Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan …
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***
HÀ MỸ HẠNH
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN CÔNG HOAN TRƯỚC CÁCH MẠNG
THÁNG 8 NĂM 1945
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN HÀ NỘI – 2009
Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan …
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
4. Phƣơng pháp nghiên cứu……………………………………………….11
5. Cấu trúc của luận văn…………………………………………………. 12
NỘI DUNG……………………………………………………………… 13
Chƣơng 1. Ngƣời kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
trƣớc Cách mạng ………………… ………………………………… 13
1.1. Điểm nhìn tự sự ……………………………………………………14
1.1.1. Điểm nhìn khách quan…………………………………………… 15
1.1.2. Điểm nhìn chủ quan……………………………………………… 21
1.1.3. Di chuyển điểm nhìn……………………………………………….25
1.2. Vai trò ngƣời kể chuyện………………………………………… 27
1.2.1. Người kể chuyện trong sứ mệnh tạo ra mạch tự sự………………28
1.2.2. Người kể chuyện mang tiếng nói, quan điểm của tác giả
về cuộc sống, con người và nghệ thuật ………………………………… 33
Chƣơng 2. Không gian - Thời gian tự sự trong truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan trƣớc Cách mạng ………………………………….36
2.1. Không gian tự sự…………………………………………………….37
2.1.1. Không gian sinh hoạt đời thường – Bối cảnh hoạt động
Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan …
4
của nhân vật……………………………………………………………….38
2.1.2. Không gian hạn hẹp, chật chội, cố định……………………………41
2.1.3. Không gian tương đồng với cảnh ngộ của nhân vật ………………46
2.2. Thời gian tự sự……………………………………………………… 52
2.2.1. Hiện tại – quá khứ trong thời gian tự sự……………………………53
2.2.2. Khoảng thời gian ngắn, hạn hẹp……………………………………64
2.2.3. Nhịp điệu trần thuật nhanh……………………………………… 66
Chƣơng 3. Ngôn ngữ tự sự và giọng điệu tự sự trong truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan trƣớc Cách mạng ………………….……………….72
3.1. Ngôn ngữ tự sự……………………………………………………… 73
hiện thực phê phán Việt Nam” [26,175].
Là người xuất hiện sớm nhất và có ảnh hưởng to lớn trong dòng văn
học Việt Nam hiện đại, với những thành tựu xuất sắc đã đạt được trước Cách
mạng tháng 8 (hơn 200 truyện ngắn và hơn 20 truyện dài), Nguyễn Công
Hoan xứng đáng là một nhà văn lớn, tiêu biểu cho nền văn học hiện thực phê
phán Việt Nam.
Dẫu viết nhiều thể loại, Nguyễn Công Hoan vẫn chủ yếu thành công
nhất ở truyện ngắn. Và chính ở địa hạt của thể loại này, Nguyễn Công Hoan
đã có được một vị trí đặc biệt trong lịch sử văn học Việt Nam, một phong
cách nghệ thuật độc đáo trong truyện ngắn trào phúng khó ai có thể vượt qua.
Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan …
6
Vì vậy, luận văn đặt vấn đề: nghiên cứu nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan trước cách mạng từ góc độ tự sự học, nhằm lý giải sức
sống và sự hấp dẫn, mới mẻ của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, từ những
thành tố tạo nên cấu trúc nội tại của một truyện kể.
Tìm hiểu nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, luận
văn góp phần nhận thức sâu sắc về khái niệm tự sự học và nghệ thuật tự sự
trong truyện ngắn – là một trong những hướng nghiên cứu quan trọng nhằm
giải mã cấu trúc nghệ thuật của truyện kể.
Tìm hiểu khái niệm tự sự học, vận dụng trong nghiên cứu truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan trước Cách mạng, những kết quả thu được từ luận văn
cũng góp phần hữu ích trong việc phê bình và giảng dạy văn học nói chung và
truyện ngắn Nguyễn Công Hoan nói riêng.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Giới thuyết khái niệm tự sự học
2.1.1. Quan niệm tự sự học
Tự sự học là một ngành nghiên cứu được định hình từ những năm 60 –
70 của thế kỉ XX ở Pháp, nhưng đã nhanh chóng vượt qua biên giới, trở thành
ngoài văn học.
Nhà nghiên cứu Hà Lan Mieke Bal đã kết hợp nghiên cứu cấu trúc
chuyện với văn bản và định nghĩa khác hẳn Todorov: “Tự sự học là lí luận về
trần thuật, văn bản trần thuật, hình tượng, hình ảnh sự vật, sự kiện cùng sản
phẩm văn hóa kể chuyện” [71, 12]. M. Bal chia tự sự làm ba tầng bậc: văn
bản trần thuật (narrative text), chuyện kể (story), chất liệu (fabula), mỗi tầng
lại có các khái niệm hạt nhân. Công trình của M. Bal đã cung cấp một hệ
thống khái niệm được định nghĩa khá chính xác, chặt chẽ và hệ thống, có thể
làm cơ sở cho các công trình nghiên cứu tự sự.
Tự sự học hậu kinh điển còn quan tâm đến mối quan hệ giữa tự sự và
tiếp nhận, các quy luật động trong tự sự, mở rộng phạm vi liên ngành của tự
Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan …
8
sự học (như nghiên cứu tự sự học tâm lí, tự sự học lịch sử, tự sự học pháp
luật, tự sự học tu từ, tự sự học hậu hiện đại, …), phương tiện kể, hay các
khuynh hướng mới trong tự sự học khác như tự sự học so sánh, tự sự học văn
hóa học… Vì vậy, đến nay, tự sự học vẫn nhận được sự hưởng ứng rộng rãi
của giới nghiên cứu trên phạm vi toàn thế giới.
2.1.2. Tự sự học trong nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam
Tự sự học là câu chuyện đã qua cách đây gần nửa thế kỉ ở Pháp. Các
tác giả xuất sắc của trường phái này đã chuyển hướng nghiên cứu. Cụ thể,
Todorov đã chuyển sang nghiên cứu đạo đức và mĩ học. Song, không phải vì
“tính lịch sử” mà chúng ta phủ nhận tầm quan trọng của tự sự học trong tình
hình lí luận văn học hiện nay ở Việt Nam.
Lí thuyết tự sự học gắn liền với nhiều vấn đề quan trọng của bản chất
văn chương, vì vậy nó có khả năng thích ứng với mọi thời đại. Hơn nữa, mỗi
dân tộc có một đặc thù riêng trong tiến trình lịch sử văn học. Ở Việt Nam,
trong những năm gần đây, chúng ta đã chiếm lĩnh được những vấn đề cơ bản
của phân môn Tự sự học. Tự sự học đã trở thành một làn sóng, một khuynh
cấu trúc của văn bản tự sự và các vấn đề có liên quan” [70, 11]. Tác giả phân
biệt “cấu trúc lời văn” và “cấu trúc sự kiện”, từ đó phân biệt giữa “kể cái gì”
và “kể như thế nào”, để làm nổi bật vai trò của chủ thể trần thuật. Như vậy,
bản chất của tự sự là hướng tới cách đọc của độc giả. Quan niệm tự sự vì thế
không tách rời ký hiệu học, lí thuyết giao tiếp và tiếp nhận.
Như vậy, trên cơ sở những lí luận về tự sự học, người viết triển khai luận
văn theo hướng chú trọng cả cấu trúc sự kiện (kể cái gì) và cấu trúc lời văn (kể
như thế nào) qua hình tượng người kể chuyện, không gian – thời gian, ngôn
ngữ - giọng điệu trong các truyện ngắn Nguyễn Công Hoan được khảo sát.
2.2. Về nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Kể từ ý kiến phê bình đầu tiên của Trúc Hà đăng trên báo Nam Phong
tháng 7 năm 1932 đến nay, lịch sử nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan và các
tác phẩm của ông đã qua những 80 năm. Trong suốt thời gian dài đó đã có
Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan …
10
biết bao bài báo, trang sách viết về nhà văn, về từng tác phẩm, từng vấn đề
Nhất là kể từ sau năm 1954 đến nay, hoạt động nghiên cứu đặc biệt trở nên
sôi nổi với nhiều con đường tiếp cận, nhiều phương pháp luận khác nhau
Cùng với vấn đề Nguyễn Công Hoan, có thể lược chia lịch sử nghiên
cứu về nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan qua các giai
đoạn:
2.2.1. Giai đoạn trước Cách mạng
Đây là thời kì việc nghiên cứu, phê bình văn học diễn ra gần như song
hành với hoạt động sáng tạo của nhà văn; khi “độ lùi thời gian” của nghiên
cứu và phê bình so với tác giả và tác phẩm còn rất ngắn ngủi, do vậy những
đánh giá về nhà văn và tác phẩm có những hạn chế nhất định. Có những ý
kiến đánh giá khen - chê chưa được thống nhất.
Song, chính tính chất “đồng hành, đối thoại” trong sinh hoạt học thuật
và sáng tạo của giai đoạn này đã mang lại những kết quả đáng chú ý. Hầu hết
ông viết vẫn nguyên một lối văn bình dị” [26, 72].
Tuy nhiên, giai đoạn này, các nhà nghiên cứu chủ yếu hướng đến cách
tiếp cận xã hội học, đánh giá cao ý nghĩa xã hội của truyện ngắn Nguyễn
Công Hoan, ít chú ý đến nghệ thuật tự sự.
2.2.2. Giai đoạn sau Cách mạng
Sau Cách mạng, công tác nghiên cứu phê bình văn học đã có một bước
phát triển mới. Không chỉ quan tâm đến hướng tiếp cận xã hội học, các nhà
nghiên cứu chú ý nhiều đến cách tiếp cận theo phong cách học, tiếp cận thi
pháp học.
Sự nghiệp văn học của Nguyễn Công Hoan từ đó, được đánh giá xác
đáng hơn. Ngày càng nhiều hơn những công trình nghiên cứu về tác giả
Nguyễn Công Hoan và tác phẩm của ông, nhất là về thể loại truyện ngắn. Các
nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục tìm hiểu về Nguyễn Công Hoan như là một nhà
văn trào phúng hay một nhà văn tiêu biểu của chủ nghĩa hiện thực phê phán.
Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan …
12
(Ví dụ: nghiên cứu của Trương Chính trong Lược thảo lịch sử văn học Việt
Nam, Hồng Chương trong Phương pháp sáng tác trong văn học nghệ thuật,
Nguyễn Đức Đàn trong Mấy vấn đề văn học hiện thực phê phán Việt Nam,
Như Phong trên báo Nhân dân 25 - 3 - 1973, Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn
tiền chiến, Nguyễn Đăng Mạnh trong Nhà văn tư tưởng và phong cách, Phan
Cự Đệ trong Nhà văn Việt Nam 1945 - 1975, Nguyễn Hoành Khung trong
Văn học Việt Nam 1930 - 1945, Phong Lê trong Tạp chí văn học số 6 - 1993.)
Trong những công trình ấy, dù nghiên cứu dưới nhiều góc độ, những
kết luận chủ yếu quan tâm đến những yếu tố của cốt truyện, chưa quan tâm
nhiều đến các yếu tố của truyện kể. Song, cũng có những đánh giá về một
khía cạnh nào đó trong nghệ thuật kể chuyện tài hoa của Nguyễn Công Hoan.
Chẳng hạn, tại Hội nghị văn học so sánh thế giới năm 1976, Jan Mucka
khi so sánh Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan và truyện ngắn của Sêkhốp
Trong cuốn Nhà văn Việt Nam 1945 - 1975 xuất bản năm 1983, nhà
nghiên cứu Phan Cự Đệ cũng đánh giá cao nghệ thuật viết truyện ngắn khá
điêu luyện của Nguyễn Công Hoan: “Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan sinh
động hấp dẫn là vì tác giả luôn luôn thay đổi các thủ pháp nghệ thuật, thay đổi
màu sắc và cung bậc tình cảm Nguyễn Công Hoan là người biết tổ chức cấu
trúc chặt chẽ và thay đổi cấu trúc hình thức rất linh hoạt ” [26, 177].
Nhà nghiên cứu Lê Thị Đức Hạnh là người dành nhiều tâm huyết và
công phu hơn cả trong việc nghiên cứu sáng tác của Nguyễn Công Hoan.
Trong cuốn Tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan và Nguyễn Công Hoan
1903 - 1977, tác giả nghiên cứu ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật
để đi đến kết luận : Sáng tác của Nguyễn Công Hoan mang đậm yếu tố trào
phúng và hiện thực. Nhiều vấn đề của nghệ thuật tự sự cũng được đề cập, như
về người kể chuyện, về kĩ thuật viết truyện ngắn, kĩ thuật viết truyện dài,
ngôn ngữ trong tác phẩm Nguyễn Công Hoan.
Lê Thị Đức Hạnh cũng đã giới thiệu và tuyển chọn gần như đầy đủ nhất
những công trình nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan từ trước đến nay trong
Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan …
14
cuốn Nguyễn Công Hoan, về tác gia và tác phẩm (26). Cuốn sách trở thành tài
liệu quý cho bất cứ ai muốn nghiên cứu, giảng dạy, học tập và thưởng thức
những sáng tác của Nguyễn Công Hoan.
Năm 1996, trong luận án Tiến sĩ Khoa học Từ quan niệm nghệ thuật
đến nghệ thuật ngôn từ trong truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan, từ
góc độ thi pháp học, Nguyễn Thanh Tú nghiên cứu tiếng cười của Nguyễn
Công Hoan như một chỉnh thể nghệ thuật, bắt đầu từ cái nhìn nghệ thuật, quan
niệm nghệ thuật về cuộc đời và con người, để từ đó nghiên cứu các hình thức
biểu hiện: cốt truyện, kết cấu, trần thuật, lời văn
2.2.3. Nhận xét:
Qua những tư liệu nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, đặc
3.2. Đối tƣợng nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nguyễn
Công Hoan trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 ở các khía cạnh người tự sự,
không gian – thời gian tự sự và ngôn ngữ - giọng điệu.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Sáng tác Nguyễn Công Hoan khá phong phú về với nhiều thể loại
(truyện ngắn, truyện dài ) Với mục đích và khuôn khổ của đề tài, luận văn
chỉ khảo sát và nghiên cứu nghệ thuật tự sự biểu hiện trong một thể loại quan
trọng nhất, thể hiện rõ nhất đặc trưng phong cách Nguyễn Công Hoan là thể
loại truyện ngắn.
Phạm vi tư liệu nghiên cứu dùng cho luận văn này chủ yếu từ 103
truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan trước Cách mạng in trong tập Nguyễn
Công Hoan - Truyện ngắn chọn lọc (gồm 113 truyện ngắn), do Lê Minh sưu
tầm biên soạn, NXB Văn học, Hà Nội, 2004.
Ngoài ra có khảo sát thêm một số truyện ngắn khác do Lê Thị Đức
Hạnh sưu tầm và giới thiệu.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như:
Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan …
16
- Phương pháp thống kê, phân loại.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
Nhằm khám phá cấu trúc tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
trước Cách mạng, luận văn sử dụng lí thuyết tự sự học, thi pháp học làm
phương pháp tiếp cận tác phẩm.
5. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tham khảo, Phụ lục, luận
văn gồm 3 chương:
Theo quan niệm của G. Genette, người kể chuyện có mối quan hệ chặt
chẽ với câu chuyện của mình và chính vị trí của người kể chuyện trong mối
quan hệ với câu chuyện xác lập nên điểm nhìn của truyện kể. Từ đó, nhà
nghiên cứu phân biệt hai kiểu người kể chuyện: người kể chuyện từ ngôi thứ
nhất và người kể chuyện từ ngôi thứ ba.
Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan …
18
Người kể chuyện từ ngôi thứ nhất là người kể chuyện hiện diện như
một nhân vật trong truyện, vừa đóng vai trò người kể chuyện vừa đóng vai trò
là một nhân vật trong cấp độ hành động.
Người kể chuyện từ ngôi thứ ba là người thứ ba, không phải là nhân vật
trong truyện. Trong kiểu trần thuật từ ngôi thứ ba này, có sự “khác nhau tự
nhiên” giữa thế giới người kể chuyện và thế giới hành động.
Tuy nhiên, trong khi Genette chỉ quan tâm đến giới hạn điểm
nhìn thì lí thuyết tự sự học ngày nay lại hướng đến đề xuất của M. Bal về tiêu
điểm trong sự phân biệt với điểm nhìn. Theo Bal, điểm nhìn thuộc văn bản,
còn tiêu điểm thuộc truyện kể. Mỗi truyện kể, người kể chuyện có thể sử dụng
một hay nhiều người quan sát, có thể là người quan sát bên ngoài (một người
kể chuyện), cũng có thể là người quan sát bên trong (một nhân vật), người
quan sát quy định tiêu điểm của trần thuật.
Như vậy, khái niệm người kể chuyện có liên quan mật thiết với
điểm nhìn tự sự và tiêu điểm trần thuật, cả ba cùng xác định nên trần thuật và
tạo nên vai trò to lớn của người kể chuyện đối với câu chuyện, với văn bản,
với người đọc
Nói như Michel Butor: “Tiểu thuyết là một hình thức đặc biệt của trần
thuật. Tam giác tự sự ba chiều “tác giả - nhân vật - độc giả” dần được thay thế
bởi sự huyền diệu và phức tạp hơn của tứ giác tự sự với “tác giả - người tự sự -
nhân vật - độc giả” [68, 32]. Ý kiến đó đã bao quát được cả tầm quan trọng của
người kể chuyện với các tác phẩm tự sự nói chung và với truyện ngắn nói riêng.
sự của mỗi truyện kể, điểm nhìn tự sự là của một người kể chuyện - nhân vật
do tác giả hư cấu nên để kể lại câu chuyện - nhân vật thống nhất nhưng không
đồng nhất với tác giả.
Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan …
20
Điểm nhìn là một yếu tố quan trọng trong tác phẩm tự sự. Trong truyện
ngắn Nguyễn Công Hoan, việc xác định điểm nhìn dược thấy rõ qua dấu hiệu:
cách sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba, có thể theo qui
tắc:
- Một văn bản truyện kể theo điểm nhìn chủ quan: nếu như trong những
câu kể lại hành động truyện có một số câu chứa đại từ nhân xưng ngôi thứ
nhất (tôi), và “tôi” đồng nhất với một nhân vật trong truyện.
- Một văn bản truyện kể theo điểm nhìn khách quan: nếu những câu kể
lại hành động truyện đều là những câu ở ngôi thứ ba (ông, bà, anh, chị, nó,
); trường hợp đặc biệt, nếu xuất hiện ngôi thứ nhất “tôi, ta” với tư cách
người kể chuyện nhưng không phải là nhân vật nào trong truyện kể.
- Một văn bản truyện kể theo hình thức di chuyển điểm nhìn: nếu văn
bản được kể theo điểm nhìn di chuyển từ điểm nhìn khách quan sang điểm
nhìn chủ quan, từ điểm nhìn của tác giả sang điểm nhìn của nhân vật, hoặc từ
điểm nhìn của nhân vật này sang điểm nhìn của nhân vật khác.
Như vậy, khảo sát truyện ngắn Nguyễn Công Hoan từ khía cạnh điểm
nhìn, có ba tình huống trần thuật:
1.1.1. Trần thuật theo điểm nhìn khách quan
Truyện được kể từ ngôi ba, người kể chuyện vắng mặt, người kể
chuyện không qui chiếu vào một nhân vật nào trong truyện.
Đây là cái nhìn bên ngoài không được nhân vật hóa mà ẩn đằng sau là
hình bóng của tác giả. Chọn điểm nhìn trần thuật khách quan giúp Nguyễn
Công Hoan tạo ra được một khoảnh cách nhất định đối với nhân vật và sự
kiện được miêu tả. Nhà văn cố gắng tối đa trong việc giảm sự can thiệp của
truyện này rất nhiều, có 52 truyện, tiêu biểu như Răng con chó nhà tư sản,
Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan …
22
Oẳn tà roằn, Hai thằng khốn nạn, Thật là phúc, Người ngựa và ngựa người.
Đây là cách để tác giả rất linh hoạt trong việc phơi bày toàn bộ thế giới của
câu chuyện.
Trong những trường hợp này, như Diệp Tú Sơn đã nói: “Tác giả có
quyền xuất hiện ở mọi nơi, hiểu biết về tất cả, có thể phơi bày ra toàn bộ các
khía cạnh của các sự việc và các nhân vật, cảm giác lập thể rất phong phú.
Tác giả ngự trị bên trên toàn bộ thế giới tiểu thuyết, từ trên cao nhìn xuống để
quan sát điều chỉnh tất cả. Bằng cặp mắt tinh tường của mình, tác giả quan sát
từ đầu đến cuối câu chuyện, quan sát nguyên nhân, kết quả, quan sát lời nói
cử chỉ, thế giới nội tâm của nhân vật. Tác giả tìm hiểu tất cả những gì về nhân
vật, kể cả những điều mà chính bản thân nhân vật cũng không hay biết hoặc
không ý thức được” [68, 34].
Chẳng hạn truyện Hai thằng khốn nạn kể về hai nhân vật: bác Lan và
ông nghị Trinh. Một người cha buộc phải bán con khi không còn cách nào
giải thoát khỏi cảnh chết đói của hai cha con, và một ông nghị Trinh giàu có
hiếm hoi muốn mua một đứa con nuôi. Tình huống ấy tưởng như rất bình
thường và dễ dàng giải quyết. Nhưng những nghịch cảnh trớ trêu dần lộ diện
qua điểm nhìn khách quan của tác giả.
Mở đầu tác giả đứng ngoài khách quan kể lại bối cảnh truyện: “Năm
1926, nước to, đê vỡ tứ tung, nhân dân bêu rếch, khổ sở. Nhất là khi nước đã
ra rồi, trông cảnh tượng mới lại càng đáng ngậm ngùi hơn nữa”. Tiếp đó, tác
giả có thể kể về cảnh ngộ nhân vật: “Bởi thế, bác Lan luôn mấy tháng, nào
nhà đổ, nào trâu chết, nào đất bán, nào ruộng cầm Không những thế, vợ bác
lại mới chết về bệnh dịch, để lại cho bác một đứa con trai mới biết ngồi”. Tác
giả có thể bình luận về nhân vật “Bác Lan thực là một thằng khốn nạn vậy”.
Tác giả cũng dễ dàng thâm nhập vào nhân vật, nhìn bằng con mắt vừa
cay đắng qua điểm nhìn khách quan của tác giả.
Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan …
24
Song ở một số trường hợp khác, Nguyễn Công Hoan thể hiện sự tìm tòi
của mình khi đưa thêm ngôi thứ nhất xưng “tôi”, thường xuất hiện ở đầu câu
chuyện, hướng tới một đối tượng cụ thể là “độc giả” “các ngài” “bạn đọc”.
Như là một cách để gây lòng tin ở độc giả, hoặc nhằm đối thoại trực tiếp với
độc giả về những vấn đề dặt ra trong câu chuyện. Song thực chất câu chuyện
vẫn được kể từ điểm nhìn ngôi thứ ba – tác giả, vì cái “tôi” này không là nhân
vật nào trong truyện. Ông chủ báo chẳng bằng lòng, Mất cái ví, Một tấm
gương sáng, Ngậm cười, Đồng hào có ma là những truyện tiêu biểu cho
truyện kể xuất hiện cả ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba.
Lấy ví dụ đoạn đầu truyện Mất cái ví: “Ông Tham nhà tôi hôm nay mất
cái ví trong đựng bốn mươi đồng bạc. Ngài làm dữ quá! Dữ đến nỗi nếu
không có ông cậu ruột ngài, là người có thế lực can thiệp vào mà phát gắt lên,
thì việc này quyết ra đến tận xăng-tan chứ chẳng chơi! ”.
Ngôi nhân xưng thứ nhất “tôi” chỉ xuất hiện một lần duy nhất trong
truyện, như tạo độ tin cậy chắc chắn khi “tôi” có “cự li gần” với các nhân vật
trong truyện. Song kể từ đó đến hết, nhân vật tôi không xuất hiện lần nào,
giảm đến tối đa sự can thiệp của cái tôi - tác giả vào câu chuyện kể. “Tôi”
đứng ngoài và không là nhân vật của truyện kể; mọi suy nghĩ, tâm lí, bản chất
của các nhân vật được hiện lên qua hành động, ngôn ngữ, suy tính của ba
nhân vật ở ngôi thứ ba ông Tham, bà Tham, ông cụ.
Đôi khi, nhân vật “tôi” - người kể chuyện tạo độ xác tín cho người đọc
nhiều hơn nữa khi khẳng định: câu chuyện “tôi” sắp kể là chuyện thật. Một
tấm gương sáng mở đầu bằng đoạn thoại của tác giả và người kể chuyện:
“Điều tôi lấy làm bực mình nhất, là thế nào cũng có một độc giả đa
nghi, xem xong câu chuyện này, bảo một bạn rằng:
- Hắn bịa.