, và du ký được cho là một phần
của ký sự: “Du ký là “ký” lại các sự (những điều mắt thấy tai nghe) trong lúc
“du””.
Cùng năm ấy, Tạp chí văn học số 06, tác giả Nam Mộc trong bài viết Thể
ký và vấn đề viết về người thật việc thật có viết: “Có thứ bút ký phản ánh người,
việc và cảm nghĩ diễn biến trong không gian theo bước đi của nhà văn đó là du
ký ”.
Năm 1968, khi thực hiện công trình Mục lục phân tích Nam Phong tạp chí,
1917 - 1934, nhà thư mục Nguyễn Khắc Xuyên xác định du ký là một trong 14
bộ môn và nêu nhận xét về thể tài du ký, còn được ông gọi là du hành trên Nam
Phong tạp chí: “Nhiều khi chúng ta tự cảm thấy, sống trong đất nước với giang
sơn gấm vóc mà không được biết tới những cảnh gấm vóc giang sơn. Thì đây,
theo tờ Nam Phong chúng ta có thể một phần nào làm lại cuộc hành trình qua tất
cả các phong cảnh hùng vĩ nhất, đẹp đẽ nhất của đất nước chúng ta từ Bắc chí
Nam”.
Trong cuốn Quá trình hiện đại hóa văn học, do nhà nghiên cứu Mã Giang
Lân chủ biên, cũng có nói tới thể tài du ký: “Thể loại văn học đầu tiên viết bằng
chữ quốc ngữ phải kể đến du ký. Đây là một hình thức bút ký văn học được ghi
lại bằng văn xuôi, thuật lại những chuyến đi của tác giả đến những vùng đất
3
khác nhau…Nguồn gốc của du ký cần tìm trong những hình thức tùy bút, ký sự
truyền thống”.
Trong các công trình trên, du ký đã được nhắc tới sơ lược, nhưng chưa có
định nghĩa cụ thể nào về thể tài này. Cho tới cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, do
Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên, du ký mới được định
đề Viết của sự Đi. Bài viết đã nêu lên một vài đặc điểm nổi bật của du ký trên
Nam Phong tạp chí, đó là điều kiện ra đời, những đặc trưng không gian - thời
gian… trong du ký. Và cuối cùng tác giả nhận định: “Bộ du ký Việt Nam trên
Tạp chí Nam Phong là một kho tư liệu quý, một chứng tích của thời gian”.
Báo Tuổi trẻ ra ngày 23.03.2007, Phạm Xuân Nguyên có bài Đọc sách để
đi chơi. Tác giả Xuân Nguyên cũng đã đưa ra ý kiến đánh giá của mình về du
ký: “Đọc du ký, để hiểu biết, có thêm thông tin tri thức là một lẽ. Đọc những tác
phẩm du ký này còn để hiểu thêm suy nghĩ, cảm xúc của những con người đứng
ở buổi đầu nền văn học hiện đại, muốn truyền tải và gửi gắm tới quốc dân trong
một nước đang tìm cách thoát lạc hậu đến văn minh”.
Báo Văn hóa và Thể thao, ra ngày 27.04.2007, có bài viết Du ký như một
thể tài của tác giả Linh Lê. Trong đó, nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn khi trả
lời phỏng vấn của tác giả Linh Lê, đã khẳng định: “Du ký cần quan niệm như là
một thể tài. Thể tài du ký cần phải hiểu là nhấn về phía đề tài, nội dung và cảm
hứng nghệ thuật của người viết chứ không phải về phía thể loại”.
Báo Người đại biểu nhân dân, ra ngày 01.04.2007, tác giả Phong Lê có bài
viết Du ký trên tạp chí Nam Phong.
Báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh, ra ngày 10.04.2007, có bài viết Du ký
Việt Nam - một bộ sách quý của Trần Hữu Tá
5
Báo An ninh thủ đô số ra ngày 15.04.2007, tác giả Thiên Lương có bài: Về
bộ sách Du ký Việt Nam - Nam Phong tạp chí, khát vọng chân thành của người
trí thức….
Báo Thể thao và Văn Hóa số 49 ra ngày 21.04.2007, có bài Chuyện đi xứ
người của Nguyễn Vĩnh Nguyên…..
Báo Văn hóa số 1355, số ra ngày 30.03.2007, có bài Đọc Du ký Việt Nam:
ngồi một chỗ mà thấy ngoài muôn dặm, của Nguyễn Anh.
Như vậy, có thể nói vấn đề nghiên cứu về du ký trên Nam Phong tạp chí,
nhìn chung còn khá sơ lược. Trước những giá trị và đóng góp của du ký đối với
nền văn học hiện đại Việt Nam, chúng tôi cho rằng cần có nhiều hơn nữa những
7
NỘI DUNG
Chương I: Thể du ký trên Nam Phong tạp chí (1917 - 1930)
1.1. Tạp chí Nam Phong
Nam Phong tạp chí là một tờ nguyệt san xuất bản tại Việt Nam từ ngày 1
tháng 7 năm 1917 đến tháng 12 năm 1934 thì đình bản, do Phạm Quỳnh làm chủ
bút, dưới sự bảo trợ của ông Louis Marty, trưởng phòng chính tại phủ toàn
quyền Pháp - Hà Nội. Trong suốt 17 năm hoạt động, tạp chí đã đăng 210 số, với
sự góp mặt của nhiều cây bút nổi tiếng như: Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Bá
Học, Nguyễn Đôn Phục, Đông Hồ, Mai Khê, Huỳnh Thị Bảo Hòa, Phục Ba,
Nguyễn Đức Tánh, Nguyễn Thế Xương...
Mục đích của Nam Phong là thể hiện chủ nghĩa khai hóa của nhà nước
mới, biên tập những bài bằng quốc văn, Hán văn, Pháp văn, để giúp cho sự mở
mang trí thức, giữ gìn đạo đức, bảo tồn quốc hồn quốc túy trong quốc dân Việt
Nam và truyền bá các môn khoa học Tây phương, nhất là học thuật tư tưởng đại
Pháp, cùng bênh vực quyền lợi người Pháp, và người Nam trong trường kinh tế.
Đặc biệt chú ý tới sự tập luyện, trau dồi văn quốc ngữ, để người Việt sớm có
một nền quốc văn riêng.
Nam Phong tạp chí từ lúc ra đời tới khi đình bản đã trải qua 4 giai đoạn
chính:
Giai đoạn 1917 - 1922: Thời kỳ thành lập và bành trướng của tờ báo
Giai đoạn 1922 - 1925: Thời kỳ đề cao mục đích giáo huấn, khai hóa quốc
dân. Tờ báo phát triển mạnh và truyền ra nước ngoài nhờ ảnh hưởng của Phạm
Quỳnh.
Giai đoạn 1925 - 1932: Đây là giai đoạn hoạt động chính trị mạnh nhất của
tờ báo.
Giai đoạn 1932 - 1934: Giai đoạn suy yếu của báo, quyền chủ bút chuyển
cho Nguyễn Trọng Thuật. Tới tháng 12 năm 1932 thì tạp chí đình bản hẳn.
8
Về nội dung, Nam Phong tạp chí đã đề cập tới rất nhiều vấn đề của đời
9
- Về đường văn tự, Nam Phong đã sáp nhập vào tiếng Việt nhiều danh từ
triết học, khoa học mới, và luyện cho chữ quốc ngữ có thể diễn dịch được các lý
thuyết, các ý tưởng về triết học, kho học mới.
- Về đường học vấn, Nam Phong đã phổ thông những điều yếu lược của
học thuật Âu - Tây, diễn giải những điều đại cương trong các học thuyết cũ của
Á Đông (Nho học, Phật học) và bảo tồn những điều cốt yếu trong văn hóa Việt
Nam xưa (văn chương, phong tục, lễ nghi).
Như vậy, Nam Phong tạp chí tuy có hạn chế về mặt lịch sử, nhưng những
giá trị mà nó đem lại thì không thể phủ nhận. Cho tới nay, những giá trị ấy vẫn
được công chúng nhìn nhận và đánh giá cao. “Đây là tờ báo gần như duy nhất
trong những năm chuyển tiếp giữa thập kỷ 20 và 30 của thế kỷ này, cung cấp
cho bạn đọc Việt Nam những kiến thức về văn chương, triết học, lịch sử, địa
lý…phương Đông và phương Tây, một cách hệ thống và liên tục. Nam Phong
cũng là nơi thử thách và rèn luyện ngòi bút viết văn xuôi quốc ngữ, văn xuôi
nghệ thuật và cao hơn là văn xuôi lý luận trong bước chuyển mình của văn
xuôi quốc ngữ chúng ta”. (Lại Văn Hùng)
(1)
1.2. Đặc điểm thể du ký
Thể ký ra đời từ rất sớm, là một loại hình trung gian nằm giữa báo chí và
văn học, bao gồm nhiều thể như: bút ký, hồi ký, du ký, phóng sự, ký sự, nhật ký,
tùy bút… Ký cơ bản khác với truyện (truyện dài, truyện ngắn, truyện vừa, tiểu
thuyết) ở chỗ trong tác phẩm ký không có một xung đột thống nhất. Ký cũng
không đi vào miêu tả quá trình hình thành tính cách của các cá nhân trong tương
quan với hoàn cảnh, mà là các vấn đề trạng thái dân sự như kinh tế - văn hóa -
chính trị, và trạng thái tinh thần như phong hóa đạo đức của chính môi trường xã
hội. Khác với Thơ mới, kịch, tiểu thuyết… là những thể loại ra đời và phát triển
do ảnh hưởng mạnh của quá trình tiếp xúc văn học phương Tây, thể ký lại mang
tính nội sinh hết sức rõ rệt. Nó là sự kết hợp giữa cách viết, cách tư duy giữa
truyền thống và hiện đại, giữa Đông và Tây. Bởi lẽ, một trong những đặc trưng
Nguyễn Đình Lạp, Tôi kéo xe của Tam Lang, Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng. Sau
cách mạng tháng Tám, ký lại có một bước chuyển mình mới. Các thể tài tùy bút,
11
nhật ký, bút ký chiếm một vị trí lớn trong đời sống văn học bấy giờ. Những tác
phẩm: Nhật ký ở rừng của Nam Cao, Ký sự Cao Lạng của Nguyễn Huy Tưởng,
Sống như anh của Trần Đình Vân, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Đình Thi,
Đường lớn của Bùi Hiển… đã tái hiện một cách chân thực và sinh động một thời
kỳ lịch sử anh hùng của dân tộc, của thời đại.
Trở lại với vấn đề mà khóa luận đang nghiên cứu, đó là thể du ký. Trong
nền văn học trung đại, du ký đã xuất hiện. Mở đầu là các bài du ký bằng thơ ca
đề vịnh phong cảnh như: Vịnh Văn Yên tự phú của Huyền Quang Lý Đại Táo,
Bài ký Tháp Linh Tế Núi Dục Thúy của Trương Hán Siêu, Tịnh cư ninh thể phú
và Đại đồng phong cảnh phú của Nguyễn Hàng, Thượng kinh ký sự của Lê Hữu
Trác, Nhị Thanh động phú và Tây Hồ phong cảnh phú của Ngô Thì Sĩ. Từ thế kỷ
XIX, các tác phẩm du ký trở nên phong phú hơn với những cuộc hành trình dài,
nội dung những bài du ký không chỉ còn giới hạn về các vấn đề trong đất nước,
mà đã được mở rộng ra nước ngoài. Các tác phẩm tiêu biểu như: Tây hành nhật
ký của Phạm Phú Thứ, Ghi về vương quốc Khơme, Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất
Dậu của Trương Vĩnh Ký, Như Tây nhật trình, Chư quốc thạc hội của Trương
Minh Ký… Sang thế kỷ XX, với những tiền đề về lịch sử xã hội cũng như
những tiền đề trong nội hàm văn học, thể du ký đã có điều kiện phát triển mạnh.
Thể du ký phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều giá trị nhất vào ba thập kỷ đầu
của thế kỷ XX.
Du ký là một thể đặc biệt của văn học. Bởi một tác phẩm du ký không đơn
giản chỉ là một tác phẩm văn học mà còn chứa đựng trong nó cả một kho kiến
thức lịch sử, địa lý, giáo dục, chính trị, giáo dục. Du ký có thể là các sáng tác
bằng thơ, phú, tụng hay những bài văn xuôi theo các phong cách ký như: ghi
chép, hồi ký, phóng sự, khảo cứu, hồi ức. Du ký thường là miêu tả những sự mắt
thấy tai nghe của người đi trên một hành trình, nó gần như một dạng nhật ký
hành trình nhưng đậm chất văn học hơn. Bàn về du ký, đã có không ít những ý
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đặc biệt là sau Đại chiến Thế giới lần thứ
nhất, thực dân Pháp tiếp tục đẩy mạnh chính sách khai thác thuộc địa ở nước ta,
tạo ra những biến đổi to lớn trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội.
Một trong những hệ quả to lớn của quá trình thực dân hóa chính là việc thúc đẩy
sự phát triển mau chóng của đô thị ở Việt Nam. Trước đó, trong thời đại phong
kiến, dưới tác động của nền kinh tế hàng hóa tuy mới chỉ là manh nha, đô thị
cũng đã sớm xuất hiện với sự ra đời của các phường thợ thủ công, những làng
nghề, những cơ sở thương mại... Nhưng phải tới thời kỳ Pháp thuộc đô thị mới
thực sự được “tái sinh” theo dòng chảy hiện đại. Đô thị là nơi tích tụ và phản
ánh những chuyển biến của xã hội Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa, là nơi
cửa ngõ giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và thế giới, là nơi mà những ảnh hưởng
phương Tây được thể hiện rõ nhất. Ở đó, xuất hiện những tầng lớp mới của xã
hội, những viên chức, những trí thức… với lối sống tư sản hóa đang mau chóng
hình thành. Chính những tầng lớp xã hội ấy đã đem đến một luồng gió tinh thần
mới trong đời sống. Những tập tục, thói quen, những trói buộc không còn phù
hợp thậm chí là hà khắc của chế độ phong kiến đã dần bị họ đẩy lui. Thay vào
đó là là những lối sống mới với những trạng huống tâm lý mới mẻ...
Đô thị phát triển chính là một trong những tiền đề quan trọng cho quá trình
hiện đại hóa nền văn học nước nhà. Đô thị không chỉ tạo ra những tầng lớp mới
trong xã hội nói chung, mà đối với riêng lĩnh vực văn học nghệ thuật, đô thị đã
“đào tạo” ra một tầng lớp công chúng mới. Họ bao gồm những học sinh, sinh
viên, những trí thức, những người bình dân… Cho dù thành phần và xuất thân
của lớp công chúng mới không giống nhau, nhưng tất cả đều có chung một thị
hiếu, một đòi hỏi với văn học. Văn học của thời đại mới phải thể hiện chân thực
14
và sinh động nhất đời sống, con người hiện đại. Độc giả được biết đến như là
những người trực tiếp tiếp nhận tác phẩm văn học từ nhà văn. Không có họ, câu
hỏi “Viết cho ai?” sẽ trở nên vô nghĩa, và như vậy cũng có nghĩa là văn học
không thể tồn tại. Độc giả của thế kỷ XX là những con người mới, mang những
tri thức mới, đã không còn bằng lòng với kiểu văn chương đậm tính chất giáo
Bên cạnh sự phát triển của chữ quốc ngữ, sự ra đời của báo chí đã tạo nên
những môi sinh thuận lợi cho sự hiện diện và thăng hoa của nền văn học mới.
Báo chí chỉ thực sự ra đời trong quá trình thực dân hóa Đông Dương của người
Pháp. Với mục đích “chinh phục tinh thần người bản xứ”, người Pháp đã dùng
báo chí như một công cụ hữu hiệu, là cầu nối giữa người đi chinh phục và người
bị chinh phục. Vì thế, ngay năm 1865 Pháp đã cho xuất bản tờ Gia Định báo.
Sang thế kỷ XX, cùng với sự phổ biến của chữ quốc ngữ, báo chí phát triển nở
rộ. Bằng chứng là nếu như năm 1865 cả nước ta chỉ có một tờ Gia Định báo
thì đến năm 1922 cả nước đã có 96 tờ báo, tạp chí, tập san. Năm 1925 : 121
tờ; năm 1929: 153 tờ với các tên báo nổi tiếng như: Đông Dương tạp chí, An
Nam tạp chí, Hữu Thanh tạp chí, Nam Phong tạp chí, Phụ nữ tan văn, Đông
Pháp thời báo... Thêm vào đó, đến đầu thế kỷ XX, nhờ sự trưởng thành nhanh
chóng của đội ngũ những người làm báo Việt Nam, hoạt động báo chí càng
trở nên sôi động hơn bao giờ hết. Trước sự đấu tranh mạnh mẽ của các nhà
báo Việt Nam, Nghiệp đoàn báo chí thuộc địa được thành lập (1919) với
những cương lĩnh tiến bộ như: đòi tự do ngôn luận, cấm xâm phạm thân thể
nhà báo… Đồng thời với sự ra đời của báo chí là những tiến bộ về khoa học
kỹ thuật trong ngành in ấn. Các phương tiện in ấn hiện đại được nhập từ
phương Tây đã thay thế lối khắc in bằng mộc bản thủ công. Cuối thế kỷ XIX
ở Việt Nam đã có một hệ thống các nhà in hỗ trợ đắc lực cho các nhà xuất
bản thời ấy, góp phần thúc đẩy sự phát triển của báo chí nước nhà. Với văn
học Việt Nam buổi giao thời, báo chí là môi trường tồn tại lý tưởng của văn
học nói chung, các thể loại văn học mới như du ký nói riêng. Báo chí với tính
thời sự và đại chúng của nó, đã là phương tiện, là cầu nối đưa tác phẩm văn
học tới tay độc giả một cách nhanh nhất, phổ biến nhất. Ngoài ra, quá trình
16
chuyển từ sáng tác bằng chữ Hán sang chữ quốc ngữ, bắt buộc tất cả các
nhóm nhà văn dù tân học hay cựu học đều phải trải qua một quá trình “tập
làm văn bằng tiếng mẹ đẻ”, đặt nền móng xây dựng một thứ ngôn ngữ văn
học mới bằng Tiếng Việt. Và báo chí là môi trường thuận lợi cho những thể
ký. Đầu thế kỷ XX, nhờ các phương tiện đi lại hiện đại như: máy bay, tàu
hỏa, tàu thủy, xe hơi, mà bao giấc mộng tang bồng của những người nghệ sĩ
có cơ hội được thực hiện.
Như vậy, sự xuất hiện và phát triển của đô thị, báo chí, nhà in, chữ quốc
ngữ, và sự tiếp xúc văn hóa Đông - Tây, điều kiện giao thông thuận lợi... là
những tiền đề lịch sử, văn hóa quan trọng cho việc ra đời của nền văn hóa
mới của Việt Nam. Trong nền văn học mới ấy, nhiều thể văn xuôi nghệ thuật
như du ký đã có điều kiện phát triển và đã tạo được nhiều giá trị độc đáo.
1.3.1.2. Cơ sở văn học
* Đội ngũ sáng tác và các quan niệm mới về văn học
Ở mỗi thời kỳ văn học luôn có những thế hệ nhà văn riêng. Nền văn học
trung đại Việt Nam từ thế kỷ XV tới thế kỷ XIX, là nền văn học nhà nho. Bởi
lẽ nhà nho chính là đội ngũ sáng tác văn học chính. Họ là những người con
của “cửa Khổng sân Trình”, tiến thân lập danh bằng con đường khoa cử. Theo
quan niệm Nho giáo, văn học nghệ thuật là phương tiện để giáo hóa chính tâm,
chế dục, là công cụ chính trị động viên, tổ chức xã hội. Văn học phải hướng vào
Đạo, có quan hệ đến nhân tâm, có tác dụng di dưỡng tính tình. Quan niệm văn
học nghệ thuật của Nho gia, được chính quyền chuyên chế coi là chính thống,
được đơn giản hóa cho thích hợp với nhu cầu nhà nước. Và các văn sĩ nghệ sĩ
được đào tạo theo quan niệm đó. Chế độ thi cử nghiêm khắc đã xác định ra
những người có tài. Nhà nước lấy văn chương chọn quan lại. Sĩ tử muốn có
công danh chỉ có con đường duy nhất là học chữ, thi đỗ, và ra làm quan. Cũng vì
lí do ấy mà văn chương cử tử được coi là thứ văn chương chính thống, chính đạo
và cao quý nhất. Từ giữa thế kỷ XVIII, cùng với những biến đổi to lớn về các
mặt của đời sống từ chính trị - xã hội, tư tưởng, đã dần xuất hiện một loại hình
18
nhà nho mới: nhà nho tài tử. Nhìn chung, nhà nho tài tử vẫn lấy Nho giáo làm ý
thức hệ chính thống, vẫn vận động trong khuôn khổ của một thể chế xã hội
truyền thống, nhưng ở họ đã bắt đầu nảy sinh những định hướng nhằm phá vỡ
các khuôn khổ đó.
rằng, thể loại chứ không phải phương pháp hoặc trường phái sáng tác là những
nhân vật chính của tấn kịch lịch sử văn học. Và thể loại còn được coi là một
trong những tiêu chí, thậm chí là quan trọng nhất trong việc phân kỳ lịch sử văn
học. Nói như nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân: “Lịch sử văn học là lịch sử phát
triển của thể loại văn học”.
Để tìm hiểu sự phát triển của thể loại văn xuôi ở Việt Nam giai đoạn
giao thời, trước hết chúng tôi muốn chỉ ra đặc trưng cơ cấu thể loại của văn
học truyền thống phương Đông và phương Tây. Văn học phương Tây từ thời
cổ đại, Aristote trong tác phẩm Nghệ thuật thi ca đã quan niệm văn chương là
những gì gắn với thơ. Những sáng tác văn học được đồng nhất với thơ và hầu
hết những sáng tác văn học nghệ thuật đều được diễn đạt bằng thơ, vì thế mà có
anh hùng ca bằng thơ, kịch thơ, thơ tế thần… Chỉ những sáng tác có giá trị mô
phỏng – tái tạo, hư cấu mới được coi là thơ ca. Các văn bản hành chính, các ghi
chép lịch sử đều nằm ngoài phạm vi văn chương. Aristote cũng đưa ra các tiêu
chí để phân biệt các thể loại văn học, đó là: 1. Mô phỏng bằng cái gì? (phương
tiện). 2. Mô phỏng cái gì? (đối tượng). 3. Mô phỏng như thế nào? (phương
thức). Sau này đến Heghen nhà lí luận phương Tây, ông chia văn học thành ba
phương thức chính: Tự sự, trữ tình và kịch dựa trên các tiêu chí: 1. Nội dung
phản ánh cái gì? 2. Phương thức điển hình hóa như thế nào? 3. Ngôn ngữ biểu
đạt ra sao? Ba phương thức trên chia nhỏ thành các thể loại khác nhau, cách
phân chia này gần như được thống nhất từ xưa tới nay. Trong hệ thống thể loại
văn học truyền thống phương Tây thì những sáng tác viết bằng hình thức văn
xuôi không được coi trọng. Họ cho rằng những sáng tác ấy viết bởi ngôn ngữ
đời sống hàng ngày không thiêng liêng, trang trọng nên bị hạ thấp so với thể loại
thơ ca.
20
Tương tự như vậy, văn học phương Đông cũng đề cao thơ ca. Văn học
truyền thống phương Đông mà tiêu biểu là nền văn học Trung Quốc đặc biệt coi
trọng giá trị của thơ ca, vì chúng vừa mang tính thẩm mỹ vừa chứa đựng nội
dung sâu sắc “thâm tư hàn táo” (Tiêu Thống). Các nhà lí luận cổ điển Trung
Trong công trính Mục lục phân tích Nam Phong tạp chí (1917 - 1943)
(1)
, nhà
thư mục Nguyễn Khắc Xuyên xác định du ký là một trong 14 bộ môn và nêu
nhận xét về thể tài du ký (còn được ông gọi là du hành): “Nhiều khi chúng ta tự
cảm thấy, sống trong đất nước với giang sơn gấm vóc mà không được biết tới
những cảnh gấm vóc giang sơn. Thì đây, theo tờ Nam Phong, chúng ta có thể
làm lại phần nào cuộc hành trình qua tất cả những phong cảnh hùng vĩ nhất, đẹp
đẽ nhất của đất nước chúng ta từ Bắc chí Nam, từ Cao Bằng, Lạng Sơn tới đảo
Phú Quốc, từ núi Tiên Du tới cảnh Hà Tiên và Ngũ Hành Sơn, từ Cổ Loa, Hạ
Long tới Huế thơ mộng…”.
Mục du ký trên Nam Phong tạp chí trong suốt 17 năm hoạt động của báo đã
tập hợp được 62 tác phẩm của gần 40 tác giả. Những tác giả ở đây có người là
chuyên nghiệp, có người chỉ là những cây bút nghiệp dư. Họ có thể là người nho
học, người tây học, là nhà báo, nhà văn, nhà khảo cứu… Có người đi vì sự vụ,
công vụ, có người đi chỉ là sở thích du lịch mà thôi. Chính những mục đích, tư
tưởng khác nhau đó của mỗi người đi đã tạo ra sự phong phú, độc đáo cho các
tác phẩm du ký. Có thể nói, mỗi tác phẩm là một bức tranh hiện thực tươi mới,
trong đó còn đong đầy dấu ấn, những tình cảm cá nhân chân thành và xúc động
của người đi - người viết.
Thể du ký trên Nam Phong tạp chí là sự tổng hợp của nhiều tác giả, nhiều
mảng chủ đề, đề tài, phản ánh những hiện thực khác nhau. Người đọc có thể
phân loại các tác phẩm này theo chủ thể sáng tác, theo các vùng văn hóa được
giới thiệu trong tác phẩm… Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn trong tác phẩm
Du ký Việt Nam
(2)
đã phân loại du ký thành 5 dòng chính,
1(1)
Nguyễn Khắc Xuyên – Mục lục phân tích Nam Phong tạp chí (1917 - 1934), Trung tâm Học
liệu ấn hành, Sài Gòn. 1968
đọc du ký sẽ ám ảnh hơn về cảm giác thời gian” (Vũ Tuấn Anh).
23
24
Chương II: Du ký trên Nam Phong tạp chí - Bức tranh hiện
thực rộng lớn
2.1. Các giá trị và hiện thực non sông đất nước trong du ký
2.1.1 Các giá trị
2.1.1.1. Giá trị địa lý
Các tác giả du ký khi dừng chân trước mỗi vùng đất, mỗi địa danh thường
không chỉ dừng lại ở việc miêu tả phong cảnh, cuộc sống nơi ấy, mà họ còn ghi
lại những dữ liệu mang giá trị địa lý. Bởi vậy, người đọc có thể tìm thấy trong
các trang du ký những số liệu thống kê về đất đai, dân cư, về địa thế, về khí hậu,
tài nguyên…
Tác giả Nguyễn Bá Trác trong Hạn mạn du ký, khi giới thiệu về thành Bắc
Kinh của Trung Quốc đã miêu tả một cách, chi tiết cụ thể: “Kinh thành chu vi có
40 dặm, thành cao 35 thước rưỡi. Chia ra làm 9 cửa. Chính nam là cửa Chính
Dương, nam chi tả là cửa Sùng Văn, nam chi hữu là cửa Tuyên Vũ. Đông là cửa
Triêu Dương và cửa Đông Trực, Chính tây là cửa Phụ Thành và cửa Tây
Trực…”[29,235].
Phạm Quỳnh trong Du lịch xứ Lào cũng không quên ghi lại những dữ liệu
địa lý của nước bạn láng giềng như: Diện tích Ai Lao là 214.000 km
2
, tổng số
dân Ai Lao khoảng 875.000 người, khí hậu thì tùy nơi thung lũng hay cao
nguyên mà khác nhau, cả nước Ai Lao có con sông lớn nhất chảy qua là một bộ
phận của sông Cửu Long dài 1.300 cây.
Hay khi nói về người Khách trên nước mình, Phạm Quỳnh đã dẫn ra những
con số cụ thể, để cho thấy, sự bành trướng, xâm chiếm của người Khách đối với
dân ta: “Hải Phòng tức là chợ Lớn Bắc Kỳ có 8.991 người khách, mà Chợ Lớn
Nam Kỳ có những 75.000 khách với 4.873 người Minh Hương! Hà Nội có 3.377