NGOẠI HÌNH NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 - Pdf 14



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

MÃ THỊ HUỆ NGOẠI HÌNH NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN
CỦA NAM CAO TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
NĂM 1945 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Sơn La, năm 2013



LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Tiến sĩ Đỗ Hồng Đức
đã dành nhiều thời gian, công sức tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho
em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi
của Phòng Đào tạo, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, Thư viện; sự động
viên của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn trường Đại học Tây
Bắc; sự góp ý, cổ vũ của các bạn sinh viên K50 ĐHSP Ngữ Văn đã
giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 05 năm 2013
Người thực hiện
Mã Thị Huệ MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 1
3. Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận 2
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
5. Phương pháp nghiên cứu 3
6. Đóng góp của khóa luận 3
7.Cấu trúc của khóa luận 3
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ TÁC GIẢ NAM CAO 4
1.1. Tiểu sử 4
1.2. Con người 5

những ý kiến không đồng nhất, có ý kiến thì đồng tình với cách xây dựng nhân
vật của tác giả từ đó đề cao nhân vật, có ý kiến thì cho rằng cách xây dựng ngoại
hình nhân vật của Nam Cao còn tồn tại nhiều hạn chế. Từ những ý kiến trái
chiều như vậy có thể thấy xoay quanh ngoại hình nhân vật trong truyện ngắn
của Nam Cao có nhiều vấn đề cần giải quyết.
1.3. Khi gắn ngoại hình nhân vật với tư tưởng nhân đạo, chúng ta sẽ hiểu
đúng hơn về ngoại hình nhân vật và những giá trị đích thực ẩn sau những ngoại
hình đó. Vì vậy, tìm hiểu khóa luận: Ngoại hình nhân vật trong truyện ngắn của
Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám nhằm khẳng định thành công của ông
trên phương diện nội dung và nghệ thuật.
1.4. Nam Cao còn là một tác giả được đưa vào chương trình giảng dạy ở
trường THPT với số lượng tác phẩm khá nhiều. Vì thế việc tìm hiểu về tác giả là
một việc làm cần thiết.
Với đề tài này, chúng tôi không có tham vọng tìm tòi, phát hiện những điều
mới mẻ, mà với ý thức tập dượt trong việc nghiên cứu khoa học, nhằm tìm tòi
và làm sáng rõ hơn về “Ngoại hình nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao trước
Cách mạng tháng Tám”.
2. Lịch sử vấn đề
Nam Cao là một nhà văn lớn, một hiện tượng lớn trong nền văn học hiện
đại. Vì thế có rất nhiều công trình nghiên cứu về tác giả và tác phẩm Nam Cao.

2
Trong điều kiện hạn chế của cá nhân, chúng tôi mới chỉ được tiếp xúc với một
số công trình nghiên cứu về Nam Cao.
Các nhà nghiên cứu đã tìm tòi và khám phá sâu sắc nhiều vấn đề trong sáng
tác của Nam Cao. Tuy nhiên vấn đề về ngoại hình nhân vật trong truyện ngắn của
Nam Cao thì hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập sâu sắc. Có chăng
chỉ là mới nhắc đến như trong cuốn Nam Cao, nhà văn hiện thực xuất sắc, Hà
Minh Đức viết rằng: “lối miêu tả về ngoại hình của một số nhân vật như Chí Phèo,
Thị Nở …” của Nam Cao đã làm cho người đọc “chưa vừa lòng”. “Nam Cao đã tô

truyện ngắn của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám ở hai mảng đề tài lớn:
Đề tài người nông dân và đề tài người trí thức tiểu tư sản.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu khóa luận này chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu
sau:
- Phương pháp phân tích văn học: Đây là phương pháp được sử dụng
thường xuyên trong quá trình thực hiện khóa luận nhằm làm rõ về “ngoại hình
nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám”.
- Phương pháp bình luận văn học: Nhằm làm nổi bật ngoại hình nhân vật
trong truyện ngắn của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám.
- Phương pháp so sánh đối chiếu: Đây là phương pháp dùng để so sánh,
làm nổi bật ngoại hình nhân vật trong hai đề tài lớn: Người nông dân và người
trí thức tiểu tư sản trong truyện ngắn của Nam Cao và với các tác giả khác.
- Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các phương pháp khác như: Thống kê,
liệt kê để nhằm hỗ trợ cho ba phương pháp cơ bản trên.
6. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận bước đầu đi tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật qua ngoại
hình nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám.
Khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo cho việc học tập nghiên cứu của sinh
viên, học sinh các trường phổ thông.
7. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của khóa luận gồm có hai
chương:
Chương 1. Khái quát về tác giả Nam Cao
Chương 2. Ngoại hình nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao trước
Cách Mạng tháng Tám năm 1945


Tháng 8-1945, Nam Cao tham gia cướp chính quyền ở Phủ Lí Nhân, được
bầu làm chủ tịch xã. Sau đó ít lâu, Nam Cao được điều lên Hà Nội và công tác ở
Hội Văn hóa cứu quốc, làm thư kí tòa soạn Tiên phong của Hội.
Kháng chiến bùng nổ Nam Cao theo đoàn quân Nam Tiến vào vùng Nam
trung bộ. Năm 1947 ông lên Việt Bắc làm phóng viên báo Cứu quốc, phụ trách
tạp chí Cứu quốc, thư kí tòa soạn báo Cứu quốc Việt Bắc, phụ trách lớp chính trị
cho địa phương và làm mọi công việc của một cán bộ thông tin tuyên truyền,

5
viết tin, viết tài liệu giải thích các chính sách, làm ca dao tuyên truyền, viết
truyền đơn địch vận Thời gian này Nam Cao được vinh dự gia nhập Đảng
cộng sản Đông Dương (cuối năm 1947) ông sống và hoạt động ở Bắc Cạn.
Năm 1948 – 1949 Nam Cao đi thực tế vùng đồng bằng. Dự định viết một
cuốn tiểu thuyết mới về quê hương kháng chiến. Năm 1945 Nam Cao từ đồng
bằng trở về chiến khu Việt Bắc. Ông tham dự lớp Nguyễn Ái Quốc ở Việt Bắc
phụ trách phần Văn nghệ trong tạp chí và báo Cứu quốc.
Tháng 5-1950 Nam Cao nhận công tác ở tòa soạn tạp chí Văn nghệ, cơ
quan của Hội Văn nghệ Việt Nam. Sau đó ông được chỉ định làm ủy viên tiểu
ban Văn nghệ trung ương. Sau đó Nam Cao đi chiến dịch biên giới cùng với bộ
đội. Nam Cao cùng Nguyễn Huy Tưởng đi công tác khu Ba. Ngày 23-9-1951 cả
hai ông dự Hội nghị Văn nghệ liên khu Ba. Rồi Nam Cao cùng Nguyễn Huy
Tưởng vào khu Bốn. Khi trở ra, Nam Cao tham gia vào đoàn công tác thuế nông
nghiệp vào vùng địch hậu khu Ba. Ông có ý định lấy thêm tài liệu viết quyển
tiểu thuyết “Thai nghén”. Nhưng rồi Nam Cao và đoàn công tác bị phục kích.
Ngày 30-11-1951 Nam Cao đã anh dũng hi sinh ở Hoàng Đan, tỉnh Ninh Bình.
Hài cốt của Nam Cao lẫn với hài cốt các đồng chí cùng hi sinh đặt tại nghĩa
trang Gia Viễn- Ninh Bình.
Năm 1996 một đường phố Hà Nội đã được mang tên Nam Cao. Ngày 18-1-
1998 hài cốt của Nam Cao đã được chuyển về quê hương tại “vườn hiện thực
Nam Cao” xã Hòa Hậu, huyện Lí Nhân, tỉnh Hà Nam.

cho người đọc thấy tất cả những sự vô lí của một chế độ xã hội thối nát trong
những truyện tầm thường lặng lẽ nhất.
Nam Cao là nhà văn luôn gần gũi thương yêu những con người chất phác
đã ăn củ hàng tháng để nhường gạo cho những người cách mạng. Sống giữa
những người ấy nhà văn thấy an toàn và chắc chắn lạ lùng.
Hơn thế nữa, Nam Cao còn là một nhà văn có trách nhiệm với ngòi bút, với
văn chương ông luôn nghiền ngẫm sâu sắc những điều trông thấy, nghe thấy, và
bằng trái tim nghệ sĩ muốn lên tiếng để chia sẻ, cảm thông, hay phê phán, tố cáo
một vấn đề nào đó.
Nam Cao là một nhân cách lớn, một con người “trung thực vô ngần”
[14;125], một con người thẳng thắn và trung thực đến mức trên thế gian này khó
có nơi nào có thể sống yên thân, yên ổn được. Ông không bao giờ chịu uốn cong
ngòi bút của mình, không thèm đếm xỉa đến cái sở thích, cái “thị hiếu tầm
thường của độc giả”. Ông viết thật lòng mình, viết đúng với những điều mình
cảm, mình nghĩ. Ông đủ bản lĩnh để đẩy đến tận cùng những tình cảm chân thật,
những suy nghĩ, tư tưởng sâu sắc của mình. Thái độ tình cảm ấy đã đem đến cho
Nam Cao những tác phẩm tính nhân văn chân thực sâu sắc.
1.3. Quan điểm sáng tác
Là một trong những nhà văn có ý thức đặc biệt sâu sắc đối với nghề nghiệp
và vai trò của người cầm bút, Nam Cao đã để lại một hệ thống quan điểm sáng
tác hết sức sâu sắc tiến bộ.

7
Nam Cao chưa bao giờ phát biểu trực tiếp quan điểm sáng tác của mình
như một số nhà văn khác đã từng thể hiện trong các bài bút chiến. Ông gửi gắm
quan điểm sáng tác ấy một cách kín đáo trong những sáng tác. Nhân vật chính là
người phát ngôn cho những tư tưởng thể hiện quan điểm sáng tác của Nam Cao.
Có thể thấy, Nam Cao đến với văn học hiện thực phê phán khi mà dòng
văn học này đã vào giai đoạn thoái trào (1940 – 1941). Là một cây bút muộn
màng nhưng với một lối viết riêng, Nam Cao đã dần chinh phục bạn đọc và thật

8
luôn bám riết cuộc sống con người. Vì thế, nhà văn chân chính không thể viết ra
thứ văn chương giả dối, phỉnh nịnh, xa rời cuộc sống mà phải “mở hồn ra đón
lấy tất cả những vang động của đời” [11;221]. Đó là tuyên ngôn nghệ thuật chối
bỏ khuynh hướng “nghệ thuật vị nghệ thuật”, đồng thời khẳng định khuynh
hướng “nghệ thuật vị nhân sinh”.
Trong quan điểm sáng tác của mình, Nam Cao còn đề cao sự sáng tạo văn
chương của người cầm bút. Ở Đời thừa, Nam Cao đã kín đáo gửi gắm quan
niệm ấy. Theo ông, người nghệ sĩ chân chính khi cầm bút sáng tác không chỉ vì
mưu sinh cuộc sống mà phải xuất phát từ nhu cầu sáng tác thôi thúc từ bên
trong. Qua nhân vật Hộ, Nam Cao khẳng định chỉ có sự sáng tạo mới tạo ra giá
trị của văn chương: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm
theo một vài kiểu mẫu đưa cho, văn chương chỉ dung nạp những người biết đào
sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”
[11;254]. Đó là sự sáng tạo độc đáo mà người nghệ sĩ chân chính cần có. Nam
Cao lên án thứ văn chương “vô vị nhạt phèo, gợi những cảm giác rất nhẹ, rất
nông, diễn đạt một vài ý rất thông thường, quấy loãng một thứ văn bằng phẳng
và quá ư dễ dãi” [11;254]. Trong truyện ngắn Đời thừa, Nam Cao đòi hỏi nhà
văn phải có trách nhiệm và lương tâm với ngòi bút: “Sự cẩu thả trong bất cứ
nghề gì cũng là một sự bất lương nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là
đê tiện” [11;254]. Như vậy, với Nam Cao, nhà văn phải là người sáng tạo và có
trách nhiệm với ngòi bút của mình. Không thể bán rẻ ngòi bút, viết những vấn
đề, những tác phẩm không có giá trị “đọc rồi quên ngay”. Nam Cao còn quan
niệm một tác phẩm chân chính phải chứa đựng ở đó những nhận thức, những bài
học về cuộc sống và con người; phải xóa đi khoảng cách người với người: “Một
tác phẩm thật có giá trị phải vượt lên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là
tác phẩm chung cho cả loài người. Nó chứa đựng một cái gì đó lớn lao, mạnh
mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự
công bình Nó làm cho người gần người hơn.” [11;253]. Như vậy, trong quan
niệm của Nam Cao, chủ nghĩa nhân đạo được đặt ra như một yêu cầu tất yếu đối

chất yêu nước, lòng hăng hái tham gia cách mạng, phục vụ kháng chiến của
người dân lao động. Nam Cao đã phê phán nghiêm khắc lập trường không tán
thành cách mạng, thái độ “đứng ngoài” cuộc kháng chiến của văn sĩ Hoàng.
Chính lập trường ấy, thái độ ấy đã quyết định cách nhìn của Hoàng – một cách
nhìn phiến diện. Anh trông thấy anh thanh niên đọc thuộc lòng bài “ba giai
đoạn” nhưng anh không trông thấy bó tre anh thanh niên vui vẻ vác để đi ngăn
quân thù. Vẫn giữ đôi mắt ấy để nhìn đời thì càng đi nhiều, càng quan sát lắm,
người ta lại chỉ càng thêm chua chát và chán nản.
Nam Cao đã hòa mình vào cuộc kháng chiến của dân tộc, để cùng sống và
chiến đấu với nhân dân. Với tuyên ngôn nghệ thuật thể hiện trong Đôi mắt, Nam
Cao xứng đáng là một trong số những nhà văn có tư tưởng tiến bộ nhất của thời
đại. Đó là tư tưởng của một nhà văn – chiến sĩ, nhà văn cách mạng, nguyện hi
sinh tất cả những quyền lợi và thói quen nghệ thuật trước đó của mình, sẵn sàng
phục vụ không điều kiện cho nhân dân, cho kháng chiến. Tác phẩm Đôi mắt đã
có những đóng góp quan trọng vào việc khẳng định, củng cố lập trường, xây
dựng một cách nhìn mới, cổ vũ văn nghệ sĩ dùng ngòi bút phụng sự cho sự

10
nghiệp chung của cả toàn dân tộc. Có thể nói, Nam Cao đã góp phần xứng đáng
vào việc xây dựng tư tưởng văn nghệ mới trong những năm đầu cách mạng.
Trong Nhật kí ở rừng, Nam Cao vui vẻ nhận ra “góp sức vào công việc
không nghệ thuật lúc này chính là để sửa soạn cho tôi một nghệ thuật cao hơn”.
Nam Cao đã công hiến hết mình cho sự nghiệp văn học và sự nghiệp cách
mạng của dân tộc. Những quan điểm sáng tác trên thể hiện sự am hiểu sâu sắc
đặc trưng công việc sáng tác, bản chất văn chương cũng như tài năng, sự gắn bó
tha thiết với nghề nghiệp của Nam Cao. Những quan điểm tiến bộ trên đây giúp
Nam Cao thành nhà văn cách mạng, người nghệ sĩ chân chính của thời đại
1.4. Sự nghiệp sáng tác
Sự nghiệp sáng tác của Nam Cao khởi đầu từ năm 1936, nhưng thực sự trở
thành một bản lĩnh, một phong cách sáng tạo độc đáo bắt đầu từ truyện ngắn Chí

đáo trong chủ nghĩa nhân đạo của Nam Cao. Viết về loại nhân vật nông dân,
Nam Cao đặt vấn đề cách nhìn quần chúng, phải biết vượt qua cái bề ngoài
“gàn dở”, “lẩm cẩm”, “ngu dốt” để mà gần họ, “cố mà tìm hiểu” cái “bản tính
tốt” ở họ thường bị che lấp, vùi dập, không được phép tàn nhẫn, ghẻ lạnh với
họ. Chủ đề này phát hiện rõ nhất ở trong Lão Hạc (1943) và được phát triển
trong một hoàn cảnh mới ở truyện Đôi mắt (1948).
Tuy chưa giác ngộ chân lí cách mạng, nhưng chịu ảnh hưởng ít nhiều của
Hội Văn hóa cứu quốc, Nam Cao cũng ít nói tới tương lai với một tâm trạng náo
nức và đầy hi vọng về khả năng đổi đời của con người: “Sự đời không thể cứ
mù mịt mãi thế này đâu. Tương lai phải sáng sủa hơn. Một rạng đông đã báo
rồi”. Đó là một dự cảm chính xác của nhà văn trong đêm trước cách mạng toàn
dân tộc.
Sau Cách mạng tháng Tám, Nam Cao cũng như nhiều văn nghệ sĩ khác tự
nguyện, hăm hở đi theo kháng chiến. Nam Cao không ngại khó, ngại khổ, tự
nguyện làm “tuyên truyền viên” vô danh cho cách mạng, đồng thời có ý thức
rèn luyện, cải tạo mình. Tâm niệm chân thành của Nam Cao là: “Sống đã rồi
hãy viết”. Ông thực sự là một chiến sĩ xông xáo trên các mặt trận, ghi chép, lấy
tài liệu, hình thành ý đồ cho các tác phẩm lớn về sau. Đối với các văn nghệ sĩ, đi
vào cuộc kháng chiến đó đòi hỏi phải chân thành, vừa cần nghị lực, vừa phải có
cái nhìn đúng về nhân dân và kháng chiến. Đây là một cuộc “nhận đường” vất
vả, nhiều khi cam go và quyết liệt, nhất là với lớp văn nghệ sĩ trước cách mạng.
Nam Cao không ngoài tình trạng chung đó. Ông viết truyện ngắn Đôi mắt, một
mặt phê phán lối sống trưởng giả, xa lạ, lạc lõng và cái nhìn khinh bạc đối với
quần chúng của lớp nhà văn kiểu cũ, đồng thời như một biểu thị quyết tâm dứt
khoát và chân thành hòa nhập vào cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân. Nhật
kí “Ở rừng” và tập kí sự “Chuyện biên giới” cũng đi theo tinh thần ấy. Nhà văn
Nam Cao thực sự là một tấm gương tiêu biểu cho một lớp nhà văn giác ngộ lẽ
sống lớn của dân tộc và thời đại, nguyện dùng nghệ thuật góp phần xây dựng
những nhân cách mới.
Văn Nam Cao, ở rất nhiều tác phẩm mang tính tự nguyện, thấy hiện rõ

để cho trang giấy nổi lên những nét vẽ sắc sảo và cho sự thực phô bày đến như
lạnh lùng, tàn nhẫn, nhưng rồi tác giả cũng không kìm được những tiếng nấc
đau thương, nghẹn ngào khi thấy những con người lương thiện bị xô đẩy vào
vòng tội lỗi, và những cuộc đời đầy hứa hẹn đã khép vội vã, non yếu. Nam Cao
có một tâm hồn biết lắng nghe, một tiếng nói tha thiết biết an ủi và vỗ về từ bên
trong để chia sẻ lòng mình với cuộc đời nghèo khổ. Nam Cao đến thẳng với
nhân vật và người đọc bằng tấm lòng. Tấm lòng ấy được nuôi dưỡng và lớn lên
từ những cảnh đời nghèo khổ. Tuy đường đời ngắn ngủi nhưng với sự miệt mài
trong lao động nghệ thuật, Nam Cao đã đạt được những thành công nhất định

13
trong sự nghiệp văn chương của mình. Với những đóng góp to lớn cho nền văn
học hiện thực phê phán Việt Nam, Nam Cao xứng đáng là một nhà văn lớn được
độc giả mọi thời đại yêu mến. Tên tuổi và những tác phẩm của ông có sức sống
mãnh liệt vượt thời gian và ngày càng bộc lộ thêm những phẩm chất mới.
Chúng ta càng thêm yêu quý ông, một tâm hồn trung thực mà cao đẹp trong
cuộc đời cũng như trên trang sách. Một nhà văn – chiến sĩ với ý nghĩa đích thực
và trọn vẹn của danh hiệu này.

14
CHƯƠNG 2. NGOẠI HÌNH NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA
NAM CAO TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

Nam Cao có một vị trí đặc biệt trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930 –
1945. Những tác phẩm của Nam Cao phần lớn ra đời trong những năm Chiến
tranh thế giới lần thứ hai, đánh dấu bước phát triển của trào lưu văn học hiện
thực phê phán trong một thời kì tưởng chừng như bế tắc. Nam Cao bước chân

15
nhà văn trong việc xây dựng nhân vật. Hình dáng diện mạo của những nhân vật
trong truyện ngắn của Nam Cao trước Cách mạng là những hình ảnh cụ thể,
chân thực rất gần gũi với cuộc sống hiện thực lúc bấy giờ.
Trong những xóm làng tiêu điều, xơ xác, tối sầm vì vấn đề miếng cơm
manh áo, ta ít bắt gặp những hình dáng con người cao sang với quần áo chỉnh tề,
gọn gàng, sạch đẹp, ta cũng khó gặp hình ảnh những đứa trẻ với những khuôn
mặt vui tươi, hồn nhiên, ngây thơ. Cuộc sống nghèo khổ với sự hành hạ của
bệnh tật, của cái đói triền miên đã khiến họ thành những con người gầy gò, ốm
yếu, tiều tụy. Nam Cao thường hướng ngòi bút miêu tả của mình vào những con
người nghèo khổ với những gì xấu xí, nhếch nhác và có phần bẩn thỉu. Người giàu
có không phải không có người xấu nhưng Nam Cao viết về sự xấu xí của con
người tập trung ở những người nghèo khổ, vì ông muốn qua đó tô đậm nhận thức
con người về cảm giác ghê sợ, khinh bỉ đã từng có ở mỗi người khi bắt gặp những
hình ảnh xấu xí. Nhưng điểm thành công của nhà văn là đã hướng người đọc vào
những phẩm chất tốt đẹp và đáng trân trọng trong con người đằng sau vẻ bề ngoài
đó. Đi sâu khai thác ngoại hình của các nhân vật trong truyện ngắn của mình, Nam
Cao muốn phản ánh hiện thực thông qua chính ngoại hình đó của nhân vật, đó là
hiện thực về những số phận không may mắn, hiện thực về những con người nghèo
khổ, và qua ngoại hình phản ánh sự tha hóa của nhân vật.
2.1.1. Ngoại hình xấu xí – hình ảnh của những con người không may
mắn.
Viết về những nhân vật có số phận không may mắn, Nam Cao đặt ngòi bút
của mình vào những con người chịu nhiều thiệt thòi ngay từ chính vẻ ngoài của
mình, họ không may mắn được trời phú cho một hình dáng mà khi người khác
nhìn phải trầm trồ, ngợi khen, thậm chí họ cũng không may mắn có được một
khuôn mặt bình thường như những con người bình thường khác trong xã hội.
Mà họ lại mang trên mình một khuôn mặt rất xấu xí “ma chê quỷ hờn”, một vóc
dáng “phục phịch”. Nhưng qua vẻ bề ngoài đó, Nam Cao đi sâu khai thác về bi
kịch cuộc sống của họ, ông lí giải nguyên nhân tại sao họ lại ra nông nỗi như

Nở lại trở thành một con người như vậy? Nam Cao khi viết về nhân vật này, ông
không xa lánh, không cười đùa trước ngoại hình bất hạnh của Thị Nở mà trong
cách viết của Nam Cao, ta thấy tấm lòng thương cảm dành cho nhân vật này.
Ông giải thích chính sự xa lánh, ghẻ lạnh, coi Thị Nở như một con vật của dân
làng đã khiến thị phải sống một cuộc sống cô độc, không có một ai bên cạnh để
nói chuyện, giãi bày tâm tư trong lòng mình, chính vì chỉ suốt ngày lủi thủi một
mình như vậy nên chuyện thị trở nên dở hơi có lẽ không phải là chuyện lạ.
Ngoài ba mươi tuổi nhưng thị vẫn chưa được biết thế nào là hai tiếng “vợ
chồng”, giá như Thị Nở giàu có mà không phải là một người nghèo thì có lẽ thị
cũng đã có một tấm chồng dù không xuất phát từ tình yêu nhưng ít nhất Thị Nở
cũng được hưởng quyền làm vợ, làm mẹ, chứ không phải một cuộc sống cô đơn
như hiện tại. Nhà văn đã cho người đọc thấy được cái khao khát được hưởng
một cuộc sống hạnh phúc lứa đôi như bao người vẫn mơ ước trong nhân vật này
khi để cho Thị Nở gặp gỡ với Chí Phèo, thị đã có những phút giây hạnh phúc
mà khi nhớ lại thì “Thị cười, thị thấy không buồn ngủ, và thị cứ lăn ra lăn vào”,
và Thị Nở khi được nghe đến tiếng “vợ chồng” thì lại thấy “ngường ngượng mà

17
thinh thích”. Hóa ra bao lâu nay không phải thị sống vô tư một mình, không
màng đến chuyện lập gia đình mà chính vì mặc cảm về số phận mang trên mình
một ngoại hình bất hạnh cùng với sự ghẻ lạnh, xa lánh của mọi người, nên thị cứ
âm thầm sống như vậy để rồi khi gặp được cơ hội, thì khao khát ấy lại bùng lên
dữ dội trong con người thị.
Cũng bất hạnh với vẻ ngoài xấu xí, mụ Lợi trong Lang Rận cũng không
may mắn khi có một ngoại hình “không một người đàn bà nào có thể xấu hơn,
Mụ béo trục, béo tròn, mặt rỗ như tổ ong bầu, mắt trắng, môi thâm, má đen như
thằng quỷ” [11;234]. Vì sở hữu một ngoại hình như vậy, nên dù mụ Lợi hiền
lành lắm thì vẫn bị mọi người thấy đáng sợ, tên của mụ người ta vẫn lấy ra để dọa
trẻ con “hơi trẻ nhà nào khóc, người ta lại bảo: “Nín đi! Nín đi! Mụ Lợi kia kìa…”
[11;235]. Mụ cũng là một con người bình thường nên cũng có những nhu cầu rất

đến đây, ta thấy ngòi bút Nam Cao bênh vực cho chính con người này, đồng
thời ông cũng lên án tố cáo cái xã hội thực dân nửa phong kiến lúc bấy giờ đã
chà đạp lên quyền sống của những con người vô tội và đáng thương trong xã
hội. Tiếng khóc của mụ Lợi chính là sự dồn nén của những nỗi đau trong cuộc
sống, nước mắt ấy chính là nỗi đau đớn tột cùng khi biết mình bị mất mát cái
hạnh phúc mà từ rất lâu mụ chờ đợi. Nó vừa được nhen nhóm thì đã bị tước
đoạt. Khi miêu tả nỗi đau của mụ Lợi, nhà văn đã so sánh với cảm giác của một
con chó mất tự do “khóc rống lên như một con chó chưa quen xích”, phải rống
lên điên đảo để thấy nỗi đau của mụ lớn lao đến nhường nào. Tiếng khóc của
mụ Lợi là sự thương thân, thương người. Như vậy, đằng sau một con người
tưởng như vô tâm, hời hợt vẫn là bản chất người tốt đẹp. Ở họ vẫn có sự khao
khát, vẫn tồn tại tình thương. Đó cũng chính là sự ngậm ngùi, xót thương của
nhà văn đối với thân phận con người. Là hiện thực xã hội đen tối mà Nam Cao
lên tiếng để đánh đổ hủ tục, định kiến, đánh đổ sự miệt thị con người.
Lang Rận trong truyện ngắn cùng tên cũng là một người có hình dáng
khiến người khác khi nhìn cảm thấy rùng mình: “Anh chàng có cái mặt trông dơ
dáng thật. Mặt gì mà nặng trình trịch như mặt người phù, da như da con tằm
bủng, lại lấm tấm đầy những tàn nhang. Cái trán ngắn ngủn, ngắn ngùn, lại gồ
lên. Đôi mắt thì híp lại như mắt lợn sề. Môi rất nở cong lên, bịt gần kín hai cái
lỗ mũi con con, khiến anh ta thở khò khè. Nhưng cũng chưa tệ bằng lúc anh
cười. Bởi vì lúc anh cười thì cái trán chau chau, đôi mắt đã híp lại híp thêm hai
mí gần như dính tịt lại với nhau, môi càng lớn thêm lên, mà tiếng cười, toàn
bằng hơi thở, thoát ra khìn khịt. Trời đất ơi! Cái mặt ấy dẫu cho mỗi ngày rửa
ba lượt xà phòng, bà cựu trông thấy vẫn còn buồn mửa. Huống chi anh chàng
lại bẩn gớm, bẩn ghê. Có lẽ mỗi buổi sáng, ra cầu ao, anh chỉ nhúng mấy ngón
tay, rửa độc một tí đầu mũi mà thôi. Mặt anh mốc meo lên. Còn quần áo thì gố
ghỉnh, mắt thì đầy ghỉ, đứng cách ba thước còn ngửi thấy mùi chua, mà rách
rưới, mà mất cúc, mà sứt chỉ, mà lôi thôi lếch thếch. Không hiểu anh ta chỉ có
một bộ quần áo hay sao mà từ ngày đến nhà bà đến giờ vẫn chửa thay. Hèn chi
mà rận lắm hơn giòi. Chúng bò lổm ngổm cả xuống cái giường của anh nằm”

Tất cả những nhân vật mang ngoại hình xấu xí đều là những con người bất
hạnh từ ngay chính vẻ ngoài của mình, nhưng họ luôn mang trong mình những
khao khát được sẻ chia, được yêu thương vì họ đơn thuần vẫn là những con
người. Đi miêu tả những bộ mặt xấu xí của nhân vật: Thị Nở, mụ Lợi, Lang
Rận, Nhi … đặc biệt là những người phụ nữ vốn được coi là phái đẹp trong cuộc
sống này, Nam Cao không miêu tả với thái độ mỉa mai hay cười nhạo họ mà đó
chính là sự cảm thông chia sẻ của nhà văn với những nhân vật này. Đồng thời
Nam Cao muốn nhấn mạnh đến những phẩm chất tốt đẹp bên trong con người
mới chính là giá trị đích thực tạo nên một con người.
20
2.1.2. Ngoại hình nhếch nhác – hình ảnh của những con người nghèo
khổ.
Nếu như hiện thực bủa vây xung quanh Nguyễn Công Hoan giống như một
sân khấu trò hề đầy rẫy những mâu thuẫn trớ trêu, nhìn vào đâu nhà văn cũng
thấy sự giả dối, bịp bợm, nghịch cảnh, phi đạo lí; hiện thực vây quanh Vũ Trọng
Phụng là một xã hội “chó đểu”, “vô nghĩa lí” đầy những biến cố quay cuồng
đến đảo điên, chóng mặt, nhốn nháo như những con rối mà kẻ giật giây là quyền
lực vạn năng của đồng tiền thì hiện thực vây quanh Nam Cao là một hiện thực
tù túng, ngột ngạt làm hủy hoại nhân tính, bóp nghẹt sự sống và những khát
vọng chân chính, đẩy họ vào tình trạng chết mòn không lối thoát. Nam Cao,
trong những tác phẩm của mình đã thể hiện được cái không khí oi bức đến ngột
thở, đầy khắc khoải trước hiện thực đã ở tận cùng của sự thối nát đang trong cơn
quằn quại lột xác để đổi thay: “Buổi chiều rất nặng nề. Trời oi bức lạ. Một gợn
gió cũng không. Vũ trụ như chín nẫu, âm ỉ tan ra thành một thứ nước đặc, hâm
hấp nóng. Người ta chìm trong cái nồng nực ẩm ướt ấy như con sâu uể oải bơi
trong quả thối” (Giờ lột xác).
Nhà văn hiện thực Nam Cao am hiểu và thấm thía những cảnh sống cơ cực

cổ tử tự để đỡ gánh nặng cho vợ con. Cái chết thật là thảm thương: “Cái bộ
xương bọc trong da giãy giụa như một con gà bị bẫy, sau cùng, nó chỉ còn giật
từng cái chậm dưới sợi dây thừng lủng lẳng” [11;10]. Một cái chết thật đau đớn
về tinh thần và thể xác, qua đó cho ta thấy sự thương cảm của tác giả dành cho
nhân vật. Nhà văn không trách móc vì anh đã không gánh vác được trách nhiệm
với gia đình mà phải chọn cái chết để giải thoát cho bản thân cũng như bớt đi
gánh nặng với gia đình, mà ngược lại Nam Cao đã cho bạn đọc thấy được tình
cảnh khó khăn đến tột cùng của gia đình anh Đĩ Chuột, những giằng xé trong
tâm can anh với mong muốn được sống nhưng lại đau khổ dằn vặt khi mình
không thể giúp gì cho vợ, cho con mà còn làm khổ những con người tội nghiệp
ấy hơn.
Viết về người nông dân, Nam Cao thường xuyên đụng chạm đến vấn đề
miếng ăn, một trong những vấn đề nhức nhối của dân tộc ta. Nước ta, trước
Cách mạng, triền miên trong nạn đói. Cái đói là một sự thực “tàn nhẫn”, một
nỗi khủng khiếp, đầy ám ảnh. Cũng viết về miếng ăn, nhưng nếu Vũ Bằng chủ
yếu miêu tả miếng ngon qua những ấn tượng sâu sắc về cảm giác và vị giác,
Nguyễn Tuân lại không nhấm nháp miếng ăn bằng vị giác mà chủ yếu tiếp cận
nó từ bình diện văn hóa, thẩm mĩ thì Nam Cao viết về cái đói, miếng ăn như một
nỗi nhục nhã, ê chề làm hủy hoại cả nhân phẩm và nhân tính của con người.
Ông nói tới miếng ăn như là cái nhục hơn là cái khổ, tuy là cái nhục của những
người cùng khổ.
Những người phụ nữ trong tác phẩm của Nam Cao quanh năm thui thủi
làm lụng, vật lộn với đói khát đã biến hình dáng của họ thành những người phụ
nữ trông thật thảm thương và tội nghiệp như người vợ anh Hiệp trong Sao lại
thế này “đét đóng, gầy guộc, đầu bù tóc rối, quần áo lôi thôi, mặt ngơ ngác, da
xanh bủng, cả ngày chả nói một câu, mà ăn thì thô tục, thì cắm mặt chẳng lúc
nào rời cái bát. Mới chỉ trông đã ghét!” [11;153]. Thị còn thật thảm hại khi rơi
vào tình trạng thường xuyên bị đói. No dồn đói góp khiến lúc nào chị cũng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status