Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn "Cây trường minh đăng" và "Thị chúng" của Lỗ Tấn pot - Pdf 19

Nghệ thuật tự sự trong truyện
ngắn "Cây trường minh đăng" và
"Thị chúng" của Lỗ Tấn
Như thông lệ, bắt đầu câu chuyện, tác giả dắt người đọc bước nhập
vào không gian quen thuộc, nơi hội tụ của nhân vật đám đông, nơi có thể
thu thập đầy đủ mọi thông tin luận đàm trên trời dưới biển - quán trà độc
nhất thôn Cát Quang. Qua đối thoại của đám đông trong quán, độc giả
được biết điều quan tâm lo lắng nhất của cả thôn bấy giờ, đó là chuyện
“cây trường minh đăng” - “ngọn đèn thần tạo phúc cho nhân gian” thắp
truyền từ đời Lương Võ Đế “chưa bao giờ tắt”, nay có nguy cơ bị một “gã
điên” dập tắt. Theo cách nói của người trong thôn, ngọn đèn ấy thật linh
thiêng, nếu nó tắt “nơi đây sẽ sụt xuống thành biển, mà chúng ta thì thành
cá hết”. Bởi vậy, khi có một kẻ bạo gan cứ nhất quyết tìm mọi cách thổi tắt
ngọn đèn đó đi thì anh ta đương nhiên gây nên sự phản ứng kịch liệt của
số đông. Trong con mắt mọi người, anh ta trở thành kẻ đối lập cô độc, bị
coi là “một kẻ thật không ra người nữa”, “một đứa con bất hiếu”, “một
thằng ngỗ nghịch”, “kẻ mang hoạ cho cả thôn”, “kẻ phá hoẵng”, “kẻ động
ngộ động dại”, “kẻ điên”, kẻ đáng “phải tìm cách khử nó đi”. Rồi người ta
bàn định nhau cách đối phó với anh ta: “trói giải lên trình huyện”, “đánh
cho chết đi là xong chuyện” Rốt cuộc, anh ta bị lập mưu lừa bắt, nhốt
giam trong gian miếu bỏ không. Suốt chiều dài thiên truyện, nhân vật
“người điên” ít xuất hiện. Mục đích chính của tác giả là miêu tả nhân vật

người kể chuyện dừng lại để cảm nhận, suy tư, bình giá, lí giải. Người kể
như vô can trước thế giới nhân vật và sự kiện diễn ra quanh nó. Khoảng
cách “xa lạ” với thế giới được miêu tả cho phép người kể chuyện di
chuyển vị trí điểm nhìn tạo ra một diện nhìn rộng. Bốn không gian công
cộng - nơi tạo nền hoạt động của nhân vật đám đông trong Cây trường
minh đăng đã cho thấy điều đó.

Cũng gần gũi như vậy, Thị chúng chỉ vẻn vẹn chưa đầy mười trang
sách, kể lại một sự kiện diễn ra trong khoảng thời gian không quá nửa
giờ, trên một đường phố, vào một buổi trưa mùa hạ, vậy mà góc nhìn của
người kể cũng rất rộng, di động tới 15 nhân vật với các hành vi nối tiếp
hành vi. Mở đầu thiên truyện, tác giả dựng nên một không gian đường
phố nhưng đó không phải là không gian náo nhiệt, tấp nập, phồn hoa. Đó
là một không gian tĩnh “chẳng còn một tiếng ồn ào”, bị trùm lên bởi cái
“không khí nóng phừng phừng, đâu đâu cũng thấy cái uy lực của những
ngày mùa hạ. Những con chó lè lưỡi ra, đến những con quạ trên cành cây
cũng phải há hốc mỏ mà thở” (tr.331). Không gian ấy vắng lặng đến có thể
nghe được cả tiếng chân anh phu xe “im lìm chạy tới, giống như chạy để
tránh ánh mặt trời gay gắt chiếu trên đầu”, đến có thể cảm nhận được cả
“cái giọng vỡ nghe ồ ồ, có vẻ ngái ngủ” của đứa trẻ đang “quai miệng rao
hàng” bên lề phố. Không gian phải yên tĩnh lắm, người ta mới có thể nghe
được và cảm thấy một cách rõ ràng cái âm thanh của “tiếng chập choẽ
bằng đồng xa xa vẳng lại Nhưng khi tiếng kim thuộc đơn điệu, uể oải đó
đứt quãng thì sự tịch mịch lại càng xa vắng, nặng nề” (tr.331). Trong
không gian tĩnh lặng ấy, chỉ một “tiếng nhóp nhép đưa vào tai”, một tiếng
“tát cái bốp vào mặt” hay một “tiếng khen nổi lên” cũng đủ “phá tan sự
yên lặng” và dễ trở thành trung tâm gây chú ý, khiến “tất cả các cái đầu”
xung quanh đều phải “ngoái lại nhìn”. Lướt qua cái nền không gian vắng
lặng, ngột ngạt gợi ra cuộc sống u bế, tẻ nhạt, buồn bã, thiếu sinh khí đó,
ống kính tác giả rọi vào soi thấu một góc - nơi một đám người đủ cả già

ấn tượng.

So với Cây trường minh đăng, người kể chuyện ở Thị chúng “giấu
mình” kín đáo hơn. Anh ta dường như không lưu lại một vết dấu tích nào.
Ở đây không có cả những lời dẫn thoại trực tiếp chỉ hành vi nói năng với
ít nhiều yếu tố chỉ trạng thái tình cảm của chủ thể lời nói như trong Cây
trường minh đăng thường gặp. Chẳng hạn: “anh trán rộng nắm tay, đập
bàn nói giọng khảng khái”, “anh đầu vuông nói có vẻ khinh bỉ”, “Trang
Thất Quang ngạc nhiên hỏi”, “anh mặt lưỡi cày thở dài, phục lăn, nói”,
“Thím Năm thất kinh khua tay liên tiếp, nói” Người kể chẳng hề tỏ ra
“bận tâm” tới xúc cảm của nhân vật. Thế giới Thị chúng là cái thế giới
lặng câm, vô cảm. Ngần ấy con người, ngần ấy gương mặt mà trái tim đều
bưng kín. Người bị thị chúng không có biểu hiện gì là tỏ ra sợ hãi, bất an
hay hổ thẹn. Người xem thị chúng cũng chẳng có dấu hiệu nào chứng tỏ
nỗi thương cảm, xót xa hay căm giận. Có chăng, ở họ chỉ thoáng thấy “có
vẻ thất vọng”, “buồn bã” bởi những gì họ chứng kiến hình như chưa
được “hay lắm”, chưa thực sự thoả mãn niềm háo hức, hiếu kì của họ mà
thôi. Tất cả hệt như những súc gỗ di động. Trước đám khán giả vô tri ấy,
người kể chuyện trước sau luôn giữ một thái độ khách quan lạnh lùng, cố
tình giấu đi nhiều điều trong im lặng. Trang sách gấp lại, người đọc thậm
chí cũng không biết được rốt cuộc người bị thị chúng mắc tội gì, và sau
đó cuộc thị chúng diễn ra như thế nào. Chỉ biết rằng, khi cách đó không
xa, có một cỗ xe ngã nhào và “một anh xe đang lổm ngổm bò dậy” thì “cả
đám đông liền tản ra, láo nháo, chạy đến xem”. Và khi sự thể xảy ra chẳng
có gì nghiêm trọng như mong đợi của mọi người, họ lại tản ra “nhìn theo
buồn bã”.

Có thể nói, nguyên tắc cơ bản của tự sự theo điểm nhìn bên ngoài là
không nhằm phản ánh hoạt động nội tâm nhân vật. Trong Cây trường
minh đăng có một ngoại lệ, người kể chuyện đã thâm nhập vào ý thức của


Đến với Thị chúng và Cây trường minh đăng, độc giả có chung một
ấn tượng khó quên về thế giới nhân vật của Lỗ Tấn. Và không chỉ trong
hai tác phẩm này, hình tượng nhân vật đám đông cứ trở đi trở lại trong
nhiều trang truyện khác của nhà văn. Mỗi người có khuôn mặt tính cách
riêng nhưng họ cùng mang đặc điểm: dốt nát, ngu muội, lạc hậu, bảo thủ,
yếu hèn, bàng quan, lạnh lùng đến vô cảm, tàn nhẫn. Nếu liên hệ với thực
tế cuộc đời nhà văn, người đọc dễ hiểu vì sao đám người ấy lại ám ảnh
ông sâu sắc đến như thế. Không phải ngẫu nhiên mà Lỗ Tấn đã tự nguyện
bỏ y học để theo nghiệp văn chương. Ông từng đau xót biết bao khi
chứng kiến cảnh vô khối kẻ đứng há hốc mồm vui thích nhìn đồng loại
mình bị “ăn thịt”. Nhà văn quan niệm, với những con người ngu dốt và
hèn yếu thì cho dù cơ thể họ có khoẻ mạnh đến đâu chăng nữa, cuối cùng
chẳng qua cũng chỉ là vật để người ta đem ra “thị chúng”, hoặc trở thành
những kẻ bàng quan hiếu kì như đám người trong Thị chúng mà thôi. Chết
vì căn bệnh thể xác chí ít cũng chưa phải là nỗi bất hạnh lớn nhất. Chết
mà không biết vì sao mình chết, sống mà vô tri, hờ hững với cuộc sống
mới thực sự là nỗi bất hạnh đớn đau của mỗi kiếp con người. Trong cả
hai tác phẩm, nhà văn không để cho bất cứ nhân vật nào, kể cả nhân vật
người kể chuyện đứng ra thay mình biểu đạt tình cảm, thể hiện khát vọng
làm bừng tỉnh quần chúng, hòng cứu vớt linh hồn của cả một dân tộc
đang trong cơn nguy khốn với nỗi đau tinh thần bị huỷ hoại. Nhưng qua
thế giới nhân vật tự do thể hiện mình trong đó, tư tưởng và lòng nhiệt
thành của nhà văn hiện lên khách quan và rõ nét. Độc giả, có thể nói, đã
thâu nhận được một lượng thông tin không nhỏ qua những thanh âm
hoàn toàn giấu kín trong tác phẩm.

Bằng một giọng điệu lạnh lùng “phớt tỉnh như không”, luôn giữ
được một khoảng cách nhất định cần thiết trong khi kể, hạn chế tới mức
tối đa sự “nhúng tay” tham gia với tư cách của “người kể toàn tri”, có thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status