Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Bảo Ninh ( Luận văn ThS. Văn học ) - Pdf 28


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TẠ THỊ HÀ

NGHỆ THUẬT TỰ SỰ
TRONG TRUYỆN NGẮN BẢO NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Hà Nội - 2014


3
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của tôi dưới sự
hướng dẫn của PGS.TS Tôn Thảo Miên.
Tôi cũng cam đoan đề tài này không trùng với bất cứ đề tài luận văn
nào đã được công bố ở Việt Nam.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung đề tài.

Người cam đoan

Tạ Thị Hà
4
Lêi c¶m ¬n
Để có thể hoàn thành luận văn này, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết

CHƢƠNG 1: NGƢỜI KỂ CHUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TỰ SỰ TRONG
TRUYỆN NGẮN BẢO NINH 16
1.1. Ngƣời kể chuyện 16
1.1.1. Khái niệm người kể chuyện 16
1.1.2. Người kể chuyện trong truyện ngắn Bảo Ninh 19
1.1.2.1. Người kể chuyện ngôi thứ nhất 19
1.1.2.2. Người kể chuyện ngôi thứ ba 25
1.1.2.3. Sự đa tầng bậc người kể chuyện 28
1.2. Điểm nhìn tự sự trong truyện ngắn Bảo Ninh 31
1.2.1. Khái niệm điểm nhìn 31
1.2.2. Điểm nhìn tự sự trong truyện ngắn Bảo Ninh 33
CHƢƠNG 2: NHÂN VẬT VÀ CỐT TRUYỆN TỰ SỰ TRONG TRUYỆN
NGẮN BẢO NINH 38
2.1. Nhân vật trong truyện ngắn Bảo Ninh 38
2.1.1. Khái niệm nhân vật 38
2.1.2. Nhân vật trong truyện ngắn Bảo Ninh 40
2.1.2.1. Nhân vật cô đơn, lạc thời và lạc loài 40
2.1.2.2. Nhân vật cứu rỗi 49

6
2.1.2.3. Nhân vật tự nhận thức 53
2.1.3. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Bảo Ninh 56
2.1.3.1. Sự đối lập trong hoàn cảnh xuất thân 56
2.1.3.2. Miêu tả ngoại hình 58
2.1.3.3. Khắc họa nhân vật qua ngôn ngữ 61
2.2. Cốt truyện trong truyện ngắn Bảo Ninh 64
2.2.1. Khái niệm cốt truyện 64
2.2.2. Cốt truyện trong truyện ngắn Bảo Ninh 66
2.2.2.1. Cốt truyện hiện thực 66
2.2.2.2.Cốt truyện tâm lý 77

viết riêng, một phong cách riêng khó trộn lẫn. Những truyện ngắn của Bảo
Ninh có những đặc trưng riêng rất đáng để khảo sát và tìm hiểu. Bảo Ninh là
người được sống và cảm nhận những giá trị cuộc sống ở cả hai giai đoạn
kháng chiến chống Mĩ và hiện thực cuộc sống sau chiến tranh, nhất là từ thời
kì Đổi mới. Ông là một trong những nhà văn hiện nay viết hay và xuất sắc về
đề tài chiến tranh và hậu chiến. Bảo Ninh đã từng là một người lính, có thể
nói những kí ức về chiến tranh, về chiến trường, về tình yêu và cuộc sống của
người lính đã ngấm sâu và trở thành một phần trong tâm trí nhà văn. Trong
sáng tác của Bảo Ninh, số phận của những con người bước ra từ cuộc chiến
tranh cùng những bi kịch của con người trong cuộc sống thời hậu chiến đã
hiện lên một cách chân thực và đầy tính nhân văn.
Truyện ngắn của Bảo Ninh luôn nhận được sự quan tâm của đông đảo
bạn đọc và giới nghiên cứu, phê bình. Đã có những bài viết, công trình nghiên

8
cứu tổng hợp, phân tích và phát hiện đáng kể cả về phương diện nội dung và
nghệ thuật trong truyện ngắn Bảo Ninh, tuy nhiên nghệ thuật tự sự trong
truyện ngắn Bảo Ninh vẫn chưa được tìm hiểu một cách thấu đáo. Với mong
muốn góp thêm tiếng nói vào sự khẳng định thành công của truyện ngắn Bảo
Ninh, trên cơ sở kế thừa thành tựu của người đi trước, đề tài mà luận văn đã
chọn Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Bảo Ninh sẽ là cơ hội để chúng tôi
tiến hành tìm hiểu các yếu tố nghệ thuật cũng như những nét độc đáo về nghệ
thuật tự sự trong truyện ngắn của Bảo Ninh trên tinh thần khoa học và toàn
vẹn nhất có thể. Cũng thông qua đề tài này luận văn hướng đến một cách hiểu,
cách lý giải về cái hay, những nét đặc sắc và hấp dẫn của truyện ngắn Bảo
Ninh, từ đó ghi nhận sự đóng góp của Bảo Ninh cho mảng truyện ngắn nói
riêng và cho nền văn học Việt Nam nói chung.
2. Lịch sử vấn đề
Bảo Ninh tên thật là Hoàng Ấu Phương, quê ở xã Bảo Ninh, huyện
Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình nhưng sinh ra tại Nghệ An. Bảo Ninh được

nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về tiểu thuyết và truyện ngắn của
ông. Nhưng các nhà nghiên cứu, phê bình chủ yếu hướng vào tiểu thuyết đầu
tay của ông là Nỗi buồn chiến tranh. Bảo Ninh được biết đến nhiều nhất với
cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh - Tác phẩm đã tạo nên tên tuổi Bảo
Ninh. Sức ảnh hưởng của Nỗi buồn chiến tranh trong đời sống văn học Việt
Nam thời kì Đổi mới là không thể phủ nhận.
Nhà văn Nguyên Ngọc đã từng nhận xét về Nỗi buồn chiến tranh: "Về
mặt nghệ thuật, đó là thành tựu cao nhất của văn học đổi mới"[30,177]. Bài
viết Kĩ thuật dòng ý thức qua Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh của Nguyễn
Đăng Điệp đã nêu lên những cách tân cũng như những đặc sắc nghệ thuật của
tác phẩm, đặc biệt chú ý đến kĩ thuật dựng truyện theo kết cấu dòng ý thức;

10
Đào Duy Hiệp với bài viết Thời gian trong Thân phận của tình yêu đã tìm
hiểu một số vấn đề về nghệ thuật thời gian: thời gian niên biểu, sự sai trật niên
biểu, lối quay ngược, lối đón trước ; Nỗi buồn chiến tranh viết về chiến
tranh thời hậu chiến từ chủ nghĩa anh hùng đến nhu cầu đổi mới bút pháp của
Phạm Xuân Thạch đã đi vào nghiên cứu những mạch ngầm văn bản, thế giới
nhân vật, tìm hiểu cái nhìn mới và cách viết mới về chiến tranh trong thời hậu
chiến, tác giả này cũng có những bài viết khác như: Về tiểu thuyết Nỗi buồn
chiến tranh của Bảo Ninh; Tiểu thuyết Việt Nam đương đại - suy nghĩ từ
những tác phẩm về chủ đề lịch sử.
Ngoài ra còn có rất nhiều bài viết khác về tác phẩm Nỗi buồn chiến
tranh, có thể kể đến: Trần Quốc Hội với "Trình tự" trong thời gian nghệ thuật
của Ăn mày dĩ vãng và Nỗi buồn chiến tranh - tiếp cận từ lý thuyết thời gian
của Genette; Trần Thanh Hà: Từ phân tâm học tìm hiểu tính hiện đại thể hiện
qua tiểu thuyết "Thân phận của tình yêu" của Bảo Ninh; Hoàng Ngọc Hiến:
Những nghịch lý của chiến tranh; Đỗ Văn Khang: Nghĩ gì khi đọc tiểu thuyết
Thân phận của tình yêu?; Phạm Xuân Nguyên: Nghĩ gì khi đọc"Nghĩ gì khi
đọc tiểu thuyết Thân phận của tình yêu?"; Đỗ Đức Hiểu: Những nhịp mạnh

phong của Bảo Ninh ít ai bắt chước được”[25]. Nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào
đưa ra ý kiến: “Cá nhân tôi thích truyện ngắn của Bảo Ninh hơn tiểu thuyết của
anh. Trước hết vì anh có một giọng văn “trắng”, thoạt nghe tưởng như vô cảm,
dường như anh đã thừa hưởng được điều đó từ người cha – nhà ngôn ngữ
Hoàng Tuệ, một người có giọng văn tưng tửng, thâm thuý và rất có duyên.
Bàng bạc trong tiểu thuyết và truyện của Bảo Ninh là nỗi buồn mang ý nghĩa
sâu sắc về khoảng cách thế hệ, về vấn đề cha và con… Điều đó chứng tỏ anh
vẫn thấy được vẻ đẹp thời đã qua và lưu luyến với nó”[20]. Với nhà văn Phong
Điệp thì: “Bảo Ninh là người đặc biệt. Dáng vẻ xù xì, bất cần, và tính cách ngại

12
giao tiếp, không hoạt ngôn của anh dễ khiến người khác cảm thấy khó gần.
Từng có thời gian công tác cùng với anh, nhưng thú thực phải mãi đến lúc anh
rời báo, tôi mới thực sự hiểu được Bảo Ninh. Bảo Ninh là người lịch lãm, tinh tế,
cẩn trọng và sắc sảo. Bên cạnh cuốn tiểu thuyết quá nổi tiếng, thì những truyện
ngắn, những bài báo ký bút danh khác của Bảo Ninh cũng rất đáng đọc. Anh
chưa bao giờ viết ra một bài, một chữ nhảm nhí nào. Từng câu, từng chữ, đều
được anh cân nhắc kỹ càng”[20].
Bên cạnh những bài phê bình, đánh giá thì cũng đã có nhiều khóa luận,
luận văn, công trình nghiên cứu về truyện ngắn Bảo Ninh như: Khóa luận
Nhân vật trong văn xuôi Bảo Ninh của Lê Thị Lan Anh, Đại học Vinh (2007)
đã đi sâu tìm hiểu thế giới nhân vật và nghệ thuật thể hiện nhân vật trong văn
xuôi Bảo Ninh. Luận văn Đề tài chiến tranh chống Mĩ trong truyện ngắn Bảo
Ninh của Lưu Thị Thanh Trà, Đại học Vinh (2006) đã đi sâu vào khai thác
mối quan hệ giữa chiến tranh và nhân cách con người, chiến tranh và tình yêu,
hai điểm nhìn chiến tranh. Luận văn Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn của
Bảo Ninh của Nguyễn Thị Hóa, Đại học Vinh (2010) tìm hiểu truyện ngắn
Bảo Ninh nhìn từ một số đặc điểm nội dung và nghệ thuật. Luận văn Văn xuôi
tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kì Đổi mới của Bùi
Thị Hợi, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (2011). Luận văn Truyện

những sáng tạo và đóng góp của tác giả.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là nghệ thuật tự sự trong
truyện ngắn của Bảo Ninh, thể hiện qua các phương diện người kể chuyện,
điểm nhìn, nhân vật, cốt truyện, thời gian, không gian.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là toàn bộ truyện ngắn của Bảo Ninh,
tập trung chủ yếu ở các tập truyện Trại bảy chú lùn, NXB Văn học, 1987;

14
Khắc dấu mạn thuyền, NXB Văn học, 1996; Lan man trong lúc kẹt xe, NXB
Hội Nhà văn, 2005; Chuyện xưa kết đi, được chưa?, NXB Văn học, 2009;
Bảo Ninh Tác phẩm chọn lọc, NXB Phụ nữ, 2011; Bảo Ninh – những truyện
ngắn, Nhà xuất bản Trẻ, 2013. Để có cái nhìn tổng thể, trọn vẹn về nghệ thuật
tự sự trong truyện ngắn Bảo Ninh, chúng tôi có liên hệ, so sánh đối chiếu với
tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của ông, cũng như những sáng tác của một
số nhà văn khác.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi vận dụng
các phương pháp chủ yếu sau:
5.1. Phương pháp phân tích - tổng hợp:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp giúp cho việc nghiên cứu, phân tích,
cắt nghĩa, lý giải các vấn đề, các chi tiết nghệ thuật từ đó chúng tôi đi đến
những kết luận mang tính tổng hợp nhất, khái quát nhất về nghệ thuật tự sự
trong truyện ngắn Bảo Ninh.
5.2. Phương pháp thống kê - phân loại
- Phương pháp thống kê, phân loại giúp cho việc phân loại, tìm hiểu các
dạng nhân vật, người kể chuyện, điểm nhìn, không gian, thời gian, cốt truyện
khi nghiên cứu nghệ thuật tự sự truyện ngắn Bảo Ninh.
5.3. Phương pháp đối chiếu - so sánh
- Phương pháp đối chiếu - so sánh giúp cho việc so sánh trong tập

NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: NGƢỜI KỂ CHUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TỰ SỰ
TRONG TRUYỆN NGẮN BẢO NINH
1.1. Ngƣời kể chuyện
1.1.1. Khái niệm người kể chuyện
Khi nhắc đến nghệ thuật tự sự người ta thường nhắc đến nhiều khái
niệm trong đó có khái niệm Người kể chuyện. Người kể chuyện là một trong
những khái niệm trung tâm của tự sự học. Về khái niệm Người kể chuyện
hiện vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau chưa thống nhất, có người gọi đó là
Người kể chuyện, có người lại gọi đó là Người trần thuật. Trong khuôn khổ
của luận văn này, chúng tôi xét hai khái niệm này trên cơ sở đồng nghĩa.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì Người kể chuyện là "Hình tượng
ước lệ về người trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu
chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm. Đó có thể là hình
tượng của chính tác giả (ví dụ: "tôi" trong Đôi mắt), dĩ nhiên không nên đồng
nhất hoàn toàn với tác giả ngoài đời; có thể là một nhân vật đặc biệt do tác giả
sáng tạo ra (ví dụ: người điên trong Nhật kí người điên của Lỗ Tấn); có thể là
một người biết một câu chuyện nào đó, một tác phẩm có thể có một hoặc
nhiều người kể chuyện. Hình tượng người kể chuyện đem lại cho tác phẩm
một cái nhìn và một sự đánh giá bổ sung về mặt tâm lý, nghề nghiệp hay lập
trường xã hội cho cái nhìn tác giả, làm cho sự trình bày, tái tạo con người và
đời sống trong tác phẩm thêm phong phú và nhiều phối cảnh"[15,221].
Trong giáo trình Lý luận văn học thì: "Người kể chuyện (Người trần
thuật) là yếu tố thuộc thế giới miêu tả. Đó là một người do nhà văn tạo ra để
thay thế mình thực hiện hành vi trần thuật Người kể chuyện trong văn bản
ẩn mình trong dòng chữ. Người kể chuyện ấy có thể được kể bằng ngôi thứ ba,
ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai. Và chỉ có thể kể được khi nào họ cảm thấy như

17
người trong cuộc, người chứng kiến hay người biết trước sự việc xảy ra bằng

tượng không thể có trần thuật thiếu người kể chuyện. Người kể chuyện
không nói như các nhân vật tham thoại khác mà kể chuyện. Như vậy, kết hợp
đồng thời trong mình cả nhân vật và người kể, nhân vật mà nhân danh nó
cuốn sách được kể có một vị thế hoàn toàn đặc biệt"[53,116-117].
Người kể chuyện là một trong những hình thức thể hiện quan điểm của
tác giả trong tác phẩm: "Trong tác phẩm tự sự, vấn đề người kể chuyện có ý
nghĩa hết sức quan trọng. Nhờ hình thức tường thuật, tác giả có thể trực tiếp
phát biểu những cảm nghĩ, nhận xét của mình về nhân vật, về sự kiện được
mô tả và về cuộc đời chung"[59,154]. Người kể chuyện trong tác phẩm văn
học, đôi khi lại chính là hiện thân của tác giả, nhưng không hoàn toàn đồng
nhất. Qua người kể chuyện ta có thể thấy được tư tưởng, quan điểm của tác
giả nhưng không thể đồng nhất người kể chuyện với chính bản thân tác giả.
Người kể chuyện và tác giả là hai thuật ngữ được phân biệt bởi những
yếu tố riêng biệt nhưng lại quy định lẫn nhau: "Vùng giao thoa của hai phạm
trù này tương đối lớn, vì vậy, trong thực tế đã xảy ra không ít nhầm lẫn. Nhiều
nhà nghiên cứu đồng nhất người kể chuyện với tác giả. Ở thế giới truyện kể,
người kể chuyện xuất hiện trong cùng bậc giao tiếp với người nghe chuyện.
Anh ta thực chất là những "sinh thể" trên giấy, tồn tại trong thế giới hư cấu và
tưởng tượng. Người kể chuyện là nhân vật do tác giả sáng tạo ra có nhiệm vụ
tổ chức kết cấu tác phẩm và môi giới, dẫn dắt người đọc tiếp cận văn bản.
Trong khi đó, tác giả là chủ thể sáng tạo. Anh ta ở bên ngoài tác phẩm. Như
vậy, việc đồng nhất hoặc tách biệt hoàn toàn hai yếu tố thuộc hai bậc giao tiếp
khác nhau sẽ không thỏa đáng, hạn chế khả năng hiểu sâu các vấn đề đặt ra
trong quá trình giải mã tác phẩm"[27]. Lê Ngọc Trà viết: "Người kể chuyện là
thuật ngữ chỉ nhân vật đóng vai trò chủ thể của lời kể chuyện, là người đứng

19
ra kể trong tác phẩm văn học"; "Người kể chuyện và tác giả không phải là
một. Không nên đồng nhất người kể chuyện với tác giả, ngay cả khi tác giả
xưng "tôi" đứng ra trần thuật câu chuyện và hoàn toàn đứng ngoài sự vận

chuyện chỉ là người chứng kiến, người đồng hành kể lại câu chuyện của nhân
vật chính. Với việc sử dụng người kể chuyện ngôi thứ nhất, nhà văn thường
tạo được sự tin cậy nơi người đọc đối với câu chuyện mà mình đang kể. Điểm
nhìn của người kể chuyện ngôi thứ nhất hầu hết là điểm nhìn hướng nội,
mang tính chủ quan, cá nhân. Thông qua lời người kể chuyện, độc giả có thể
dễ dàng đi sâu vào thế giới nội tâm của nhân vật, tạo cảm giác như sống cùng
nhân vật, trải nghiệm những trạng thái tinh thần, những cung bậc cảm xúc
cùng với nhân vật. Khoảng cách giữa người kể chuyện và nhân vật do đó
cũng được thu hẹp.
Với những tác phẩm người kể chuyện thuần túy ở ngôi thứ nhất, đó là
cái tôi kể về chính câu chuyện của mình, ở đó người kể chuyện và nhân vật là
một, người kể chuyện hiện diện như một nhân vật trong truyện và tham gia
vào các sự kiện, biến cố của câu chuyện, đó là câu chuyện do chính nhân vật
đã từng trải qua, chứng kiến và quan sát. Người kể chuyện ngôi thứ nhất có
khả năng khai phá chiều sâu tâm hồn, thâm nhập vào những vùng bí mật ẩn
sâu trong tiềm thức con người. Người kể chuyện ngôi thứ nhất xưng tôi trong
Khắc dấu mạn thuyền kể về kỉ niệm mà mình đã từng trải qua với một cô gái,
cuộc gặp gỡ định mệnh, ngắn ngủi nhưng đầy kịch tính và dấu ấn thì còn mãi,
khắc sâu trong tâm trí người kể chuyện. Hà Nội lúc không giờ là câu chuyện
của nhân vật tôi kể về ngôi nhà số 4, nơi sinh sống của năm hộ gia đình hơn
ba chục năm về trước, về đêm cuối năm năm Giáp Thìn dưới sân ngôi nhà với
lũ trẻ mười ba, mười bốn tuổi trong đó có tôi quây quần xung quanh bếp lửa
với nồi bánh chưng cùng với ông họa sĩ Năm Tín quê ở tận Cà Mau đi họp

21
đồng hương ở câu lạc bộ Thống Nhất trở về rẽ vào, cùng với chị Giang, với
anh Trung và anh Vinh Pét xồm ẩu đả nhau vì chị Giang Đó là câu chuyện
đưa tiễn tân binh ngày mùng 5 tết, là câu chuyện nhân vật tôi nhập ngũ, rồi trở
về sau chiến tranh, về thăm chị Giang sau ba mươi tư năm trời xa biệt. Chị
Giang cho xem bức ảnh họa sĩ Năm Tín vẽ cảnh tượng ở sân ngôi nhà số 4

thôn nghèo khó làng Mơ trên đồi Giàng, của con cái nhà cán bộ trong thời kì
sơ tán Tất cả được hiện lên một cách chân thực qua những dòng cảm nhận
và hồi tưởng của người kể chuyện xưng tôi. Với cái tôi kí ức, người kể
chuyện có thể khơi dậy những vùng kí ức đã bị lãng quên. Không chỉ cho
người đọc thấy những gì mà mình kể, người kể chuyện còn cho thấy chính
bản thân mình. Người kể chuyện đồng thời cũng là nhân vật trung tâm của
câu chuyện đang được kể lại và kí ức, dòng tâm trạng của nhân vật chính là
sợi dây kết nối câu chuyện, làm cho những sự kiện, tình tiết trở nên gắn kết.
Hình thức người kể chuyện ngôi thứ nhất hiện diện như một nhân vật
trong truyện, trực tiếp tham gia và hiện hữu như một phần trong thế giới câu
chuyện đang được kể lại, tạo được sự tin cậy nơi người đọc về những sự việc
và con người được kể đến trong câu chuyện. Người kể chuyện đóng vai trò
quan trọng trong việc bộc lộ tính cách nhân vật. Với việc kể chuyện từ ngôi
thứ nhất, nhà văn giúp người đọc đi sâu vào thế giới nội tâm nhân vật, khai
thác thế giới tâm lý của nhân vật một cách tự nhiên và chân thực nhất. Đây
cũng chính là một cách để nhà văn khám phá chính bản thân mình. Người kể
chuyện xưng tôi trong Lá thư từ Quí Sửu bên cạnh việc kể lại những gì mình
đã trải qua còn bộc lộ nỗi lòng, tâm sự của bản thân: "Từ bấy tới nay, thời
gian đã mất đi nhiều năm, nhưng nỗi đau Quí Sửu vẫn mãi còn như là một hạt
sạn trong kí ức tôi. Những ngày Tết, ban đêm, tôi vẫn thường ngược luồng
thời gian trở về với cao điểm đồi 400, nhìn thấy lại mặt sông Đác Bờ Là lấp

23
lánh ánh phản quang những buổi mai hồng, và dù là trong mơ mà lòng lại
nhói đau khi gặp lại anh em đồng đội đã khuất"[40,156]; "Thỉnh thoảng, trong
vùng khuất nẻo nhất của những giấc chiêm bao, tôi cũng thoáng thấy Duy. Tôi
vẫn luôn nhớ đến anh ta. Năm tháng đã khiến cho những kỉ niệm của tôi về
con người ấy phần nào biến hình đi, không còn lại sự khủng khiếp và lòng
căm thù, chỉ còn lại nỗi buồn thương"[40,156-157] Người đọc như trải
nghiệm cùng nhân vật, sống với những cảm xúc, tâm trạng của nhân vật. Với

hạn như truyện Tiếng vĩ cầm của quân xâm lăng, người kể chuyện xưng tôi
nhưng lại kể lại chuyện của ông già Me xừ. Người kể chuyện ở đây chỉ đóng
vai trò dẫn dắt câu chuyện để nó diễn ra một cách liền mạch, đồng thời người
kể chuyện cũng nêu ra những cảm nhận của riêng mình, còn lại toàn bộ nội
dung chính của câu chuyện thì lại do Me xừ kể lại qua những hồi ức, những kỉ
niệm của chính nhân vật: " Sự xuất thần vô cớ, sự bộc bạch bỗng dưng của
ông già không làm tôi ngạc nhiên. Tôi cứ bình thản nghe. Nghe thì gì mà
không được. Về cái khoản nghe người đời tâm sự thì tôi như là có năng khiếu
bẩm sinh ( ) Đến đầu phố Dã Tượng, tôi và Me xừ dừng lại ở một quán cà
phê vỉa hè. Chúng tôi ngồi, im lặng, thìa khuấy lanh canh. Bên Hỏa Lò, công
trường xây dựng khách sạn vẫn đang ầm ì làm lụng ( ) Buông tiếng thở dài,
ông già nói tiếp, chậm dãi ( ) Xừ Bôn nhỏm người khỏi ghế, đưa tay chỉ sâu
vào khúc đường Thợ Nhuộm mà tôi với ông đã đi dọc qua vừa nãy ( ) Me xừ
khịt khịt mũi ra chiều tự phụ ( ) Cốc cà phê đã cạn, và ngồi mãi đã phát
nhàm nhưng ông già vẫn chưa thấy nhàm câu chuyện ( ) Ông già chật vật nới
nút cà vạt. Nói nhiều quá phát mệt, cái sọ hói khô khốc của ông loáng mồ
hôi."[40,234-237]
Với hình thức người kể chuyện ngôi thứ nhất, câu chuyện mà người kể
chuyện đang kể dù kể về bản thân mình hay kể về người khác thì cũng chứa

25
đựng trong đó những suy tư, chiêm nghiệm về cuộc đời và số phận con người
trong dòng chảy lịch sử. Người kể chuyện không chỉ thể hiện những cái bề
nổi, hiện hữu mà còn khám phá, đi sâu vào thế giới nội tâm nhân vật. Với việc
trần thuật từ ngôi thứ nhất, Bảo Ninh đã tạo cho người đọc cảm giác chân thật
với độ tin cậy cao, tạo sức sống nội tại cho nhân vật, nhân vật không ngần
ngại bộc lộ những ước mơ thầm kín, những nỗi niềm riêng tư, những ước mơ,
khát vọng qua đó người đọc có thể khám phá ra chiều sâu ẩn chứa bên trong
mỗi con người.
1.1.2.2. Người kể chuyện ngôi thứ ba


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status