BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
NGUYỄN THỊ BÍCH
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ
TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975
(QUA TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN MINH CHÂU,
NGUYỄN KHẢI, MA VĂN KHÁNG)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 62.22.01.21
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Tự sự xuất hiện từ rất lâu, gắn với sự hình thành và phát
triển của lịch sử loài người nhưng tự sự học thì phải đến thế kỉ XX
mới được các nhà nghiên cứu tìm hiểu và trở thành một lĩnh vực học
thuật được quan tâm. Ở Việt Nam, tự sự học đã nhanh chóng trở
thành lĩnh vực thu hút các nhà nghiên cứu. Lí thuyết tự sự nghiên cứu
nhiều phương diện như cốt truyện, nhân vật, người kể chuyện, ngôi
kể, điểm nhìn, giọng điệu Luận án của chúng tôi vận dụng lí thuyết
về ngôi kể, điểm nhìn và giọng điệu trần thuật trong cấu trúc văn bản
truyện kể để nghiên cứu nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Việt Nam
sau 1975 (Qua truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải,
Ma Văn Kháng).
1.2. Sau 1975, nhà văn - nhân vật và bạn đọc được đặt trong
mối quan hệ đa chiều để tranh biện và đi tìm chân lí. Truyện ngắn đã
chứng tỏ là thể loại năng động, có khả năng nắm bắt vấn đề một cách
nhanh nhạy, kịp thời mà vẫn chuyển tải được những vấn đề quan
trọng của xã hội đương thời. Thể loại này mang trong nó những dấu
hiệu của sự vận động và biến đổi với nhiều khuynh hướng khác nhau:
truyện ngắn viết theo lối truyền thống và tuân thủ những đặc trưng
vốn có của thể loại; truyện ngắn cách tân trên nền truyền thống;
truyện ngắn cách tân theo hướng hiện đại. Chúng tôi đi sâu nghiên
cứu truyện ngắn của ba tác giả Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải,
Ma Văn Kháng (những nhà văn sáng tác theo khuynh hướng cách tân
trên nền truyền thống) từ góc nhìn tự sự để thấy được sự đổi mới
trong tư duy nghệ thuật và sự vận động của cấu trúc thể loại trong bối
cảnh mới.
3
- Đối sánh với truyện ngắn Việt Nam sau 1975 để nhận ra những
nét riêng biệt, những thành công và giới hạn của thế hệ nhà văn mở
đường, đặc điểm truyện ngắn Việt Nam sau 1975 từ góc nhìn tự sự.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là nghệ thuật tự sự trên các
bình diện cơ bản ngôi kể, điểm nhìn, giọng điệu trần thuật trong
truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (Qua truyện ngắn của Nguyễn Minh
Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng).
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Nghệ thuật tự sự bao gồm nhiều
phương diện. Ở luận án này, chúng tôi tập trung nghiên cứu vấn đề
ngôi kể, điểm nhìn và giọng điệu trần thuật. Đó là những yếu tố nổi
bật tạo nên phong cách nghệ thuật của truyện ngắn Nguyễn Minh
Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng.
- Phạm vi tư liệu:
+ Đề tài chủ yếu khảo sát toàn bộ truyện ngắn của Nguyễn
Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng nhưng tập trung vào
những truyện ngắn sáng tác sau 1975. Trong đó, chúng tôi chú ý
những tác phẩm trong tuyển tập truyện ngắn của ba nhà văn: Tuyển
tập truyện ngắn Nguyễn Minh Châu (2006) của Nhà xuất bản Văn
học; Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Khải (2007) của Nhà xuất bản
Hội Nhà văn; Truyện ngắn chọn lọc Ma Văn Kháng (2002) của
Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Một số truyện ngắn tiêu biểu của các nhà
văn cùng thế hệ và khác thế hệ (các nhà văn “6X”, “7X”, “8X”,
“9X”) để so sánh.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Luận án sử dụng các phương pháp sau: Phương pháp tiếp cận
của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng
Chương 4: Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn sau 1975
của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng 5
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Khái lƣợc tình hình nghiên cứu lí thuyết tự sự
Tự sự học là “một nhánh của thi pháp học hiện đại”. Chủ
nghĩa hình thức Nga với những tên tuổi V. Shklovski (1893 - 1984),
B. Eikhenbaum (1886 - 1959), B. Tomachevski (1890 - 1957)… đặt
nền móng cho những cơ sở ban đầu của lí thuyết tự sự. Họ đã bước
đầu đề cập đến nhiều phương diện cơ bản của cấu trúc tự sự ở
phương diện lí thuyết như kết cấu tác phẩm, cốt truyện, nhân vật hay
nghệ thuật tổ chức thời gian… Chủ nghĩa hình thức Nga đặt viên
gạch đầu tiên cho lí thuyết tự sự học nhưng góp phần hình thành bộ
môn tự sự học thì phải kể đến Chủ nghĩa cấu trúc với những tên tuổi
như R. Barthes, Tz. Todorov, A. J. Greimas, G. Genette… Tiếp theo
phải kể đến các nhà tự sự học hậu cấu trúc chủ nghĩa như M. Bakhtin,
I. U. Lotman, B. Uspenski… Lí thuyết tự sự học hiện đại bao gồm các
thành phần cơ bản: người kể chuyện, điểm nhìn, dòng ý thức, không gian,
thời gian, giọng điệu trần thuật…
Ở Việt Nam, một số nhà nghiên cứu đã quan tâm tìm hiểu và
dịch thuật các công trình về tự sự học như Trần Đình Sử, Cao Kim
Lan, Lê Phong Tuyết, Phan Thu Hiền, Nguyễn Đức Dân, Phương
Lựu, Lê Huy Bắc, Đặng Anh Đào… Các tác giả đã góp phần làm rõ
các những vấn đề cơ bản của tự sự học như: thời gian và không gian
trần thuật, cấu trúc của văn bản trần thuật, ngôn ngữ trần thuật, tình
huống trần thuật, điểm nhìn, giọng điệu, ngôi phát ngôn…
truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Khải
Nhiều nhà nghiên cứu, phê bình tâm huyết tìm hiểu về sáng tác
Nguyễn Khải như Lại Nguyên Ân, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ,
Nguyễn Văn Hạnh, Đoàn Trọng Huy, Chu Nga, Vương Trí Nhàn,
Đào Thuỷ Nguyên, Huỳnh Như Phương, Trần Đình Sử, Bích Thu 7
Song, các tác giả chủ yếu đi sâu tìm hiểu về Nguyễn Khải với những
chặng đường văn học gắn với dân tộc và thời đại; giá trị các sáng tác;
phong cách tác giả; chuyện văn, chuyện đời của nhà văn chứ chưa đi sâu
tìm hiểu nghệ thuật tự sự trong văn xuôi nói chung và trong truyện
ngắn của ông nói riêng.
1.3.2. Những công trình nghiên cứu về nghệ thuật tự sự trong
truyện ngắn sau 1975 Ma Văn Kháng
Luận án quan tâm khảo sát bài viết và công trình nghiên cứu của tác
giả Đỗ Phương Thảo, Lã Nguyên, Nguyễn Thị Huệ, Phong Lê,
Nguyễn Ngọc Thiện… và nhận thấy, các tác giả này đã quan tâm đến
việc tìm hiểu sáng tác Ma Văn Kháng từ phương diện tự sự học, song
chưa toàn diện và còn nhiều lời ngỏ.
Qua việc khảo sát lịch sử vấn đề nghiên cứu, chúng tôi đi đến một số
nhận định sau:
- Ở nước ngoài, nghiên cứu văn học dựa trên lí thuyết tự sự là
hướng nghiên cứu được quan tâm.
- Ở Việt Nam, những công trình vận dụng lí thuyết tự sự học để
nghiên cứu tác phẩm văn học chưa phổ biến.
- Đã có những công trình luận văn, luận án bàn về các yếu tố
của của cấu trúc tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn
Khải, Ma Văn Kháng nhưng chỉ nghiên cứu từng tác giả.
- Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng là những
Trên cơ sở tiếp thu và vận dụng lí thuyết tự sự học, luận án tiến hành
khảo sát và phân loại các hình thức: tự sự NT3 (điểm nhìn bên ngoài,
điểm nhìn bên trong, điểm nhìn phức hợp); tự sự NT1 (điểm nhìn đơn
tuyến, điểm nhìn đa tuyến).
2.1.3. Giọng điệu trần thuật
Giọng điệu là thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng, đạo đức
của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn 9
quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm
thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm.
Giọng điệu thể hiện phong cách nhà văn nhưng giọng điệu cũng chịu
sự chi phối của thời đại, gắn liền với thời đại. Mỗi giai đoạn văn học
mang một âm hưởng đặc trưng, một giọng điệu riêng. Sự đa sắc thái
về giọng điệu được thể hiện ngay trong từng tác giả và từng tác phẩm
trên cơ sở một giọng điệu “chủ âm”.
2.2. Khái lƣợc về truyện ngắn Việt Nam sau 1975
2.2.1. Quá trình vận động của truyện ngắn Việt Nam từ sau 1975
đến nay
2.2.1.1. Giai đoạn từ 1975 đến 1985 - những tín hiệu đổi mới
Sau 1975, đề tài chiến tranh và những vấn đề thời sự - chính trị
vẫn là cảm hứng và mối quan tâm của văn học. Tuy nhiên, trong hoạt
động sáng tác đã xuất hiện một số tác phẩm văn học đi "chệch"
đường ray của tư duy nghệ thuật giai đoạn trước, tìm kiếm hướng
khai thác mới - khai thác chiều sâu tâm lý và nỗi đau thân phận
con người.
2.2.1.2. Giai đoạn từ 1986 đến nay - đổi mới và phát triển
Những cây bút truyện ngắn từng sống và viết trong chiến tranh,
những cây bút thế hệ “7X”, “8X” với ý thức đổi mới văn học ngày
Sau 1975, sáng tác của Nguyễn Khải đã mở rộng, khơi sâu khả
năng nhận thức và tự ý thức của con người trước hiện thực. Nhà văn
đặt nhân vật trong đối thoại nhiều chiều để soi chiếu chân lí đời sống.
2.2.3.3. Ma Văn Kháng và một chặng đường mới trên hành trình
nghệ thuật
Cách nhìn cuộc sống và con người của Ma Văn Kháng từ sau
1975 đã đạt đến độ sâu sắc, giàu chiêm nghiệm. Trong công cuộc “khai
mở” nền văn học mới, sáng tác của Ma Văn Kháng thể hiện sự đổi mới
trong cách chiếm lĩnh hiện thực và cái nhìn mới về con người. 11
CHƢƠNG 3
NGÔI KỂ VÀ ĐIỂM NHÌN TRONG TRUYỆN NGẮN
SAU 1975 CỦA NGUYỄN MINH CHÂU, NGUYỄN KHẢI,
MA VĂN KHÁNG
3.1. Truyện ngắn kể theo ngôi thứ ba của Nguyễn Minh Châu,
Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng
3.1.1. Người kể chuyện ẩn mình kể theo điểm nhìn bên ngoài (ĐNBN)
Vận dụng lối kể NT3 theo ĐNBN, Nguyễn Minh Châu,
Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng miêu tả một cách khách quan những gì
nghe thấy, nhìn thấy. Người đọc tiếp nhận sự việc một cách dân chủ,
bình đẳng mà không chịu sự định hướng của bất cứ điểm nhìn nào.
Hầu hết các tác phẩm kể ở NT3 theo ĐNBN của ba nhà văn này đều
được kể lại một cách thuần tuý bởi một NKC ẩn mình trong tác phẩm
(Móng vuốt thời gian, Seo ly, kẻ khuấy động tình trƣờng, Hoa
gạo đỏ… - Ma Văn Kháng; Lũ trẻ ở dãy K, Hƣơng và Phai -
Nguyễn Minh Châu; Nơi về - Nguyễn Khải).
Các truyện kể ở NT3 theo ĐNBN của Nguyễn Minh Châu,
Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng thường có nội dung đơn giản. Không
tưởng về tính chân thực của câu chuyện. Thế giới bên trong của nhân
vật được miêu tả trực tiếp với sự phân tích, bình luận của NKC. Việc
NKC di chuyển điểm nhìn trần thuật vào bên trong đã thể hiện đầy đủ
hơn khả năng chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật
về con người của các nhà văn. Những truyện ngắn này được tạo dựng
từ cốt truyện tâm lý và thiên về biểu hiện tư tưởng nhiều hơn sự kiện.
Người đọc thường xuyên bắt gặp trong truyện những lời kể mang
tính chất nửa trực tiếp. Người kể chuyện thiên về “kể tư tưởng” nên
trong truyện thường xuất hiện trường từ vựng chỉ ý thức và cảm giác
của nhân vật. Nổi bật về hình tượng NKC trong những truyện ngắn ấy 13
là người kể đặc biệt tinh tế, từng trải, hiểu đời và hiểu người. Với hình
thức tự sự này, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng đã
hài hoà giữa truyền thống và cách tân, là cầu nối và khởi động cho sự
đổi mới văn học Việt Nam sau 1975.
3.1.3. Người kể chuyện ẩn mình dịch chuyển điểm nhìn
Những truyện ngắn Việt Nam sau 1975 của Nguyễn Minh
Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng vận dụng phương thức tự sự này
luôn có sự dịch chuyển điểm nhìn linh hoạt. Tính di động của điểm
nhìn thể hiện ở sự thay đổi vị trí quan sát (chủ thể kể) hoặc vị trí được
quan sát (đối tượng kể). Nhà văn giới hạn điểm nhìn tự sự vào “nhãn
quan” của nhân vật (Cơn giông; Mẹ con chị Hằng; Khách ở quê ra
và Phiên chợ Giát - Nguyễn Minh Châu; Luật trời, Ông cháu -
Nguyễn Khải; Trái chín mùa thu, Ngày đẹp trời, Một chốn
nƣơng, Heo may, gió lộng… - Ma Văn Kháng). Người kể chuyện
được hình dung như một con người cụ thể có đặc điểm tâm lý, tính
cách, có lập trường tư tưởng và nhận thức riêng ở một vị trí thời gian,
không gian nhất định.
thế giới “một thời đã xa” nay chỉ còn “vang bóng”. Điều các tác
phẩm hướng tới là vấn đề “đôi mắt”, là cái nhìn, suy nghĩ của “tôi”,
“cái ý thức của tôi”. Có thể nói, truyện kể ở NT1 với NKC xưng
“tôi” duy nhất thường mang màu sắc “phản tỉnh”. Trong nhiều tác
phẩm, người đọc có cảm giác không chỉ lắng nghe “tôi” kể chuyện
mà còn đồng cảm và cùng thức tỉnh với tâm trạng, nỗi niềm của
“tôi”. Nhịp điệu kể hòa với điệu tâm hồn lúc trầm lắng, suy tư, lúc
nao nao, thổn thức… Vì vậy, chiếm ưu thế trong các truyện ngắn này
là lời kể với sự xuất hiện thường trực những tập hợp từ như: “một
hôm”, “đêm ấy”, “từ đó”, “ngày hôm đó”, “sáng hôm sau”, “khi
trở lại”, “mỗi ngày”…Những từ ngữ này đã đưa người đọc hoà nhập
vào dòng hồi ức của NKC. 15
Hình thức trần thuật NT1 theo ĐNĐT đã tạo điều kiện cho nhà
văn khai thác nội tâm và những trải nghiệm cá nhân một cách sâu
sắc. Điều này xuất phát từ nhu cầu nhận thức lại trong văn học thời kì
đổi mới. Nguyễn Minh Châu thâm trầm, da diết; Nguyễn Khải sắc
sảo, giàu suy tư, triết luận; Ma Văn Kháng thấm đượm ân tình.
3.2.2. Nhiều người kể chuyện xưng “tôi” kể theo điểm nhìn đa
tuyến (ĐNĐaT)
Lối tự sự theo ĐNĐaT không phổ biến trong sáng tác của Nguyễn
Khải, Nguyễn Minh Châu và Ma Văn Kháng. Người kể chuyện “tôi” giữ
vai trò giới thiệu nhân vật, dẫn ra câu chuyện rồi sau đó “bàn giao” việc kể
cho một cái “tôi” khác (Ngƣời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành; Mùa
trái cóc ở Miền Nam - Nguyễn Minh Châu; Chuyện tình của mỗi ngƣời
- Nguyễn Khải) hoặc tham gia vào các tình tiết và giao lưu với các nhân
vật (Chiếc thuyền ngoài xa, Cỏ lau - Nguyễn Minh Châu; Một ngƣời
Hà Nội, Nắng chiều - Nguyễn Khải; Tóc Huyền màu bạc trắng, Nhiên!
người trong bộn bề lo toan, từ niềm tự hào về vẻ đẹp thiên nhiên, quê
hương, đất nước và những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc
(Ngƣời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Cơn giông, Cỏ lau,
Khách ở quê ra, Chiếc thuyền ngoài xa, Phiên chợ Giát - Nguyễn
Minh Châu; Hai ông già ở Đồng Tháp Mƣời, Chuyện tình của mỗi
ngƣời, Chị Mai, Một ngƣời Hà Nội, Một bàn tay và chín bàn tay -
Nguyễn Khải; Giàng Tả - Kẻ lang thang, Hoa Gạo đỏ, Seo Ly - Kẻ
khuấy động tình trƣờng, Nhiên! Nghệ sĩ múa, Chị Thiên của tôi,
Tóc Huyền màu bạc trắng - Ma Văn Kháng)…
Cùng ngợi ca con người nhưng mỗi nhà văn có cách thể hiện
riêng. Chẳng hạn, cùng nói về vẻ đẹp người phụ nữ, Nguyễn Minh
Châu thiên về miêu tả cái duyên ngầm thể hiện trong ánh mắt và
dáng người; Nguyễn Khải tập trung miêu tả các chi tiết của ngoại
hình như khuôn mặt, ánh mắt, dáng người, hàm răng, còn Ma Văn 17
Kháng lại đặc biệt ưu ái và thể hiện cảm hứng trân trọng, ngợi ca ở
"thiên tính nữ" với vẻ đẹp phồn thực, đầy chất sinh tỏa, với sức sống
mãnh liệt và sức thu hút kỳ lạ.
Giọng điệu khẳng định, ngợi ca trong sáng tác của Nguyễn
Minh Châu được bộc lộ trực tiếp qua các phương tiện ngôn ngữ như:
cách xưng hô của NKC đối với nhân vật được kể, sử dụng những từ
ngữ miêu tả cảm xúc mãnh liệt của nhân vật, những gam màu gây ấn
tượng mạnh, những hình ảnh kỳ vĩ, hoành tráng Nguyễn Khải miêu
tả với ngôn ngữ hiệ n thự c, giàu chất sống nên giọng điệu khẳng định,
ngợ i ca không rạ ng rỡ , hoành tráng mà chừ ng mự c , điề m tĩnh, chân
thự c. Ma Văn Kháng lại thường dùng những mĩ từ, những hình ảnh
so sánh bay bổng… cảm xúc lộ diện ngay trên câu chữ.
4.2. Giọng điệu trào lộng, châm biếm
Kháng tuy không gay gắt nhưng cũng rất sâu sắc và thấm thía. Mỗi
ngòi bút một sắc thái giọng điệu khác nhau, song ta đều đọc được ở
đó thái độ phê phán những thói hư, tật xấu của con người, phơi bày
những tồn tại của cuộc sống thời hậu chiến phức tạp. Nó thức tỉnh
phần người trong mỗi chúng ta, nó thanh lọc tâm hồn để con người
xây dựng một cuộc sống tươi đẹp hơn.
4.3. Giọng điệu xót xa, thƣơng cảm
Sau 1975, giọng điệu xót xa, thương cảm lắng đọng trong từng
câu, từng chữ khi các nhà văn viết về những mảnh đời bất hạnh và
bộc lộ nỗi buồn sâu lắng trước sự hiện diện của cái xấu, cái ác trong
cuộc đời (Ngƣời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Khách ở quê
ra, Bến quê - Nguyễn Minh Châu; Cặ p vợ chồ ng ở chân độ ng Tƣ̀
Thƣ́ c, Mộ t bà n tay và chí n bà n tay , Đời khổ, Ông chá u - Nguyễ n
Khải; Ngƣời giúp việc, Chọn chồng, Nợ đời - Ma Văn Kháng… )
Để thể hiện giọng điệu này, Nguyễn Minh Châu thường dùng
những từ ngữ miêu tả nỗi buồn đau, câu văn miêu tả cảnh vật, lời độc 19
thoại nội tâm, lời nửa trực tiếp. Nguyễ n Khả i sử dụng nhiều từ
“buồ n”, lờ i nử a trự c tiế p và để nhân vậ t bậ t khó c . Ma Văn Kháng sử
dụng lời văn mang sắc màu cảm thán bằng những lời than và hình
thức câu hỏi tu từ, lối viết lặp cú pháp, lời nửa trực tiếp, trường từ
ngữ chỉ nỗi buồn đau Giọng điệu xót xa, thương cảm của Nguyễn
Minh Châu mang sắc vẻ thâm trầm, chiêm nghiệm, cảm thương chìm
sâu trong mạch ngầm văn bản; Nguyễn Khải bộc lộ ngay trên câu
chữ, trên những số phận cay cực của cuộc đời thường nhật; Ma Văn
Kháng thì thương đời, thương người - một tình thương đồng loại đầy
sâu sắc, ưu tư của người cầm bút. Có thể nói, giọng điệu xót xa,
thương cảm trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải,
sang văn chương nghiên cứu và khám phá đời sống; từ con người sử
thi đến con người đời thường) và nội dung tự sự (từ những bài ca ra
trận đến những bi kịch cá nhân, sám hối, nỗi đau…) đã quy định việc
tổ chức nhiều điểm nhìn. Sự di chuyển điểm nhìn tạo cho truyện có
nhiều giọng kể. Trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn
Khải, Ma Văn Kháng, bên cạnh sự chi phối của giọng điệu chủ đạo,
các giọng điệu đã tương hỗ nhau để tạo nên tính đa thanh giàu sức
hấp dẫn và tính tranh biện, đối thoại cho tác phẩm. Sự đa dạng của
giọng điệu trần thuật là một phương tiện để nhà văn thể hiện, chuyển tải
tính phức tạp của cuộc sống đương đại trong cái nhìn đa chiều.
Mỗi nhà văn đều tạo cho mình giọng điệu mang phong cách
riêng. Nếu trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, chủ âm vẫn là
giọng điệu triết lý thâm trầm thì trong truyện ngắn của Nguyễn Khải,
giọng điệu chủ âm là giọng tranh biện, đối thoại thể hiện sự trải
nghiệm cá nhân và Ma Văn Kháng lại là giọng ngợi ca mang đậm
màu sắc trữ tình, mượt mà, duyên dáng thể hiện sự đắm say của trái
tim nồng hậu. 21
KẾT LUẬN
1. Tự sự là phương thức tái hiện đời sống, là một phương thức
tạo nghĩa và truyền đạt thông tin. Tự sự học là hệ thống lí thuyết có
nội hàm nghiên cứu sâu rộng. Nghệ thuật tự sự bao gồm nhiều thành
phần. Người kể chuyện do nhà văn sáng tạo, dù không hoàn toàn
trùng khít nhưng họ vẫn có sự thống nhất về quan điểm (tác giả là
người tổ chức truyện kể, lựa chọn người kể, ngôi kể và điểm nhìn
phù hợp). Như vậy, sợi dây liên hệ giữa NKC và tác giả được xác lập
thông qua hệ thống điểm nhìn. Điểm nhìn trần thuật là điểm nhìn của
chủ thể trần thuật khi anh ta tham gia kể chuyện. Sự chuyển đổi linh
nhân vật hoặc nhập vai vào nhân vật để kể. Điểm nhìn cũng không
đơn thuần là sự quan sát mà còn mang tính chất tâm lý thể hiện mức
độ cảm xúc và chiều sâu tư tưởng của tác giả. Vì thế, NKC bao giờ
cũng là con người hiện hữu, cụ thể, xác định, luôn đối thoại, tranh
biện với độc giả và nhà văn. Điều này bắt nguồn từ sự thay đổi quan
niệm, tư duy về thể loại và đó cũng là cơ sở của sự xuất hiện nhiều
giọng điệu trần thuật trong văn học Việt Nam sau 1975. Qua việc tìm
hiểu nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh
Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, chúng tôi khẳng định vai trò
của các nhà văn trong tiến trình đổi mới văn học Việt Nam đương đại
và nhận diện phong cách nghệ thuật của họ.
3. Sự linh hoạt điểm nhìn đã phá vỡ tính đơn giọng trong văn
học trước đây. Sự đan xen các giọng điệu trần thuật (khẳng định,
ngợi ca; trào lộng, châm biếm; xót xa, thương cảm; suy ngẫm, triết lí)
đã tạo ra các văn bản mang sắc thái đa thanh giúp chuyển tải tư tưởng
nghệ thuật một cách đầy đủ và đa chiều. Sự đổi mới về tư duy nghệ
thuật đã tạo điều kiện để văn học phản ánh hiện sâu sắc và toàn diện.
Hiện thực cần phải được nghiên cứu từ nhiều phía và ý thức đối thoại 23
tranh biện xuất hiện. Mối quan hệ người đọc - nhà văn - nhân vật là
mối quan hệ dân chủ, bình đẳng. Giọng điệu khẳng định, ngợi ca cất
lên trước vẻ đẹp con người, vẻ đẹp của quê hương, đất nước. Giọng điệu
trào lộng, mỉa mai bộc lộ thái độ bất bình với cái ác, cái xấu và mang
màu sắc tự trào khi các nhà văn soi chiếu lại chính mình trong nhịp sống
hôm nay. Giọng điệu xót xa, thương cảm thể hiện sự sẻ chia của nhà văn
những đớn đau của thân phận bất hạnh và chua chát trước những thói đời
đen bạc. Giọng điệu suy ngẫm, triết lí là sự trải nghiệm của các nhà văn
trên hành trình sống và viết… Tùy thuộc vào đối tượng phản ánh, mỗi tác