hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong truyện ngắn của nam cao - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
======== LÊ THỊ THƢ
HÀNH VI NGÔN NGỮ GIÁN TIẾP TRONG
TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Đào Thị Vân
1.1. Một số lí thuyết về ngữ dụng học 12
1.1.1. Lí thuyết về hành vi ngôn ngữ 12
1.1.1.1. Khái niệm hành vi ngôn ngữ 12
1.1.1.2. Hành vi ngôn ngữ trực tiếp, hành vi ngôn ngữ gián tiếp 13
1.1.1.3. Phát ngôn ngữ vi tƣờng minh và phát ngôn ngữ vi nguyên cấp 15
1.1.1.4. Một số phƣơng tiện đánh dấu hành vi ở lời 16
1.1.2 Sơ lƣợc về hội thoại 20
1.1.2.1. Khái niệm 20
1.1.2.2. Các đơn vi hội thoại 21
1.1.2.3. Các quy tắc hội thoại 24
1.1.3. Ngữ cảnh 27
1.1.3.1. Khái niệm 27
1.1.3.2. Các nhân tố của ngữ cảnh 27
1.2. Khái quát lí thuyết về từ, cụm từ, câu tiếng Việt 31
1.2.1. Sơ lƣợc về từ tiếng Việt 31
1.2.1.1.Khái niệm 31
1.2.1.2 Phân loại 32
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
1.2.2. Sơ lƣợc về cụm từ tiếng Việt 33
1.2.2.1. Khái niệm 33
1.2.2.2. Phân loại 29
1.2.3. Sơ lƣợc về câu tiếng Việt 34
1.2.3.1. Khái niệm 30
1.2.3.2. Phân loại 31
1.3. Kết luận chƣơng 36
CHƢƠNG 2: BIỂU THỨC DIỄN ĐẠT HÀNH VI NGÔN NGỮ GIÁN TIẾP
TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO 37
2.1. Nhận xét chung 37

vi ngôn ngữ trực tiếp 60
3.1.3.2. Nhóm hành vi ngôn ngữ gián tiếp đƣợc thể hiện bằng hai hành
vi ngôn ngữ trực tiếp 87
3.2. Các kiểu hành vi ngôn ngữ gián tiếp đƣợc phân loại theo lý thuyết
hội thoại 91
3.2.1 Nhận xét chung 91
3.2.2 Kết quả thống kê và phân loại 92
3.2.3. Miêu tả các kiểu hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong truyện ngắn
Nam Cao đƣợc phân loại theo lý thuyết hội thoại 93
3.2.3.1. Các kiểu hành vi ngôn ngữ gián tiếp đƣợc phân loại theo chức
năng của chúng trong cuộc hội thoại 93
3.1.3.2. Các kiểu hành vi ngôn ngữ gián tiếp đƣợc phân loại theo chức
năng trong một tham thoại 98
3.3. Hành vi ngôn ngữ gián tiếp đƣợc phân loại theo chủ ngôn 103
3.3.1. Nhận xét chung 103
3.3.2. Kết quả thống kê và phân loại 104
3.3.3. Miêu tả hành vi ngôn ngữ gián tiếp đƣợc phân loại theo chủ ngôn 104
3.3.3.1. Hành vi ngôn ngữ có chủ ngôn là nhân vật 104
3.2.3.2. Hành vi ngôn ngữ gián tiếp có chủ ngôn là tác giả 105
3.4. Tác dụng của hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong truyện ngắn của
Nam Cao 106
3.4.1 Sử dụng hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong truyện ngắn Nam Cao
có tác dụng tăng tính lịch sự cho phát ngôn 106
3.4.2. Sử dụng hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong truyện ngắn Nam Cao
có tác dụng bộc lộ thái độ, tâm trạng, tính cách nhân vật 108
3.4.3. Sử dụng hành vi ngôn ngữ gián tiếp có tác dụng thể hiện thái độ
tác giả 113
3.4.4. Sử dụng hành vi ngôn ngữ gián tiếp có tác dụng làm tăng tính hấp
dẫn cho tác phẩm 115
3.5. Kết luận chƣơng 117

Đến nay mới chỉ thấy những khảo luận lẻ tẻ về đại từ, hay thành ngữ, quán
ngữ trong truyện ngắn của ông. Về vấn đề nghiên cứu hành vi ngôn ngữ, ở
các công trình nghiên cứu mới thấy những trích đoạn trong truyện ngắn Nam
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

6
Cao đƣợc đƣa vào để làm dẫn chứng chứ chƣa thấy có công trình nào nghiên
cứu hành vi ngôn ngữ nhƣ một chỉnh thể độc lập.
Những điều vừa nói trên đây cho thấy, tìm hiểu hành vi ngôn ngữ gián
tiếp nói chung và hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong truyện ngắn Nam Cao nói
riêng là một việc làm cần thiết. Nghiên cứu nghiêm túc vấn đề này không chỉ
giúp ta hiểu thêm về lí thuyết hành vi ngôn ngữ mà còn giúp ta thấy đƣợc
phần nào nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của một nhà văn có tên tuổi trong lịch
sử văn học nƣớc nhà.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là các hành vi ngôn ngữ gián tiếp
trong truyện ngắn của Nam Cao.
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Hành vi ngôn ngữ gián tiếp đƣợc Nam Cao sử dụng khá nhiều trong sáng
tác của mình, cả trong tiểu thuyết lẫn truyện ngắn. Song luận văn này chỉ tìm
hiểu các hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong truyện ngắn của ông và cũng chỉ
nghiên cứu đối tƣợng này về 3 phƣơng diện:
- Cấu trúc cú pháp của các biểu thức diễn đạt hành vi ngôn ngữ gián tiếp;
- Một số đặc điểm ngữ dụng: các hành vi ngôn ngữ gián tiếp đƣợc biểu
đạt bởi hành vi ngôn ngữ trực tiếp nào, chức năng của hành vi ngôn ngữ gián
tiếp trong hội thoại;
- Vai trò của hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong truyện ngắn của Nam Cao.
3. Mục tiêu nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Ngữ dụng học nói chung và hành vi ngôn ngữ gián tiếp nói riêng vẫn còn là
mảnh đất cần đƣợc khai phá.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

8
Trên thế giới, tƣ liệu điều tra của chúng tôi cho thấy có khá nhiều những
công trình nghiên cứu về hành vi ngôn ngữ, trong đó có hành vi ngôn ngữ
gián tiếp. Trƣớc tiên phải kể đến Austin với công trình How do you things
with words (Hành động nhƣ thế nào bằng lời nói), xuất bản năm 1962. Ở công
trình này, Austin đã bàn khá kĩ về hành vi ngôn ngữ nói chung và các tiêu chí
phân loại chúng, song rất tiếc ông mới chỉ giới thiệu sơ lƣợc về hành vi ngôn
ngữ gián tiếp. Phải đến năm 1969, khi Searle công bố công trình Speech acst
(Các hành vi ngôn ngữ gián tiếp) thì vấn đề hành vi ngôn ngữ mới thực sự
đƣợc giới nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm. Searle đã đƣa ra khái niệm, một vài
đặc điểm và cơ chế hình thành của hành vi ngôn ngữ gián tiếp (10 bƣớc hình
thành hành vi ngôn ngữ gián tiếp).
Sau Searle, nhiều nhà ngôn ngữ học vẫn tiếp tục tìm hiểu hành vi ngôn
ngữ gián tiếp. Chẳng hạn nhƣ: D. Gordon và G. Cakoff với công trình nghiên
cứu Conversationnal portulate xuất bản năm 1975, J Morgan với công trình
nghiên cứu Two types of convertion indirect speech acts xuất bản năm
1978,v.v… Ở các công trình nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu chủ yếu đi
tìm hiểu nguyên nhân vì đâu mà có hành vi ngôn ngữ gián tiếp. J. Morgan cho
rằng hành vi ngôn ngữ gián tiếp hình thành là do quy ƣớc về sử dụng ngôn
ngữ. Sự quy ƣớc này chi phối cách dùng của câu qua nghĩa trên bề mặt của
câu chữ theo một mục đích nào đó chứ không phải do hội thoại mà câu đó nảy
sinh hàm ý. K. Rube trong công trình Statut semantique des actes indirectes
xuất bản năm 1980 lại có ý kiến khác. Theo ông, hành vi ngôn ngữ gián tiếp
đƣợc hình thành trên cơ sở siêu ngôn ngữ, nghĩa là nó hình thành trên cơ sở
ngữ nghĩa hơn là ngữ dụng. Nhƣ vậy, có thể thấy những công trình nghiên
cứu sau này là sự kế thừa những tiền đề lí thuyết mà Searle đã đặt ra, song

giới nghệ thuật của nhà văn, sách do nhiều tác giả viết, Nxb Giáo dục, 2002;
Nam Cao nhà văn hiện thực xuất sắc, Nxb Văn Hóa, 1961; Nam Cao đời văn
và tác phẩm, Nxb Hội nhà văn, 1976 cùng của tác giả Hà Minh Đức…
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

10
Vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ trong truyện ngắn Nam Cao hiện nay đã
thu hút đƣợc sự quan tâm của nhiêu nhà nghiên cứu, đặc biệt là những vấn đề
thuộc ngành Dụng học tuy còn mới mẻ nhƣng đã bắt đầu đƣợc đề cập đến
trong một số luận văn cũng nhƣ luận án. Có thể kể ra đây ít công trình nghiên
cứu là luận án tiến sĩ Hội thoại trong truyện ngắn Nam Cao (Các hình thức
thoại dẫn) của Mai Thị Hảo Yến, Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội, 2000,
luận văn thạc sĩ “Hội thoại trong sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng
tháng Tám (đặc điểm sử dụng từ ngữ trong quan hệ với nhân vật)” của Phạm
Văn Khanh, Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội, 2006 và luận văn cử nhân Tìm
hiểu liên kết đoạn thoại trong truyện ngắn Nam Cao của Nguyễn Thị Ngân
Hà, ĐHSP Thái Nguyên.
Trong luận án tiến sĩ của mình, Mai Thị Hảo Yến đã chú ý đi tìm hiểu về
vấn đề thoại dẫn (tức là lời dẫn thoại) chứ không đi sâu nghiên cứu các hành
vi ngôn ngữ của lời thoại (trong đó có hành vi ngôn ngữ gián tiếp).
Trong luận văn thạc sĩ đã dẫn của Phạm Văn Khanh, tác giả chủ yếu tìm
hiểu đặc điểm sử dụng từ ngữ trong hội thoại của các nhân vật, qua đó thấy
đƣợc sự phù hợp giữa ngôn ngữ hội thoại và hình tƣợng nhân vật mà cũng
chƣa tìm tìm hiểu đến các hành vi ngôn ngữ.
Cũng nhƣ tác giả Mai Thị Hảo Yến, Phạm Văn Khanh, tác giả Nguyễn
Thị Ngân Hà trong luận văn của mình cũng nghiên cứu truyện ngắn Nam Cao
dƣới góc nhìn của lí thuyết hội thoại. Luận văn này cũng đề cập đến hành vi
ngôn ngữ gián tiếp nhƣng chỉ với tƣ cách là một phƣơng tiện liên kết chứ
chƣa nghiên cứu nó nhƣ một đơn vị của hội thoại.
Nhƣ vậy, từ những công trình đã dẫn trên một lần nữa cho thấy vấn đề

Chương 2: Biểu thức diễn đạt hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong truyện
ngắn của Nam Cao
Chương 3: Phân loại và vai trò của hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong
truyện ngắn của Nam Cao

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

12
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT
Chƣơng này trình bày một số lí thuyết đƣợc chọn làm căn cứ lí luận
cho luận văn, cụ thể là:
- Một số lí thuyết về ngữ dụng học;
- Sơ lƣợc về từ, cụm từ, câu.
1.1. Một số lí thuyết về ngữ dụng học
1.1.1. Lí thuyết về hành vi ngôn ngữ
1.1.1.1. Khái niệm hành vi ngôn ngữ
Khi giao tiếp, con ngƣời có thể sử dụng rất nhiều phƣơng tiện khác nhau,
trong đó có ngôn ngữ. Sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp nhằm gây ra các hiệu
quả, tác động nào đó đối với nhân vật giao tiếp chính là ngƣời nói đã dùng các
hành vi ngôn ngữ.
Nhà ngôn ngữ học ngƣời Anh – Austin đã khẳng định nói năng cũng là
một hành động, một loại hành động đặc biệt mà phƣơng tiện là ngôn ngữ.
Hành vi ngôn ngữ (hay nói cách khác là hành động nói, hành động phát ngôn,
hành động ngôn ngữ là một loại hành động của con ngƣời. Theo Từ điển giải
thích thuật ngữ ngôn ngữ học (Nguyễn Nhƣ Ý chủ biên- Nxb Giáo dục 1998)
thì hành động ngôn ngữ là “Một đoạn lời có mục đích nhất định thực hiện
trong những điều kiện nhất định được tách biệt bằng các phương tiện trên
ngữ điệu và hoàn chỉnh thống nhất về mặt cấu âm- âm học mà người nói,
người nghe đều có liên hệ với một ý nghĩa như nhau, trong hoàn cảnh giao

1.1.1.2. Hành vi ngôn ngữ trực tiếp, hành vi ngôn ngữ gián tiếp
Hành vi ngôn ngữ xét trong mối quan hệ giữa mục đích diễn đạt và hình
thức diễn đạt có thể chia thành hai loại là hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành
vi ngôn ngữ gián tiếp.
Hành vi ngôn ngữ trực tiếp là hành vi đƣợc thực hiện đúng với đích ở lời
và điều kiện sử dụng. Ví dụ để khuyên một ai đó làm nên làm một việc gì đó
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

14
ngƣời nói sử dụng hành vi khuyên, chẳng hạn: “Tôi khuyên bạn nên xin lỗi
anh ấy”. Hành vi ngôn ngữ này là hành vi ngôn ngữ trực tiếp.
Nếu hành vi ngôn ngữ trực tiếp đƣợc thực hiện đúng với đích ở lời và
điều kiện sử dụng thì hành vi ngôn ngữ gián tiếp lại là kiểu hành vi ngôn ngữ
đƣợc sử dụng với bề mặt của hành vi ngôn ngữ này nhƣng lại nhằm đạt hiệu
quả ở lời của hành vi ngôn ngữ khác.
Hành vi ngôn ngữ gián tiếp là thuật ngữ do Searle đặt ra. Theo ông thì
“chừng nào còn có một mối liên hệ gián tiếp giữa cấu trúc và một chức năng
thì ta có một hành động nói gián tiếp”[6, 147] và với các hành vi ngôn ngữ
gián tiếp, chúng ta đi vào thế giới “nếu không phải là của những phù phép thì
cũng đầy cạm bẫy…” [6,147]. Vì vậy, khi ngƣời nói sử dụng một hành vi
ngôn ngữ gián tiếp thì ngƣời nghe phải dựa vào cả những hiểu biết về ngôn
ngữ và ngoài ngôn ngữ chung cho cả hai ngƣời để suy ra hiệu lực ở lời của
hành vi ngôn ngữ ấy.
Ví dụ: A- Ngày mai về hộ tôi nhé.
B- Mai tôi bận.
Trong ví dụ này, Sp1 nhờ Sp2 hộ mình nhƣng Sp2 không trả lời là có hay
không mà lại đƣa ra một thông báo tôi bận với ý gián tiếp từ chối là tôi không hộ
đƣợc vì bận. Sp2 đã sử dụng hành vi ngôn ngữ gián tiếp và Sp1 trong ngữ cảnh
nhƣ vậy sẽ suy ra đƣợc đích ngôn trung mà Sp2 muốn diễn đạt.
Hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp có mối quan hệ

Theo ngữ pháp tiền dụng học, các kiểu câu phân theo mục đích nói
trong thực tế là những kiểu câu phân chia theo hiệu lực ở lời, tức theo hành vi
ở lời tạo ra chúng. Bởi số lƣợng các hành vi ở lời rất lớn cho nên những kiểu
hành vi ngôn ngữ đó chƣa phản ánh đƣợc hết các hành vi ở lời của ngôn ngữ.
Chúng tuy đƣợc phân lập theo những tiêu chí ngữ nghĩa và những tiêu chí
hình thức nhƣng chƣa thật trùng hợp với hiệu lực ở lời và các chỉ dẫn hiệu lực
ở lời. Nhất là ở các kiểu câu trần thuyết, tức các kiểu câu do hành vi miêu tả
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

16
tạo ra. Vì các biểu thức ngữ vi miêu tả không có các chỉ dẫn hiệu lực ở lời đặc
trƣng nên dễ lẫn với các phát ngôn ngữ vi nguyên cấp của các hành vi ngôn
ngữ không phải miêu tả tạo ra.
Chẳng hạn, cho phát ngôn sau: “Mai tôi sẽ kiểm tra”. Đây có thể là phát
ngôn ngữ vi nguyên cấp của hành vi hứa cũng có thể là phát ngôn ngữ vi của
hành vi đe dọa.
Để xác định một phát ngôn nào đó là do hành vi nào tạo ra, tức là xác định
phát ngôn đó là biểu thức ngữ vi nguyên cấp nào, chúng ta phải căn cứ vào:
- Ngữ cảnh;
- Khả năng tái lập và bổ sung các chỉ dẫn hiệu lực ở lời cho phát ngôn đó;
- Phát ngôn hồi đáp của ngƣời nghe.
Trong thực tế giao tiếp bằng ngôn ngữ, biểu thức ngôn ngữ thƣờng đƣợc
dùng là biểu thức ngữ vi nguyên cấp. Nhƣ thế, các biểu thức ngữ vi nguyên
cấp với các chỉ dẫn hiệu lực ở lời đặc trƣng ứng với từng hành vi ở lời là cơ
sở để lí giải những phát ngôn nghe đƣợc, đọc đƣợc. Bằng cách quy một phát
ngôn mơ hồ về hiệu lực ở lời, tức mơ hồ về tƣ cách biểu thức ngữ vi của nó
về một biểu thức ngữ vi nào đó mà cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ mới diễn ra
thuận lợi.
1.1.1.4. Một số phương tiện đánh dấu hành vi ở lời
Có nhiều dấu hiệu xác định hành vi ngôn ngữ. Dƣới đây là một số dấu

- Tôi xin lỗi vì đã đến muộn.
Động từ ngữ vi là dấu hiệu đầu tiên và là một trong những dấu hiệu
quan trọng nhất để giúp ta nhận biết các biểu thức ngữ vi tƣờng minh. Vì vậy,
động từ ngữ vi trong biểu thức ngữ vi sẽ giúp ta biết chính xác hành vi ngôn
ngữ nào đó đang đƣợc thực hiện.
b, Những kiểu kết cấu ngữ pháp đặc trưng cho hành vi ngôn ngữ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

18
Kiểu kết cấu là kiểu câu hiểu theo ngữ pháp truyền thống. Nó cũng là
những kết cấu cụ thể ứng với từng hành vi ở lời. Kết cấu ngữ pháp không phải
chỉ là kiểu câu có mục đích nói sơ lƣợc nhƣ hỏi, trần thuật, cầu khiến, cảm
thán…với những dấu hiệu hình thức rất chung chung nhƣ các nhà ngôn ngữ
học tiền dụng học đã nói mà còn bao gồm cả những kết cấu cụ thể ứng với
từng hành vi ở lời.
Ví dụ: các kết cấu thuộc hành vi cầu khiến trong tiếng Việt thƣờng là
hãy, đừng…nữa, làm ơn…; hành vi hỏi thƣờng có cấu trúc là có…không, có
phải… không…; hành vi cảm thán lại bao gồm hai kiểu kết cấu từ ngữ cảm
thán kết hợp với cấu trúc trần thuyết (chẳng hạn: Ôi! Bầu trời thật đẹp.) và từ
ngữ cảm thán kết hợp với câu hỏi (Trời ơi! Sao tôi khổ thế này?)…
c, Những từ ngữ chuyên dụng cho một kiểu hành vi ngôn ngữ
Những từ ngữ chuyên dụng là những từ ngữ chuyên dùng để tổ chức kết
cấu cho một biểu thức ngữ vi cụ thể. Chẳng hạn, với biểu thức ngữ vi hỏi, ta
có các từ chuyên dùng nhƣ: có…không, đã… chưa, ai, cái gì,…
Ví dụ:
- Bác An có nhà không?
- Ai đấy?
- Minh đã đi học đƣợc chưa?
- Đây là cái gì thế cậu?
Những từ ngữ chuyên dụng đƣợc in nghiêng trên cho ta biết hành vi

Một phát ngôn đƣợc nói ra tuỳ thuộc vào ngữ điệu của ngƣời nói mà tác
động đến ngƣời nghe với những đích ở lời khác nhau.
Chẳng hạn, một phát ngôn nhƣ Tôi sẽ thông báo việc này đến bố mẹ cậu.
Nếu đƣợc phát âm với ngữ điệu bình thƣờng thì nó chỉ là một lời thông báo.
Nhƣng nếu nó đƣợc phát âm với một giọng điệu thiết tha thì đó là một lời hứa
hẹn còn với giọng điệu nhấn mạnh, dằn từng tiếng thì đó lại là một lời đe doạ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

20
e, Quan hệ giữa các thành tố trong cấu trúc vị từ tham thể tạo nên nội dung
mệnh đề được nêu trong biểu thức ngữ vi với các nhân tố của ngữ cảnh
Các đặc tính ngữ nghĩa nhƣ tự nguyện hay cƣỡng bức, tích cực hay tiêu
cực, có lợi hay có hại…của các hành động đối với ngƣời tạo ra hành vi và với
ngƣời nhận hành vi ngôn ngữ đó cũng có giá trị nhƣ những dấu hiệu nhận biết
hành vi ngôn ngữ.
Ví dụ: so sánh hai phát ngôn sau đây
- Cậu quét nhà đi.(a)
- Cậu quét hộ tớ cái nhà.(b)
Quan hệ giữa các thành tố trong cấu trúc vị từ tham thể trong hai phát
ngôn vừa dẫn cho ta biết (a) là một phát ngôn cầu khiến còn (b) là một phát
ngôn nhờ vả.
Có thể nói, quan hệ giữa các thành tố trong cấu trúc vị từ tham thể tạo
nên nội dung mệnh đề đƣợc nêu lên trong biểu thức ngữ vi với các nhân tố
của ngữ cảnh cũng là một dấu hiệu để nhận ra hành vi ngôn ngữ gì đang đƣợc
thực hiện.
Trên đây là những dấu hiệu cơ bản để nhận biết hành vi ngôn ngữ. Mỗi
dấu hiệu là một đặc trƣng nhận diện cụ thể. Khi tìm hiểu và tri nhận hành vi
ngôn ngữ, chúng ta phải biết kết hợp các dấu hiệu ấy để xác định sao cho
chính xác.
1.1.2 Sơ lược về hội thoại

tối thiểu là cuộc thoại, đoạn thoại, cặp trao đáp, tham thoại và hành vi ngôn
ngữ. Ba đơn vị đầu có tính lƣỡng thoại tức là chúng hình thành do vận động
trao đáp của các nhân vật hội thoại. Hai đơn vị sau có tính chất đơn thoại, tức
là chúng do một ngƣời nói ra.
a, Cuộc thoại
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

22
Cuộc thoại là đơn vị hội thoại lớn nhất. Ngƣời ta phải dựa vào các tiêu
chí sau để xác định một cuộc thoại:
Thứ nhất, nhân vật hội thoại: theo tiêu chí này, một cuộc thoại đƣợc xác
định bởi sự gặp mặt và sự chia tay của hai ngƣời hội thoại, nói chung một
cuộc thoại đƣợc xác định bởi sự đƣơng diện liên tục của những ngƣời hội
thoại. Khi số lƣợng hay tính chất của ngƣời hội thoại thay đổi thì chúng ta có
cuộc thoại mới.
Thứ hai, tính thống nhất về thời gian và địa điểm: tiêu chí này cũng có
chỗ hạn chế: một cuộc thoại giữa hai ngƣời có thể chuyển chỗ hoặc có thể
đƣợc gác lại sang một ngày khác chừng nào mà họ thấy chƣa kết thúc đƣợc.
Thứ ba, tính thống nhất về đề tài diễn ngôn: một cuộc thoại phải theo
một hƣớng nhất định từ đầu cho đến kết thúc.
Thứ tƣ, ranh giới cuộc thoại: thông thƣờng có những dấu hiệu mở đầu
cuộc thoại (nhƣ ở cuộc họp ngƣời điều khiển có thể tuyên bố khai mạc, tuyên
bố đề tài) và dấu hiệu kết thúc (tuyên bố bế mạc). Trong trò chuyện thông
thƣờng, giữa những ngƣời lạ, dấu hiệu mở đầu có thể là lời chào hỏi, dấu hiệu
kết thúc có thể là những câu nhƣ: còn gì nữa không? hay thế thôi nhé.
b, Đoạn thoại
Về nguyên tắc có thể định nghĩa đoạn thoại là một mảng diễn ngôn do
một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ
dụng. Về ngữ nghĩa, đó là sự liên kết chủ đề. Về ngữ dụng, đó là tính duy
nhất về đích.

d, Tham thoại
Tham thoại là đơn vị đơn thoại. Về cấu tạo, tham thoại do một hay
một số hành vi ngôn ngữ tạo nên. Một tham thoại có một hành vi chủ hƣớng
và có thể có một hoặc một số hành vi phụ thuộc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

24
Hành vi chủ hƣớng là hành vi trụ cột, quyết định hƣớng của tham
thoại và quyết định hành vi đáp thích hợp của ngƣời đối thoại. Hành vi phụ
thuộc thì chỉ có tác dụng giải thích, bổ sung…
e, Hành vi ngôn ngữ
Hành vi ngôn ngữ là đơn vị nhỏ nhất của ngữ pháp hội thoại. Các ứng
xử bằng lời đều căn cứ vào hành vi ngôn ngữ đi trƣớc, không phải căn cứ vào
các đơn vị ngữ pháp thông thƣờng nhƣ từ và câu. Vì vậy hành vi ngôn ngữ
cần phải đƣợc xem xét trong hội thoại.
Vai trò và chức năng của hành vi ngôn ngữ là nằm trong mạng lƣới
hội thoại. Tức là nó không chỉ có vai trò và chức năng trong quan hệ một lần
giữa ngƣời nói với ngƣời nghe mà qua trọng hơn là vai trò chức năng ấy còn
thuộc quan hệ giữa các lời thoại tổ chức nên tham thoại, cặp thoại và tác
động liên tục lên các nhân vật giao tiếp trong từng thời điểm tạo nên cuộc
thoại. Căn cứ quan hệ này ngƣời ta chia hành vi ngôn ngữ ra làm hai loại:
hành vi ngôn ngữ chủ hƣớng và hành vi ngôn ngữ phụ thuộc gọi tắt là hành vi
chủ hƣớng và hành vi phụ thuộc.
Ví dụ:
A: Đƣờng thì xa mà trời thì mƣa quá!
B: Cậu yên tâm chƣa vào lớp đâu.
Cặp thoại trên đƣợc cấu tạo bởi hai tham thoại của A và của B. Tham
thoại của A không chỉ là một lời thông báo mà hành vi chủ hƣớng của nó là
hành vi bày tỏ, bào chữa, giải thích vì sao tới muộn. Vì hành vi chủ hƣớng là
vậy nên đáp lại lời của A, tham thoại của B là hành vi an ủi, chứ không phải

các lƣợt lời. Quy tắc luân phiên lƣợt lời có mục đích phục vụ cho sự phát triển
của vấn đề mà cuộc hội thoại chấp nhận làm nội dung. Không thể có một cuộc
hội thoại mà sự liên hoà phối các lƣợt lời đƣợc đảm bảo một cách hoàn hảo
nhƣng nội dung của các lƣợt lời lại không tƣơng ứng. Bởi vậy, một cuộc hội
thoại còn cần đến những quy tắc điều hành nội dung của nó, đúng hơn là điều
hành quan hệ giữa nội dung các lƣợt lời tạo nên cuộc hội thoại đó.

Trích đoạn Hành vi ngôn ngữ gián tiếp đƣợc phân loại theo chủ ngôn 1 Nhận xét chung Hành vi ngôn ngữ gián tiếp có chủ ngôn là tác giả Sử dụng hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong truyện ngắn Nam Cao có tác dụng tăng tính lịch sự cho phát ngôn Sử dụng hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong truyện ngắn Nam Cao có tác dụng bộc lộ thái độ, tâm trạng, tính cách nhân vật Sử dụng hành vi ngôn ngữ gián tiếp có tác dụng thể hiện thái độ tác giả
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status