Ngôn ngữ nghệ thuật của thể du kí trên nam phong tạp chí (1917 đến 1934) - Pdf 24


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
VŨ HƢƠNG GIANG

NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT CỦA THỂ DU KÍ
TRÊN NAM PHONG TẠP CHÍ (1917 – 1934) LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Thái Nguyên, năm 2013

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

i
LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa
Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, cùng toàn thể các thầy cô
giáo đã tham gia giảng dạy và hướng dẫn nghiên cứu khoa học cho tập thể lớp
Cao học K19 - Văn học Việt Nam đã tạo điều kiện để tôi có cơ hội học tập và
nghiên cứu khoa học.
Xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS Cao Thị Hảo
- người thầy rất nghiêm khắc, tận tình trong công việc đã truyền thụ cho tôi
nhiều kiến thức quý báu cũng như kinh nghiệm nghiên cứu khoa học trong
suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, thầy cô và bè bạn đã
luôn động viên, khuyến khích và tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học
tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này. Thái Nguyên, ngày 29 tháng 03 năm 2013
Tác giả luận văn Vũ Hƣơng Giang

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iii
MỤC LỤC
Trang

Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 3
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 8
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
5. Phương pháp nghiên cứu 9
6. Đóng góp mới của luận văn 9
7. Cấu trúc luận văn 10
NỘI DUNG 11
Chƣơng 1. THỂ DU KÍ VÀ NAM PHONG TẠP CHÍ TRONG QUÁ
TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA VĂN HỌC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XX 11
1.1. Bối cảnh lịch sử văn hoá, văn học những năm đầu thế kỷ XX tác
động tới sự xuất hiện của Nam Phong tạp chí và thể loại du kí 11
1.1.1. Bối cảnh lịch sử - văn hóa 11
1.1.2. Bối cảnh văn học 14
1.2. Nam Phong tạp chí trong dòng chảy giao lưu văn hoá những năm đầu
thế kỷ XX 17
1.3. Đặc điểm thể loại du kí và diện mạo thể du kí trên Nam Phong tạp chí 19
1.3.1. Đặc điểm của thể du kí 19
1.3.2. Thể du kí trên Nam Phong tạp chí 21
1.4. Vài nét về ngôn ngữ nghệ thuật 24
1.4.1. Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật 24
1.4.2. Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật của thể du kí 26


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Bước sang đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam chuyển mình từ quỹ
đạo trung đại sang thời kì hiện đại, thoát khỏi tầm ảnh hưởng hàng nghìn năm
của văn hóa khu vực, hội nhập với văn hóa phương Tây đặc biệt là văn hóa
Pháp. Quá trình hiện đại hóa đã mang đến cho văn học một diện mạo hoàn
toàn mới với sự xuất hiện của hàng loạt các trào lưu văn học, tư tưởng nghệ
thuật, chủ đề, đề tài mới, đáng chú ý nhất là sự thay đổi của hệ thống thể loại.
Cơ cấu của những thể loại cũ có xu hướng bị phá vỡ, đồng thời xuất hiện
nhiều thể loại mới làm cho đời sống văn học thêm phong phú và sinh động.
Thể loại du kí xuất hiện rất sớm trong lịch sử văn học. Ngay từ thời kì
trung đại nó đã manh nha xuất hiện trong một số tác phẩm ghi chép những sự
kiện, những danh lam thắng cảnh của quê hương như: Thƣợng kinh kí sự của
Lê Hữu Trác, Tây hành nhật kí của Phạm Phú Thứ… Tuy nhiên phải đến
đầu thế kỷ XX, du kí mới thực sự trở thành một dòng chảy mạnh mẽ góp phần
quan trọng vào đời sống văn học giai đoạn này. Du kí là một thể tài đặc biệt
của văn học Việt Nam. Trong mỗi tác phẩm, các tác giả không chỉ giới thiệu
những danh lam thắng cảnh, những sự kiện, những miền xứ sở mình đã đi qua
mà còn thể hiện khá rõ tình yêu với non sông đất nước, trân trọng những tập
tục, truyền thống văn hóa khác nhau. Chính vì vậy, du kí trở thành nguồn tư
liệu quý báu cho những thế hệ sau. Đọc du kí, người ta có thể thấy được cả
lịch sử, địa lí, văn hóa phong tục, tập quán… ở trong đó, cung cấp những vốn
kiến thức phong phú, phản ánh những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của con
người, bồi đắp tình yêu với quê hương cho độc giả.
1.2. Ngôn ngữ là phương tiện rất quan trọng trong tác phẩm văn học. Nó
là hình thức vật chất duy nhất cho sự tồn tại của nội dung tác phẩm, là phương

học, chúng tôi đã chọn đề tài: “Ngôn ngữ nghệ thuật của thể du kí trên Nam
Phong tạp chí (1917 – 1934)”. Thông qua việc thực hiện đề tài này chúng tôi
hi vọng sẽ khẳng định được phần nào những đóng góp của du kí trên Nam
Phong tạp chí trong buổi đầu hình thành nền văn xuôi Quốc ngữ.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Những nghiên cứu về du kí trên Nam Phong tạp chí
Du kí là một thể tài tuy xuất hiện khá sớm trong đời sống văn học, nhưng
lại chưa được quan tâm đúng mức trong giới nghiên cứu phê bình, phần lớn
mới chỉ dừng lại ở những bài viết nhỏ, những nghiên cứu sơ lược, chỉ nhắc tới
du kí khi bàn về thể kí nói chung.
Trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm xuất bản
năm 1950 có nhắc tới thể tài du kí một cách sơ lược. Đến năm 1965, Phạm
Thế Ngũ với cuốn Việt Nam văn học sử giản ƣớc tân biên có bàn tới du kí
trong sáng tác của Phạm Quỳnh. Ông đưa ra nhận xét “Du kí Phạm Quỳnh
thiên về biên khảo, văn nghị luận nhiều hơn văn cảm giác… Phạm Quỳnh đã
biết thuật chuyện có duyên, biết điểm vào những đoạn tả cảnh xinh tươi, nhất
là khéo biết sử dụng một lời văn thanh thoát trang nhã” [26.196]. Ở đây, nhà
nghiên cứu đã đánh giá cao tài năng viết du kí của học giả Phạm Quỳnh. Lối
viết văn của ông chủ bút báo Nam Phong không chỉ đơn thuần là những khảo
cứu, ghi chép mà còn mang đậm chất văn chương ở cách tả cảnh, cách kết
hợp từ ngữ khéo léo. Ông khẳng định “Phạm Quỳnh là người tranh đấu cho
câu văn Quốc ngữ”. [26. 196]
Năm 1967, Tạp chí văn học (số 2) có bài Về thể kí của tác giả Tầm Dương.
Trong bài viết của mình, tác giả phân loại thể kí, và du kí được xem là một phần
của kí sự “du kí là kí lại những sự (những điều mắt thấy tai nghe) trong lúc du”
[8]. Tạp chí văn học (số 6), tác giả Nam Mộc trong bài viết Thể kí và vấn đề về

sự truyền thống”.[16]
Điểm lại các công trình trên, ta thấy thể du kí mới chỉ được các tác giả
nghiên cứu một cách sơ lược, chưa thành hệ thống, chưa có một công trình
nghiên cứu riêng biệt nào về thể du kí trên Nam Phong tạp chí.
Đáng chú ý nhất khi nghiên cứu về du kí nói chung và du kí trên Nam
Phong tạp chí nói riêng phải kể đến Nguyễn Hữu Sơn với hàng loạt các bài
nghiên cứu: Báo văn nghệ quân đội, số 10, năm 2000 có bài Thể tài du kí về
Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX; báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, số 6,
năm 2000 xuất hiện bài Phác thảo du kí Hà Nội trước cách mạng tháng Tám;
báo Văn nghệ Hạ Long, số tết, năm 2012 đăng bài Du kí Quảng Ninh nửa

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
đầu thế kỷ XX; Tạp chí Kiến thức ngày nay, số 570, năm 2006 có bài Thể tài
du kí và các tác giả Nam bộ nửa cuối thế kỷ XIX đến năm 1945; Tạp chí
Nghiên cứu văn học, số 4, năm 2007 với Thể tài du kí trên Tạp chí Nam
Phong (1917 – 1934); Tạp chí Kiến thức ngày nay, số 619 có bài Du kí về
vùng văn hóa Sài Gòn – Nam bộ. Trong cuốn Kỷ yếu hội thảo quốc tế Việt
Nam học lần thứ ba (5 – 7/12/2008) xuất hiện bài viết Du kí của người Việt
Nam viết về nước Pháp và mối quan hệ Việt – Pháp giai đoạn cuối thế kỷ XIX
– nửa đầu thế kỷ XX.
Đặc biệt vào năm 2007, tác giả Nguyễn Hữu Sơn đã dày công biên soạn,
sưu tầm và giới thiệu bộ Du kí Việt Nam, Tạp chí Nam phong (1917 –
1934) gồm 3 tập. Trong bộ sách tác giả đã giới thiệu đầy đủ 62 tác phẩm du kí
đăng trên Nam Phong tạp chí. Sau khi bộ du kí ra đời trên diễn đàn nghiên
cứu văn học đã xuất hiện hàng loạt các bài viết về thể du kí, mở ra một bước
phát triển mới của việc nghiên cứu thể tài này.
Báo Doanh nghiệp ra ngày 13.05.2007 có bài viết của Trung Sơn Viết
cho sự đi nêu lên một số đặc trưng của thể du kí như điều kiện ra đời, đặc

văn xuôi Quốc ngữ Bắc kì với sự định hình xu hướng “tả thực” và các thể
loại: kí, truyện ngắn, tiểu thuyết. Trong đó nhà nghiên cứu khẳng định “mặc
dù bám sát hiện thực, lấy gốc rễ từ những vấn đề có thực nhưng thể loại kí
giai đoạn đầu thế kỉ XX ở Bắc kì không thể hiện một cách tiếp cận đời sống
thông qua điều tra, khám phá, nhận thức thực tại như kiểu phóng sự ở giai
đoạn sau mà mang đặc điểm của một thể văn xuôi trữ tình chủ yếu mô tả cảnh
vật, sự việc, con người, hoặc ghi chép những xúc cảm, suy nghĩ trước thiên
nhiên… Kí còn có mối giao thoa với tiểu thuyết.”[10.120]
Những công trình, bài viết trên đã phần nào đi sâu vào tìm hiểu những
đặc trưng về mặt nội dung và nghệ thuật, vai trò của thể tài du kí, khẳng định
những thành tựu của thể loại này trong lịch sử phát triển văn học.
2.2. Nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật của thể du kí trên Nam Phong
tạp chí
Như đã nói ở trên, ngôn ngữ có vai trò quan trọng không chỉ đối với tác
phẩm văn học mà còn với cả công chúng độc giả. Nó là phương tiện, là cầu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
nối giữa tác giả với tác phẩm, giữa độc giả với tác phẩm. Tuy nhiên, ngôn ngữ
nghệ thuật của thể du kí trên Nam Phong tạp chí mới chỉ bước đầu được các
tác giả quan tâm trong một số công trình nghiên cứu.
Khi nghiên cứu về ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật buổi đầu tiếp xúc Á –
Âu, các tác giả trong cuốn Văn học Việt Nam (1900 – 1945) đã nhắc đến
ngôn ngữ của Phạm Quỳnh và đưa ra nhận xét: “Do không nắm được quy luật
của ngôn ngữ Việt Nam, câu văn xuôi Phạm Quỳnh dở Tây dở Tàu, khệnh
khạng, lủng củng, dài lòng thòng.”[6.214] Tuy nhiên, cùng với những hạn chế
đó, chúng ta cần thấy được những đóng góp của Phạm Quỳnh cũng như các
tác giả du kí trên Nam Phong tạp chí đối với việc định hình văn học Quốc ngữ
đầu thế kỉ XX.

trung nghiên cứu trên nhiều khía cạnh: điều kiện ra đời, mục đích, chủ đề, đề
tài, cảm hứng nghệ thuật, nội dung, đặc trưng nghệ thuật…
2. Ngôn ngữ của thể du kí trên Nam Phong tạp chí mới chỉ được đề cập
đến trong một số bài viết, chưa có một công trình độc lập nào nghiên cứu,
khảo sát, hệ thống hóa để có một cái nhìn đầy đủ và sâu sắc nhất.
Những khoảng trống trong lịch sử vấn đề đã khẳng định hướng nghiên cứu
của chúng tôi là có ý nghĩa khoa học. Nó cũng mở ra rất nhiều những khó khăn
thách thức cho người nghiên cứu. Tuy nhiên để bổ sung một cái nhìn toàn diện đối
với thể du kí trên Nam Phong tạp chí, chúng tôi quyết định chọn hướng nghiên
cứu Ngôn ngữ nghệ thuật của thể du kí trên Nam Phong tạp chí (1917 – 1934).
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
3.1. Phạm vi nghiên cứu
Trong văn học trung đại, thể kí đã xuất hiện với một số tên tuổi, nhưng
phải đến những năm đầu thế kỷ XX, đặc biệt là giai đoạn văn học giao thời
thể du kí mới thực sự phát triển mạnh mẽ đạt được nhiều thành tựu quan
trọng. Đối với luận văn này, chúng tôi tiến hành khảo sát, nghiên cứu toàn bộ
62 tác phẩm du kí được in trên Nam Phong tạp chí giai đoạn 1917 – 1934 của
gần 40 tác giả. Trong đó tập chung chủ yếu vào ba tác giả Phạm Quỳnh,
Nguyễn Bá Trác, Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục. Ngoài ra kết hợp so sánh với
một số tác phẩm du kí khác.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
3.2. Đối tƣợng nghiên cứu
Thực hiện luận văn, chúng tôi không nghiên cứu toàn bộ nội dung, đặc
trưng nghệ thuật của thể du kí mà chỉ tập trung vào nghiên cứu ngôn ngữ
nghệ thuật của thể du kí trên Nam Phong tạp chí.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu ngôn ngữ của thể du kí trên Nam Phong tạp chí (1917 –

Chương 3: Đặc điểm phương tiện ngôn ngữ nghệ thuật của thể du kí trên
Nam Phong tạp chí

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
NỘI DUNG
Chƣơng 1
THỂ DU KÍ VÀ NAM PHONG TẠP CHÍ TRONG QUÁ TRÌNH HIỆN
ĐẠI HÓA VĂN HỌC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XX
1.1. Bối cảnh lịch sử văn hoá, văn học những năm đầu thế kỷ XX tác động
tới sự xuất hiện của Nam Phong tạp chí và thể loại du kí
1.1.1. Bối cảnh lịch sử - văn hóa
Sau khi hoàn thành công cuộc xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp bắt đầu
tiến hành chương trình khai thác thuộc địa. Để phục vụ lâu dài cho quá trình vơ
vét bóc lột nước ta chúng xây dựng lên một bộ máy cai trị mới làm xã hội Việt
Nam thay đổi sâu sắc và toàn diện, chuyển từ chế độ phong kiến sang thực dân
nửa phong kiến, bộ mặt xã hội, thiết chế xã hội thay đổi nhanh chóng.
Nếu giai đoạn trước, nước ta chủ yếu là nền sản xuất nông nghiệp thô
sơ, thủ công, lạc hậu, nghèo nàn thì giờ đây với sự du nhập của các yếu tố
khoa học kĩ thuật phương Tây một nền sản xuất mới, tiên tiến bắt đầu hình
thành với sự xuất hiện của các đô thị hiện đại như Hà Nội, Hải Phòng, Nam
Định, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn…, hàng loạt các nhà máy, xí nghiệp, công
xưởng, hầm mỏ ra đời làm cho toàn bộ đời sống kinh tế xã hội thay đổi.
Đặc biệt là sự xuất hiện của các giai tầng mới trong xã hội. Trong xã hội
phong kiến chỉ có hai giai cấp chủ yếu là địa chủ và nông dân đến giai đoạn
này cơ cấu giai cấp xã hội chuyển biến nhanh chóng với sự có mặt của
nhiều giai tầng mới nhất là giai cấp tư sản, tiểu tư sản và công nhân, dân
nghèo thành thị. Những giai cấp này có vị trí xã hội, đời sống kinh tế và
thái độ chính trị khác nhau.

mới có thể mở mang, cuộc tiến hóa sau này mới có thể mong đợi được. Đến
ngày chữ Quốc ngữ dùng làm quốc văn được thì người nước Nam mới có thể
thâu thái các khoa học mới… Đến ngày ấy thì người dân ta mới phát biểu
được tinh thần cốt cách của mình… Nói tóm lại chữ Quốc ngữ có phát đạt thì
nền quốc học mới gây dựng được, quân dân ta mới không đến nỗi chung kiếp
đi học mướn viết nhờ như từ xưa đến nay.” Với những ưu thế trong khả năng
biểu hiện, chữ Quốc ngữ đã góp phần làm cho công chúng độc giả trở nên
phong phú và giúp cho quá trình sáng tác dễ dàng hơn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
Bên cạnh sự phát triển của chữ Quốc ngữ, báo chí cũng trở thành môi
trường thuận lợi cho sự hiện diện và thăng hoa của nền văn học mới. Báo chí
ra đời trong quá trình thực dân hóa Đông Dương của người Pháp. Với mục
đích “chinh phục tinh thần người bản xứ” người Pháp đã dùng báo chí như
một công cụ hữu hiệu, là cây cầu nối giữa kẻ đi chinh phục và người bị chinh
phục. Vì thế ngay từ năm 1865 Pháp đã cho xuất bản tờ Gia Định báo, in bằng
chữ Quốc ngữ đặt dưới sự điều hành của một người Pháp tên là Ernest
Potteaux. Đến đầu thế kỉ XX, với sự phổ biến của chữ Quốc ngữ, báo chí phát
triển nở rộ. Đội ngũ nhà làm báo Việt Nam ngày càng trưởng thành làm cho
hoạt động báo chí càng sôi động hơn bao giờ hết. Báo chí từ chỗ là sản phẩm
phục vụ cho nền hành chính thuộc địa đã thâm nhập và trở thành thành tố
quan trọng của văn hóa Việt Nam đầu thế kỉ. Có thể nói “quan hệ giữa báo
chí và văn chương ngày càng trở nên khăng khít trong sự tương hỗ. Báo chí
nhờ thêm sức mạnh của văn chương để lôi cuốn người đọc, còn văn chương
cũng nhờ báo chí mà thêm điều kiện phát triển, nhất là ở buổi đầu hình thành
nền văn học Việt Nam hiện đại” [5.49]. Trong 30 năm đầu thế kỷ XX, báo chí
giữ vai trò “là chiếc nôi, là bà đỡ của văn học hiện đại”. Nó là môi trường
tồn tại lí tưởng của tác phẩm văn học nói chung và thể du kí nói riêng, là cầu

giai đoạn này có sự trung chuyển của nhiều loại hình tác giả. Lớp nhà văn cũ
dù thất thế những vẫn còn tồn tại, những thế hệ nhà văn mới đang bắt đầu
hình thành. Trong bước đầu của quá trình hiện đại hóa văn học, với những đòi
hỏi mới của độc giả, các tác giả đã không ngừng nỗ lực cách tân tác phẩm của
mình. Những nhà văn mới là những người đầu tiên xông pha trên mảnh đất
văn học mới. Văn chương lúc này không còn để thể hiện Tâm - Đạo - Chí của
người cầm bút mà thể hiện một bức tranh hiện thức phong phú rộng lớn, thể
hiện cái tôi cá nhân đầy cảm xúc chân thành trước thiên nhiên tạo vật. Đặc
biệt thời kỳ này đội ngũ nhà văn chuyên nghiệp bắt đầu hình thành. Văn
chương bắt đầu trở thành một thứ hàng hóa đặc biệt, sáng tác văn chương là
một nghề để kiếm sống.
Cùng với thế hệ nhà văn mới là những quan niệm mới về sáng tác văn
chương nghệ thuật. Thời kì văn học trung đại, theo quan niệm Nho giáo, văn
chương là phương tiện chủ yếu để giáo hóa chính tâm, là công cụ chính trị

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
động viên tổ chức xã hội phục vụ cho chính quyền chuyên chế. Các tác giả
thường “chưa quan tâm đúng mức đến bản chất của văn chương nghệ thuật
mà hướng sự chú ý của mình đến đạo đức xã hội”.[10.107]
Đối tượng chủ yếu mà các nhà Nho quan tâm đến không phải là những
chuyện đời thường của cuộc sống thực tại mà chủ yếu hướng về những
chuyện đời xưa, những hình ảnh cao quý của một cõi tiên cảnh nào đó hay
những chuyện kì bí, phi thường. Hiện thực đời sống rất hiếm khi được tái hiện
trên trang văn. Bởi với họ “chuyện đời thường là phàm tục không đáng quan
tâm”. [10.93]
Đến thời kì hiện đại, trước những đòi hỏi của đời sống mới, văn chương
không còn đơn thuần nhằm vào mục đích giáo huấn nữa mà nó hướng tới
phản ánh hiện thực đời sống với xu hướng “tả thực”. Dưới con mắt của nhà

kịch gia đình và sự xuống cấp của đạo đức: Trằn trọc đêm xuân (Mân
Châu), Câu chuyện gia tình, câu chuyện nhà sƣ, Chuyện cô Chiêu Nhì
(Nguyễn Bá Học), Có mới nới cũ (Đoàn Nhữ Nam)… Đề tài phê phán tố cáo
xã hội xuất hiện trong một số tác phẩm: Sống chết mặc bay (Phạm Duy Tốn),
Câu chuyện một tối của ngƣời tân hôn, Một nhà bác học (Nguyễn Bá
Học)… Đặc biệt nói đến truyện ngắn giai đoạn này không thể không nói đến
Nguyễn Công Hoan với hàng loạt các tác phẩm độc đáo: Răng con chó của
nhà tƣ sản (1929), Oẳn tà roằn (1930), Ngựa ngƣời và ngƣời ngựa
(1931)… Có thể nói thời kì này “truyện ngắn hiện đại Việt Nam đã tiến
những bước chững chạc về mặt nghệ thuật và dự báo một xu thế cơ bản sẽ đạt
được nhiều thành tựu ở giai đoạn sau…”[10.130]
Cùng với các thể loại văn xuôi khác, tiểu thuyết cũng có những đóng góp
quan trọng cho sự phát triển của văn xuôi nước nhà, với nhiều tác phẩm thể hiện
sự cách tân của người cầm bút như: Cành hoa điểm tuyết (Đặng Trần Phất),
Quả dƣa đỏ (Nguyễn Trọng thuật), Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách)…Đặc biệt là
sự nở rộ của tiểu thuyết ở Nam kì: Tiền bạc bạc tiền, Cay đắng mùi đời (Hồ
Biểu Chánh), Nghĩa hiệp kì duyên (Nguyễn Chánh sắt), Mạng nhà nghèo
(Nguyễn Bửu Mọc)… Tuy vẫn còn ảnh hưởng của phương pháp sáng tác truyền
thống nhưng các tác phẩm chứa đựng không ít những yếu tố mới mẻ, tiến bộ thể
hiện một tư tưởng mới, một cá tính sáng tác mới.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
Qua đây có thể thấy, văn xuôi với khả năng phong phú vốn có đã diễn tả
được đầy đủ tất cả các mặt đa dạng của đời sống “kể cả cái “chất văn xuôi”
tức là cái chất phàm tục của cuộc sống đương thời” (Vương Trí Nhàn). Chính
vì khả năng bao quát hiện thực rộng lớn như vậy nên các thể loại văn xuôi
ngày càng khẳng định được vị trí quan trọng của nó trong đời sống văn
chương hiện đại.

hoàn toàn mới, biết đến một thế giới khác tiên tiến, hiện đại.
Văn hóa phương Tây du nhập vào Việt Nam mang theo một luồng gió
mới tạo nên một quá trình tiếp xúc, giao lưu văn hóa Đông – Tây làm xuất
hiện nhiều yếu tố mới trong đời sống văn học như ngôn ngữ, tư tưởng, bút
pháp, cảm hứng sáng tạo, đội ngũ nhà văn, công chúng độc giả… đời sống
văn chương trở nên vô cùng sôi động. Tuy nhiên bên cạnh sự xâm lấn dần của
những yếu tố mới thì những yếu tố cũ cũng đang tồn tại song song và nó vẫn
được một bộ phận đông đảo người dân ủng hộ. Có thể nói đây là thời kì có sự
hòa trộn của hai yếu tố văn hóa cũ – mới. Khi gốc rễ của cái cũ đã bắt đầu
lung lay thì cái mới xâm lấn tạo nên một làn sóng mới nhưng chưa trở thành
một cơn bão mạnh mẽ để thay thế hoàn toàn cái cũ. Cái cũ vẫn tồn tại trong
sự chèn ép của cái mới. Có lẽ chính vì vậy mà người ta gọi thời kì này là
“mưa Âu gió Mĩ”, “cũ mới tranh nhau”, “Á Âu xáo trộn”…
Tầng lớp tri thức là những người nhận thấy sự biến đổi này rõ nhất. Họ
tiếp xúc với những tư tưởng mới như dân chủ, duy tân, giải phóng cá tính từ
khá sớm qua các tác phẩm dịch thuật. Tuy nhiên do chịu ảnh hưởng nặng nề
của nền văn hóa phong kiến lâu đời nên trong con người họ tồn tại cả hai
luồng tư tưởng đan xen. Họ sáng tác những đứa con tinh thần của mình trên
nền tảng của văn hóa phương Đông nhưng lại được khoác một bộ áo mới
phương Tây. Công chúng độc giả tiếp nhận văn học cũng vậy, mặc dù rất
hứng thú với cuộc cách mạng văn hóa mới nhưng một bộ phận công chúng
vẫn chưa thoát khỏi sự ảnh hưởng nặng nề của nền văn hóa cũ.
Trong dòng chảy giao lưu văn hóa đó, tạp chí Nam Phong ra đời. Để phù
hợp với tình hình mới, tạp chí xuất bản bằng hai thứ chữ, chữ Nho và chữ Quốc
Ngữ, dung hòa người Việt trên con đường hòa nhập văn hóa Á – Âu. Bên cạnh
những luồng tư tưởng mới thì các tác giả Nam Phong vẫn chịu sự chi phối khá rõ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

19

Trích đoạn Trên các phương thức biểu đạt của ngôn ngữ Hệ thống từ Hán Việt Hệ thống từ ngữ mang tính khẩu ngữ, đời thường Hệ thống từ ngữ ngoại lai Câu văn khúc triết mạch lạc, ngắn gọn ảnh hưởng lối diễn đạt
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status