Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn của Tô
Hoài sau 1945
Hoàng Minh Đức
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận văn Thạc sĩ ngành: Văn học Việt Nam; Mã số: 60 22 34
Người hướng dẫn: PGS.TS. Hà Văn Đức
Năm bảo vệ: 2010
Abstract: Tìm hiểu nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Tô Hoài nhằm tìm ra phong
cách tự sự độc đáo của nhà văn cũng như bình diện mới trong nghệ thuật tự sự ở
truyện ngắn Tô Hoài sau 1945. Đi sâu nghiên cứu nghệ thuật tự sự ở truyện ngắn Tô
Hoài sau 1945 trên các khía cạnh: Người kể chuyện; Cốt truyện - kết cấu tự sự; Ngôn
ngữ - giọng điệu tự sự
Keywords: Nghệ thuật tự sự; Truyện ngắn; Văn học Việt Nam
Content
Phần Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài:
Tô Hoài là một nhà văn có sức viết dồi dào, sung mãn, đã ghi tên mình vào làng tự sự
Việt Nam với một phong cách thuần hậu, thủ thỉ, gần gũi trìu mến. Truyện ngắn sau 1945
được Tô Hoài sáng tác trong một bầu không khí mới của lịch sử, với sự biến chuyển trong
nhận thức và đây là kết quả của những chuyến thâm nhập thực tế. Với 33 truyện ngắn, có
thành công và cũng có điều dở nhưng phải thừa nhận rằng Tô Hoài đã góp thêm một tiếng
nói, một lối tự sự vào văn học Việt Nam hiện đại. Chính vì thế, nghiên cứu về Nghệ thuật tự
sự trong truyện ngắn của Tô Hoài sau 1945 với một mong muốn sẽ giải mã được phần nào
nghệ thuật tự sự của Tô Hoài và góp thêm một cảm nhận của cá nhân về nhà văn lớn này.
2. Lịch sử vấn đề:
Tô Hoài sinh năm 1920, đến nay đã có 80 năm tuổi đời, và 60 năm tuổi viết. Ông có
cách kết cấu riêng trong truyện ngắn của ông.
Dựa vào những gợi ý trên, lấy người kể chuyện, kết cấu tự sự, cốt truyện tự sự, ngôn ngữ tự
sự, giọng điệu tự sự làm đối tượng nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành khảo sát một cách hệ thống
các tác phẩm truyện ngắn của Tô Hoài sau 1945 để đem lại cái nhìn mới về nghệ thuật tự sự của
ông.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tìm hiểu nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Tô Hoài nhằm rút ra phong cách tự sự
độc đáo của nhà văn. Luận đi sâu nghiên cứu nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Tô Hoài sau
1945 trên các khía cạnh: Người kể chuyện; Cốt truyện – kết cấu tự sự; Ngôn ngữ - giọng điệu
tự sự.
Phạm vi tư liệu nghiên cứu dùng cho luận văn này là 7 tập truyện ngắn: Núi cứu quốc
(1948); Chính phủ tạm vay (1951); Xuống làng (1951); Truyện Tây Bắc (1953); Cứu đất cứu
mường (1954); Tào Lường (1955); Khác trước (1957); Người một mình (1998); phần truyện
ngắn của 2 tập kí (Người ven thành, Vỡ tỉnh).
4. Phương pháp nghiên cứu:
3
Trong luận văn này, phương pháp nghiên cứu chủ yếu vẫn là những phương
pháp truyền thống: phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích tác phẩm theo
thể loại, phương pháp so sánh văn học, qua đó đánh giá bình luận thể hiện quan
điểm của bản thân đối với cách thể hiện các yếu tố nghệ thuật, tổ ng hợp lại tạo nên
một nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn của Tô Hoài sau 1945.
5. Cấu trúc luận văn:
Chương 1: Người kể chuyển trong truyện ngắn của Tô Hoài sau 1945
Chương 2: Cốt truyện và kết cấu tự sự trong truyện ngắn của Tô Hoài sau 1945
Chương 3: Ngôn ngữ tự sự và giọng điệu tự sự trong truyện ngắn của Tô Hoài sau
1945
Trong Figure III lại dùng từ “fosalisation” (tiêu điểm hoá) để chỉ khái niệm và định nghĩa:
tiêu điểm hoá là thu hẹp tầm hiểu biết, tức chọn lọc thông tin để kể lại so với cái mà truyền thống
gọi là sự thông suốt (…). Dụng cụ của sự chọn lọc đó, là một tiêu điểm có vị trí, tức một thứ cửa
nhỏ chỉ để thoát ra ngoài những tin tức nào đó mà tình hình cho phép…” [53;12]. Đề xuất này của
Genette nhắc chúng ta cần phải phân biệt giữa Người kể chuyện (narrator) và Người mang tiêu điểm
(focalizer). Người mang tiêu điểm và người kể chuyện là hai vấn đề rất khác nhau. Người mang tiêu
điểm là chủ thể của hành vi được kể lại còn người kể chuyện là chủ thể của lời nói (có thể vắng mặt
hay có mặt trong lời nói). Trong một truyện kể còn có thể có nhiều người mang nhiều tiêu điểm tức
là điểm nhìn được di động từ nhân vật này sang nhân vật khác nhưng vẫn là người kể chuyện hàm
ẩn.
Như giới nghiên cứu tự sự khẳng định, cho đến nay, hai mô thức phổ biến của tự sự là
trần thuật từ ngôi thứ nhất và trần thuật từ ngôi thứ ba. Mặc dù đã sử dụng trong không ít các
văn bản trần thuật xuất sắc (Người tình của M.Duras; Linh Sơn của Cao Hành Kiện), nhưng
hình thức trần thuật từ ngôi thứ hai được sử dụng một cách không phổ biến trong tự sự. ở Việt
Nam, trần thuật từ ngôi thứ ba là hình thức trần thuật cổ điển được sử dụng phổ biến trong tự
sự trung đại. Bước vào quá trình hiện đại hóa, cùng với việc biến đổi của trần thuật từ ngôi
thứ ba, hình thức trần thuật từ ngôi thứ nhất bắt đầu được các nhà văn sử dụng ở Việt Nam.
Việc lựa chọn các hình thức trần thuật gắn liền với vấn đề tổ chức điểm nhìn tự sự. Tương tự
5
như một bức tranh là sự tái hiện lại một hiện thực từ một góc độ quan sát nhất định, trong tự
sự dòng sự kiện có thể được tái hiện lại từ điểm nhìn bao trùm toàn bộ hiện thực của nhân vật
người kể chuyện trung tính (trần thuật từ ngôi thứ ba) hoặc khúc xạ qua ý thức của một nhân
vật (trần thuật từ ngôi thứ nhất). Nhân vật này có thể chỉ là người chứng kiến diễn biến câu
chuyện hoặc là một người tham gia trực tiếp vào cốt truyện. Có thể tìm thấy tất cả những mô
thức trần thuật này trong truyện ngắn của Tô Hoài.
1.1.1. Điểm nhìn chủ quan:
Trong hệ thống truyện ngắn Tô Hoài viết sau 1945 có 16/33 truyện ngắn kể ở danh xưng
“tôi. Nhân vật xưng “tôi” đem truyện mình, truyện của người khác ra kể: Vợ chồng A Phủ; Mùa
hái bông; Chiếc áo “xường xám” màu hoa đào; Người mất trí, Bác Niệm, Hai đứa trẻ đợi đi;
6
Từ điểm nhìn chủ quan, người kể chuyện dễ dẫn dắt người đọc đi một con đường đơn
giản đến từng ngóc ngách của câu chuyện. Dường như việc ham tìm hiểu, ham khám phá, gặp
gì viết đấy, ghi chép tỉ mỉ và đúc rút kinh nghiệm đã khiến cho những câu chuyện được nghe
kể; được chứng kiến trở thành một phần của chính tác giả. Hồi ức tuổi thơ (Cô đào thương),
nỗi dằn vặt khi trưởng thành (Bác Niệm); sự băn khoăn trước cuộc sống (Hai đứa trẻ đợi đi),
sự thương cảm cho số phận (Thào Mỵ kể đời mình); nỗi buồn da diết, bất lực (Cối, cối ơ),
những thăng trầm của đời người (Con ngựa)… tất cả như là những mảnh ghép của bức tranh
cuộc đời. Truyện hư cấu mà lại rất thật, đó là nhờ vào tính chất hồi kí, tự truyện của điểm nhìn
chủ quan.
1.1.2. Điểm nhìn khách quan:
Truyện ngắn hiện đại ngoài việc xử lí tốt điểm nhìn chủ quan, còn đa phần vẫn sử
dụng điểm nhìn tự sự truyền thống, điểm nhìn khách quan. Số lượng truyện kể ở ngôi thứ ba
là: 19/33. Truyện kể ở điểm nhìn ngôi thứ ba, có khi người kể chuyện tựa vào điểm nhìn của
nhân vật, có khi điểm nhìn là của chính người kể chuyện hàm ẩn. Đây là cái nhìn bên ngoài
không được nhân vật hoá mà ẩn đằng sau hình bóng của tác giả. Chọn điểm nhìn tự sự khách
quan giúp Tô Hoài tạo ra một khoảng cách nhất định giữa tác giả - nhân vật (sự kiện), giảm
tối đa sự can thiệp của cá nhân vào tác phẩm, điểm nhìn mang tính phức hợp và di chuyển
linh hoạt đã tạo ra sự hấp dẫn của câu chuyện.
1.1.2.1. Điểm nhìn hàm ẩn lặng lẽ ghi chép
Kiểu điểm nhìn người kể chuyện hàm ẩn đứng nhìn bên ngoài ẩn dưới hình bóng tác giả mà
không xuất hiện khá phổ biến trong truyện của Tô Hoài. Mường Giơn, Thảo, Đồng chí Hùng
Vương, Tào Lường, Du kích huyện… ở điểm nhìn này ta không thấy bóng dáng của Người kể
chuyện mà chỉ thấy các sự kiện được kể liên tiếp và thường theo trật tự tuyến tính. Khoảng cách
giữa nhân vật - độc giả thu ngắn đến mức tối đa. Tác giả lùi về phía sau, không chi phối vào hành
động, suy nghĩ của nhân vật giúp người đọc hiểu nhân vật hơn. Người kể chuyện hàm ẩn kể dưới
tiêu điểm hàm ẩn. Đôi mắt dõi theo, lặng lẽ ghi chép khiến cho những truyện ngắn này có sự
rập rịt về hành động, sự việc, nó bao quát được đời sống không chỉ của một mà còn của rất
nhiều nhân vật trong một thời gian dài cũng như chỉ trong một khoảng thời gian ngắn. Chính
gián tiếp tự do. Đây là một cách trần thuật mà vượt ra ngoài ranh giới và vùng kiểm soát của
người kể chuyện thuần nhất. Sự phối kết giữa các cấp độ của điểm nhìn trong từng ngôi kể đã
được đẩy đến những giới hạn tận cùng.
Với những phối hợp “đa phức”, đa tầng và có nhiều sự luân phiên điểm nhìn về
người kể chuyện như vậy, Tô Hoài đã tạo ra những thế giới hiện thực ở những không gian,
thời gian khác nhau. Sự tương tác và di chuyển điểm nhìn này sẽ tạo ra sự đa dạng trong
giọng điệu trần thuật, phá vỡ sự độc tôn của giọng điệu đơn thanh, tạo ra giọng đa thanh
trong các truyện ngắn của Tô Hoài sau 1945.
1.2. Vai trò của người kể chuyện
1.2.1. Người kể chuyện kiến tạo lối đi, dẫn dắt người đọc tiếp cận với thế giới truyện.
Truyện ngắn của Tô Hoài sáng tác sau 1945 viết trong những khoảng không gian, thời
gian và đề tài khác nhau: khoảng thời gian trong kháng chiến (các dân tộc thiểu số), khoảng
thời gian trong thời bình (cuộc sống sau chiến tranh), khoảng thời gian quay về quá khứ (cuộc
sống trong thời nghĩa binh). Thời gian được nói đến chính là quá khứ đến hiện tại. Làm sao để
người đọc bắt nhanh được với câu chuyện, hoà mình vào không khí của truyện, để từ đó theo
dõi nhân vật? Người kể chuyện phải tạo ra được hoàn cảnh ở thời điểm được giới hạn trong
8
truyện. Mỗi một thời điểm, mỗi một hoàn cảnh, người kể chuyện lại chọn những nét khác
nhau, những chi tiết khác nhau để tả, để kể sao cho người đọc nhận ra được mình đang đứng
trong không gian nào, thời gian nào, và nhân vật được chi phối bởi yếu tố đó ra sao.
Trong những năm kháng chiến, chính nhờ vốn sống, sự trải nghiệm đã giúp tác giả xây
dựng nhân vật người kể chuyện bắt được những nét thật đặc trưng tạo nên một không khí
kháng chiến hừng hực khí thế: Những truyện ngắn: Vỡ tỉnh; Đi dân công, Đồng chí Hùng
Vương, Tào Lường, Xuống làng; Cứu đất cứu mường; Mường Giơn; Vợ chồng A Phủ; Vượt
Tây côn Lĩnh; Khác trước; Vỡ tỉnh; Những ngày đầu; Thảo; Khiêng máy… là những truyện
ngắn sôi sục khí thế. Người kể chuyện lân la, nhìn ngó và tìm những đặc điểm thú vị nhất đem
kể lại cho người đọc.
Trong thời bình, người ta nghĩ nhiều về quá khứ, sống thật chân thành với hiện tại và đặc biệt là
tìm kiếm tình yêu. Người kể chuyện say sưa ghi chép, say mê kể. Sự bình yên của không gian, thanh bình
của văn xuôi Việt Nam phải đượm màu sắc, hình ảnh nơi chôn nhau cắt rốn của nó. Lẫn lộn
sao được? Chân lí đó đã quyết định và bắt buộc nhà văn Việt Nam phải sáng tác thế nào cho
thật là Việt Nam” [18;111]. Trong tất cả các truyện ngắn không phải chỉ giai đoạn sau 1945
mà còn cả trước đó và về mãi sau này, tất cả đều lôi cuốn bởi không gian trong đó là không
gian rất Việt, con người trong đó cũng rất Việt, phong tục, tập quán lại càng Việt Nam.
Một cách để biểu đạt âm hưởng Việt trong truyện ngắn của mình, Tô Hoài đã trang bị
cho người kể chuyện một nhãn quan phong tục độc đáo, và am hiểu vô cùng về cuộc sống.
Người kể chuyện cố gắng giấu mình đi, dõi đôi mắt vào hiện thực để ghi lại những phong tục
thật thú vị. Chính nhờ điều này mà người đọc thích thú hơn khi đọc truyện vì không chỉ tìm
hiểu được hiện thực mà qua những truyện ngắn, một nền văn hóa Việt Nam với những truyền
thống được hiện ra. Đẹp, độc đáo và đặc sắc, đó là những trang tả phong tục, mà khi đó dường
như đôi mắt của người kể chuyện cứ dán chặt vào rồi sử dụng hết vốn từ mình có để viết ra
sao cho hay nhất, thật nhất.
Chương 2: Cốt truyện – Kết cấu tự sự trong truyện ngắn của Tô Hoài sau 1945
2.1. Cốt truyện tự sự
Cốt truyện là chất liệu cơ bản quyết định sự tồn tại của tự sự (không thể có truyện nếu
không có chuyện) và bố cục phản ánh lao động nghệ thuật của nghệ sĩ, là sự tái tổ chức cốt
truyện trong thực tại ngôn ngữ (giống như cách thức họa sĩ “gói” một phong cảnh hiện thực
vào một bức tranh có giới hạn). Cốt truyện từ đơn giản (kể chuyện theo mạch tuyến tính thời
gian ở ngôi thứ ba) đến phức tạp (xáo trộn trật tự thời gian nghệ thuật “tiêu cự”, thay đổi điểm
nhìn, phản ánh cốt truyện qua ý thức của các nhân vật khác nhau). Nghiên cứu cốt truyện là
nghiên cứu cú pháp của truyện kể.
Trong hệ thống truyện ngắn của Tô Hoài sáng tác sau 1945 với hai mảng đề tài chính: miền
núi và cuộc sống của con người nơi thành thị cũ, có đến 24/ 33 truyện ngắn có cách xây dựng cốt
truyện khá đơn giản. Không phức tạp, lắt léo, ít có những trình tự đảo thời gian, ít sự kiện quan
trọng. Dù câu chuyện bao quát cả một thời kì dài đấu tranh của một cộng đồng như Cứu đất cứu
mường, Mường Giơn, Những ngày đầu, Xuống làng, Tào Lường… hay nói về cuộc sống của một cá
nhân như Lục trong Vỡ tỉnh, Thảo trong Thảo, A Phủ, Mỵ trong Vợ chồng A Phủ; Hải, bác Bảo
trong Ngõ phố, … thì diễn biến số phận nhân vật vẫn bám sát theo trình tự thời gian kể. Những câu
chuyện kể theo dòng hồi kí như Thào Mỵ kể đời mình; Mùa hái bông; Vượt Tây Côn Lĩnh, cũng có
2.2.1.1. Trần thuật thuần túy
Trần thuật thuần tuý là sự tái hiện một chuỗi các hành động thoáng qua về cuộc đời của con
người mà không dừng lại để tái hiện một hành động chủ yếu nào cả. Khái niệm cảnh không hề xuất
hiện trong kiểu trần thuật này. Ta gặp kiểu trần thuật này trong Thào Mỵ kể đời mình. Không có một
hành động nào được tái hiện đặc biệt, mà tất cả các sự kiện trôi đi lặng lẽ. Giọng điệu đều đều, dàn
trải. Truyện kể mang tính miêu tả và tái hiện rất rõ. Mùa hái bông cũng mang dạng thức trần thuật
này.
2.2.1.2. Trần thuật kịch hóa
11
Đây là dạng trần thuật phổ biến trong truyện ngắn Tô Hoài. Có tới 29 truyện trên tổng
số 33 truyện, chiếm 87%. Đối lập với cách trần thuật thuần tuý là sự liệt kê hành động, trần
thuật kịch hoá lại được xây dựng dựa trên kết cấu kịch: có nhiều cảnh nối tiếp nhau. Có hai
truyện gồm một cảnh: Sầm Sơn, Chiếc áo xường xám màu hoa đào. Hai truyện ngắn này toàn
bộ trần thuật được cấu tạo nên một hành động tiếp diễn duy nhất, trong một không gian giới
hạn; một thời gian nhất định. Sầm Sơn là cuộc nói chuyện của Chu và Liu Sa trong một đêm
trăng sáng trên biển. Chiếc áo “xường xám” màu hoa đào, là cuộc trò chuyện của nhân vật
“tôi” với lão Mã Hợp, bà lão Phảy trong căn nhà của ông bà về cuộc đời của hai người vào
buổi tối.
Đối lập với hai truyện ngắn này là các truyện ngắn có hình thức trần thuật nhiều lớp
cảnh: Đồng chí Hùng Vương; Tào Lường; Du kích huyện; Đi dân công; Xuống làng; Cứu đất
cứu mường; Mường Giơn; Vợ chồng A Phủ; Vượt Tây Côn Lĩnh; Vỡ tỉnh, Những ngày đầu,
Khiêng máy, Thảo, Tội làng, Khác trước, Người mất trí, Ngõ phố, Người ven thành, Câu
chuyện bờ đầm sen đền Đồng Cổ, Bác Niệm, Hai đứa trẻ đợi đi, Chuyện cũ, Một người bạn,
Chuyện để quên, Cô đào thương, Tình buồn, Nước mắt, Con ngựa. Các cảnh có mối quan hệ
nhân quả. Hiệu ứng của cảnh này sẽ đẩy đến sự xuất hiện và hình thành của cảnh khác.
Các truyện ngắn còn lại có mối quan hệ giữa các cảnh là mối quan hệ hỗn hợp. Nó vừa là
nhân quả, nhưng cũng là mối quan hệ tương đồng, tương liên.
2.2.2. Tổ chức hành động trong truyện ngắn Tô Hoài
Vì thế kết cấu của truyện ngắn không thể bỏ qua phương thức phân cảnh. Bản chất của
đi, Sầm Sơn) là những truyện ngắn được xây dựng trên sự thiếu vắng biến cố. Mỗi tình huống
truyện chính là một biến cố. Cách tổ chức tình huống chính là biến cố truyện đã khiến cho cả
hai truyện ngắn này tuy được tổ chức trần thuật dưới dạng kịch hoá nhưng lại là những truyện
ngắn đậm tâm trạng, nhẹ nhàng và để lại dư âm.
Thơ là sự xảy lặp của những xúc cảm, những hình ảnh lập đi lặp lại thì văn xuôi là một
thứ ngôn ngữ mạch thẳng - ngôn ngữ của sự vận động và thay đổi. Số lượng không nhỏ truyện
ngắn sau 1945 của Tô Hoài được xây dựng trên cơ sở các biến cố. Có 27/33 truyện ngắn xây
dựng trên kiểu biến cố này (Đồng chí Hùng Vương; Tào Lường; Du kích huyện; Đi dân công;
Xuống làng; Cứu đất cứu mường; Mường Giơn; Vợ chồng A Phủ; Vượt Tây Côn Lĩnh; Mùa
hái bông; Thào Mỵ kể đời mình; Vỡ tỉnh, Những ngày đầu; Khiêng máy; Thảo, Tội làng;
Khác trước; Người mất trí; Ngõ phố; Người ven thành; Câu chuyện bờ đầm sen đền Đồng
Cổ; Chuyện cũ; Chuyện để quên; Tình buồn; Nước mắt). Vấn đề là vai trò, chức năng của
biến cố trong tổng thể cấu trúc tự sự . Tự sự vốn là quá trình vận động và biến đổi cuộc đời
của nhân vật. ý nghĩa xa xưa, cổ điển của biến cố là có vai trò tác động vào không gian ngữ
nghĩa ban đầu làm biến đổi không gian - khiến cho nhân vật vượt ra khỏi không gian đó đạt
tới một trạng thái tồn tại khác.
Hầu hết các truyện ngắn viết về đề tài miền núi, và những ngày đầu khi kháng
chiến thành công đều được xây dựng theo dạng biến cố này.
Song ở dạng biến cố cổ điển: không phải lúc nào cũng có vai trò tác động, làm thay
đổi sự tồn tại, số phận (tồn tại có tính vật chất - xã hội) của nhân vật mà còn có một vai trò
khác, tác động vào tình cảm, suy nghĩ, tâm trạng (tồn tại có tính chất nội cảm - đời sống nội
tâm). Trường hợp truyện ngắn Cô đào thương, Hoa bìm biển cho ta một ví dụ khác về vai trò
của biến cố. Cả hai truyện ngắn đều viết về những biến đổi nội tâm tinh tế diễn ra trong tâm
hồn của nhân vật. Như vậy phạm vi ngữ nghĩa của những thay đổi ở đây không diễn ra trong
13
những tồn tại có tính vật chất - xã hội mà diễn ra trong đời sống nội tâm của nhân vật - một
thứ biến cố tâm trạng, biến cố nội tâm.
Những dạng biến cố “cổ điển” nói trên, dẫu phạm vi ngữ nghĩa của những thay đổi có
thể diễn ra trong những tồn tại mang tính vật chất - xã hội hay những tồn tại có tính nội tâm,
những đoạn độc thoại mà sau đó là sự biến chuyển trong suy nghĩ, trong hành động và cuộc
14
sống của nhân vật. Những đoạn độc thoại này giúp người đọc hiểu hơn về tâm trạng, hiểu hơn
về suy nghĩ và nó báo hiệu những biến chuyển sẽ xảy ra trong lòng người.
Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu tự sự trong truyện ngắn của Tô Hoài sau 1945
3.1. Ngôn ngữ tự sự:
3.1.1. Ngôn ngữ tự sự khẳng định sự giàu có và phong phú của tiếng Việt
Tô Hoài viết trong cuốn Sổ tay viết văn “Văn học là nghệ thuật của ngôn ngữ. Ngôn ngữ là
hình thức văn hóa của dân tộc” “Ngôn ngữ Việt Nam thật dai sức và điêu luyện. Sống chen giữa
những dân tộc to lớn, bị đô hộ hàng nghìn năm, nhưng tiếng Việt đã có “sức kháng cự mãnh liệt
trước những đe dọa đồng hóa và vẫn phát triển, trong sáng, phong phú sắc thái dân tộc”[18;112].
Không ai có thể phủ nhận khả năng dùng từ và vốn từ dường như không vơi cạn của Tô Hoài.
3.1.1.1. Sử dụng từ sáng tạo - táo bạo
* So sánh tu từ:
So sánh còn gọi là tỉ dụ, là “phương thức biểu đạt bằng ngôn ngữ một cách hình tượng
dựa trên cơ sở đối chiếu hai hiện tượng có dấu hiệu tương đồng nhằm làm nổi bật đặc điểm,
thuộc tính của hiện tượng này qua đặc điểm, thuộc tính của hiện tượng kia” [13].
Văn Tô Hoài vốn được Vũ Bằng đánh giá là một thứ văn “láu cá” viết ôn hoà và
khoan dung, chính vì thế nên mọi thứ trong ngôn ngữ của Tô Hoài đều giản dị, thân mật và
gần gũi. Đối tượng chính mà Tô Hoài so sánh là những sự vật rất gần gũi trong cuộc sống.
là tôi luôn đổi mới. Tôi thường suy nghĩ rằng cuộc đời không bao giờ lặp lại. Cho nên cuộc
đời là một mặt của vấn đề. Trong khi cuộc sống, nhân vật, phân cảnh, vạn vật biến chuyển
không ngừng, thì câu văn cũng không thể đứng nguyên tại chỗ. Theo tôi, một là khi câu văn
biểu hiện một ý trong tiểu thuyết, nhưng lại làm theo chủ quan của mình nghĩ, hai là nó lặp lại
đến nỗi người đọc nhận thấy cách mình kiến trúc câu, thì tôi cho đó là sự thất bại (…) Tôi
kiên quyết không lặp lại cách hành văn” [18;116] . “Người đọc chỉ nhận thấy dáng câu, chứ
không bao giờ thấy được kiến trúc câu”.
Những câu văn trên đôi khi không có cấu trúc đặc biệt nhưng lại nổi lên và hay kì lạ là
do sự sắp xếp các chữ trong một câu. Cách sắp xếp này tạo nên một thứ âm điệu nghe rất
thích tai khiến ta cứ muốn ngâm lên khe khẽ. Sự vật từ vô tri đến hữu tri, từ cảnh động đến
cảnh tĩnh đều đậm sức sống. Từ phải đặt đúng chỗ, đúng vị trí của câu văn, sẽ tạo ra hình ảnh
và công thêm nhịp điệu. Khi chữ vào óc, bao giờ cũng thành hình ảnh trước “Mỗi câu văn là
do từng hình ảnh xuất hiện liên tiếp từng chữ mang hình ảnh nối nhau. Chữ của câu văn phải
như gõ vào, nó kêu được chữ phải làm nổi hình ảnh liên tiếp. Cấu tạo câu phải là hình ảnh và
hình ảnh liên tiếp”.
Những câu văn ngắn xen giữa làm cho nhịp câu đột ngột bị ngắt, chuyển hẳn sang
những cảnh, những tình huống khác. Đa dạng và phong phú, không có sự lặp lại, tất cả đều
16
biến đổi. Câu đơn giản, không lồng ghép các bộ phận, vậy mà cần tả gì là tả được nấy. Cần
chuyển đoạn chỗ nào là chuyển được ở chỗ đấy. Dường như dùng chữ, sắp xếp hình ảnh
không phải là một thao tác thông thường, mà nhờ đó nó tạo thành một sự liên kết, sự liên kết
của hơi văn. Hơi văn tạo nên mạch ngầm của đoạn, tạo được không khí, cảm xúc mà tác giả
muốn nói đến.
Cấu trúc câu, dùng câu chính là một thế mạnh của Tô Hoài.
3.1.2. Ngôn ngữ mang nhãn quan đời thường – chuyện thường
Tô Hoài là một nhà văn của “chuyện thường, đời thường, người thường”, ai cũng biết
nhận định này. Nhưng phải đọc những tác phẩm của Tô Hoài mới biết hết điều đó. Chỉ đọc văn
Tô Hoài người ta mới thấy có thật nhiều nghề của cuộc sống: nghề đóng cối; nghề ngả cây ở công
viên; nghề mài dao, nghề móc cống; nghề bán chè tươi; nghề đưa gói hoa cúng hàng tháng; nghề
chuyện xưng “tôi” vừa giữ vai trò kể chuyện nhưng đôi khi lại trò chuyện với chính mình. ở
đây có sự phân vai, người hỏi, người trả lời. Hoặc đôi khi chỉ có lời hỏi còn câu trả lời là
sự im lặng. Điều này giúp cho nội tâm nhân vật được soi tỏ và tạo được niềm tin nơi độc
giả.
Hiện tượng thứ hai là người kể chuyện đối thoại với độc giả. Trong những giai đoạn
then chốt của câu chuyện, người kể chuyện đưa ra lời bình luận, đánh giá. Sự đa thanh, đa sắc
điệu làm câu chuyện bớt nhàm chán. Và nhiều người cùng kể, cùng bình luận, cùng trò
chuyện khiến nội dung và tư tưởng cũng như tính cách của nhân vật được bộc lộ.
3.2.2. Các kiểu giọng điệu chính:
3.2.2.1. Giọng ân tình, chân thực:
“Đất nước và người miền Tây đã để thương để nhớ cho tôi nhiều quá”, đó là tâm trạng
của Tô Hoài sau một cuộc hành trình đi sâu tìm hiểu quần chúng Tình cảm sâu sắc và vốn
kiến thức, tài liệu thực tế mà Tô Hoài thu thập được đã giúp ông viết nên những truyện ngắn
mang nét riêng về miền núi. Ông viết với cả tình cảm, cả những nhớ thương và những gì ông
quan sát được nên giọng điệu trong các tác phẩm này là một giọng điệu chân thực mà ân tình.
Tập truyện Núi cứu quốc, Cứu đất cứu mường; Mường Giơn; Truyện Tây Bắc đều
được kể bằng giọng điệu này. Chân thực vì sao? Từng truyện ngắn cho ta hiểu đúng về những
con người ở nơi đây cần cù vất vả, chân thực và giản dị; nồng hậu, ấm áp và anh dũng, quật
cường. Càng đọc, ta lại càng thêm yêu, thêm quý nhiều hơn những đồng bào dân. Tô Hoài
đã dùng một giọng điệu ân tình da diết để tạo nên những nét hài hoà, ấm áp mầu sắc, êm ái
âm thanh để vẽ ra những bức tranh đẹp về cảnh Tây Bắc Phải yêu biết bao, hiểu biết bao, nhớ
thương biết bao thì Tô Hoài mới viết được những câu văn trong trẻo, thật hay, thật sống động
như thế.
Những truyện ngắn viết về miền núi không chỉ là một bức tranh đẹp về cảnh vật, một
bản cáo trạng chứa hờn căm, nó còn là lời tri ân da diết. Giọng kể ân cần hơn, trìu mến hơn,
khi cần căm hờn thì căm hờn; khi bình yên thì thật bình yên Những bản tình ca Tây Bắc cứ
ngân mãi trong lòng người đọc, dù đôi chỗ tác giả còn chuộng lạ, khoe chữ; nhiều chỗ viết
còn tự nhiên, còn chế giễu và chưa đến được cái thật của sự việc nhưng trên hết vẫn là
một giọng điều trìu mến, da diết nhớ thương.
3.2.2.2. Giọng ngậm ngùi, xót xa
phản giữa không gian rộng lớn với con người bé nhỏ khiến cho cảm thức về nỗi nhớ
càng trối dậy. Người ven thành, Câu chuyện bên bờ đầm sen bên đền đồng cổ, Hoa bìm
biển, đều tái hiện những không gian trong quá khứ, những con người trong quá khứ. Vào
sâu văn bản, những tác phẩm này được viết với những nhịp văn chậm giãi, sử dụng
nhiều những thán từ “Chao ôi” “Thật là”; “Khúa Ly ơi! Chư ơi! Xa lắm rồi!” … Kết hợp
với những câu hỏi tu từ “Phải làm sao? Không thể quay về được ư? Làm sao chỉ vài
bước chân mà cả đời tôi không nghĩ được ra”, tự hỏi mình mà không bao giờ có thể giải
đáp được. Các tác phẩm trùm lên một không khí buồn, một thanh âm trầm lắng, cứ len
lỏi trong cảm xúc, suy nghĩ của người đọc.
19
20
C. Kết luận
1. Vào nghề văn không quá sớm nhưng Tô Hoài đã tạo ra một cơn lốc văn chương. Sự
nghiệp sáng tác của Tô Hoài được chia theo sự phân kì lịch sử, các tác phẩm sáng tác trước
Cách mạng và các tác phẩm sáng tác sau Cách mạng. Tô Hoài sáng tác trên nhiều thể loại:
truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết, hồi kí, tự truyện, bút kí… nhưng truyện ngắn là thể loại
có số lượng tác phẩm nhiều nhất. Truyện ngắn sáng tác trước cách mạng gồm 4 tập (O chuột,
Nhà nghèo, Nước lên, Mực tàu giấy bản); truyện ngắn sáng tác sau Cách mạng gồm 7 tập
(Núi cứu quốc (1948); Chính phủ tạm vay (1951); Xuống làng (1951); Truyện Tây Bắc (phần
truyện ngắn – 1953); Cứu đất cứu mường (1954); Tào Lường (1955); Khác trước (1957); Vỡ
tỉnh (phần truyện ngắn -1962). Mọi hành trình ngắn dài của Tô Hoài sau 1945 đều in dấu ấn
trên các trang viết, đều trở thành nguồn văn của ông.
2. Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn của Tô Hoài sau 1945 trở thành một “kĩ thuật”
rất riêng, nhờ vậy, mà dòng mạch văn học hiện đại của dân tộc có thêm một phong cách
pháp nghiên cứu tự sự học - một công cụ hữu ích cho việc vận dụng đối với các tác phẩm cụ
thể. Song PGS. TS. Đặng Anh Đào có lần nói: “Khuôn khổ của lí luận vốn định hình, còn tác
phẩm là một thế giới đa dạng”. Các truyện ngắn của Tô Hoài sau 1945 vẫn luôn là những thế
giới muôn màu cần được khám phá.
References
[1]. Tạ Duy Anh (biên soạn), Nghệ thuật viết truyện ngắn và kí, Nxb Thanh Niên, 2000
[2]. Lại Nguyên Ân, 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, 1999
[3]. Trần Lê Bảo (Khoa Văn ĐHSP HàNội), Giải mã văn hoá trong tác phẩm văn học, Tham
luận tại Hội thảo Việt Nam học, 2009
[4]. Trương Đăng Dung, Tác phẩm văn học như là quá trình, Viện Khoa học xã hội Việt
Nam, Viện Văn học, Hà Nội, 2004
[5]. Đặng Anh Đào, Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, NXB Đại học Quốc
gia Hà Nội, 2001
[6]. Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Tùng, Thi pháp học ở Việt Nam, NXB Giáo dục Việt
Nam, 2010
[7]. Phan Cự Đệ (chủ biên), Văn học Việt Nam thế kỉ XX, Nxb Giáo dục, 2004
[8]. Hà Minh Đức (chủ biên), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, 326 tr, 2002
[9]. Hà Minh Đức, Tô Hoài sức sáng tạo của một đời văn (Trò chuyện, ghi chép và nghiên
cứu về Tô Hoài), NXB Giáo dục Việt Nam, 2010
[10]. Hà Minh Đức, Tâm lí thời đại và sự tiếp nhận giá trị văn chương, Hội thảo Việt Nam
học, 2009
[11]. Hoàng Cẩm Giang, Cấu trúc thể loại tiểu thuyết đầu thế kỉ XXI, Luận văn thạc sĩ, Đại
học KHXH&NV.
22
[12]. Văn Cầm Hải, Tô Hoài – người đi nhặt chữ của giời, nguồn: http://tintuc.xalo.vn/, 2009
[13]. Lê Bá Hãn – Trần Đình Sử (chủ biên), Từ điển các thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, 451 tr,
2000
[14]. Hà Mỹ Hạnh, Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trước Cách mạng tháng
[40]. Nguyễn Đăng Mạnh, Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Nxb Giáo dục,
252 tr, 2000.
[41]. Nguyễn Đăng Mạnh, Nhà văn Việt Nam hiện đại, chân dung và phong cách, Nxb Trẻ,
393 tr, 2003.
[42]. Nguyễn Đăng Mạnh, Khải luận, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 30A, Nxb Khoa học xã
hội.
[43]. Phạm Duy Nghĩa, Văn xuôi miền núi và vấn đề truyền thống – hiện đại, Nguồn:
http://vannghequandoi.com.vn, 2009
[44]. Nhiều tác giả, Lý luận văn học (ĐHKHXH & NV), NXB Giáo dục, 1997
[45]. Nhiều tác giả, 50 năm văn học Việt Nam sau cách mạng tháng 8, NXB Đại học Quốc gia
Hà Nội, 1999
[46]. Đoàn Đức Phương, Chuyên đề: Phương pháp nghiên cứu văn học, Đại học KHXH&NV,
2005
[47]. Trần Thị Mai Phương, Nhân vật người kể chuyện trong hồi kí và tự truyện Tô Hoài,
Luận văn Thạc sĩ, Đại học KHXH &NV, 2009
[48]. Vũ Ngọc Phan (chủ biên), Nhà văn hiện đại Việt Nam, Nxb Văn hoá, 1998
[49]. Thế Phong, Tô Hoài, truyện phong tục, thôn quê và loài vật, Sách Lược sử văn nghệ
Việt Nam, NXB Vàng Son, Sài Gòn, 1974.
24
[50]. Nguyễn Hưng Quốc, Văn bản và liên văn bản, http://www.tienve.org
[51]. Trần Đình Sử, Số phận lịch sử của chủ nghĩa hiện thực, NxB Tác phẩm mới, Hội nhà
văn Việt Nam, 1980
[52]. Trần Đình Sử, Thi pháp thơ Tố Hữu, Nxb Hội nhà văn, 298 tr, 1987
[53]. Trần Đình Sử (chủ biên), Tự sự học, một số vấn đề lí luận và lịch sử, phần 1, Nxb Đại
học sư phạm, 523 tr, 2004.
[54]. Trần Đình Sử (chủ biên), Tự sự học, một số vấn đề lí luận và lịch sử, phần 2, Nxb Đại
học Sư phạm, 2008
[55]. Andrew Taylor, Cốt truyện, cửa ải gian khó của nhà văn, H.T dịch, Nguồn:
http://evan.com.vn