Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn nguyễn thị thu huệ - Pdf 32

Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng Đại học Vinh
===ôàô===

Trần Thị Dung

Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn
nguyễn thị thu huệ

6
6
6
7

Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số:
60.22.32

luận văn thạc sĩ ngữ văn

Ngời hớng dẫn khoa học:
Ts. Hoàng mạnh hùng

Vinh -2008
Mục lục

Mở đầu
1.
Lí do chọn đề tài
2.
Lịch sử vấn đề

1
2
4
4
5
5
5


Chơng 1. Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ trên hành trình đổi mới
văn xuôi đơng đại
1.1. Bối cảnh lịch sử và sự chuyển đổi t duy nghệ thuật của văn xuôi đơng đại 32
32
1.1.1. Bối cảnh lịch sử - xã hội
32
1.1.2. Sự chuyển đổi t duy nghệ thuật
1.2. Vài nét về thể loại truyện ngắn và những thành tựu chủ yếu của truyện ngắn
36
Việt Nam thời kỳ đổi mới
45
1.2.1. Truyện ngắn và u thế của thể loại
1.2.2. Những thành tựu chủ yếu của truyện ngắn Việt Nam thời kỳ đổi mới 45
1.3. Nguyễn Thị Thu Huệ trong sự phát triển truyện ngắn thời kỳ đổi mới
52
1.3.1. Hành trình sáng tạo của Nguyễn Thị Thu Huệ
1.3.2. Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Thi Thu Huệ
74
Chơng 2. Nghệ thuật tổ chức cốt truyện và xây dựng nhân vật trong
94
truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ

15
3.1.3. Đặc điểm lời văn truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ.
121
18
3.2. Giọng điệu trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
124
18
3.2.1. Khái niệm giọng điệu
21
136
3.2.2. Giọng điệu chủ yếu của văn xuôi thời đổi mới
23
3.2.3. Các sắc thái giọng điệu truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
138
25
Kết luận
25
Tài liệu tham khảo
27
27
2
30


Mở đầu
Lý do chọn đề tài
1.1. Nghệ thuật tự sự là đối tợng nghiên cứu đặc thù của tự sự học.
Trong tiến trình phát triển của văn học hiện đại, nghệ thuật tự sự ngày càng thu
hút đợc sự quan tâm của giới nghiên cứu. Nghệ thuật tự sự có nội hàm rất rộng
bao gồm nhiều vấn đề nh: cấu trúc văn bản tự sự, các phơng tiện, các thủ pháp đợc sử dụng mà trong đó mỗi văn bản tự sự là một sản phẩm của một chủ thể sáng



truyện ngắn sau 1975. Đó cũng là lý do thôi thúc chúng tôi chọn đề tài: "Nghệ
thuật tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ".
2.
Lịch sử vấn đề
Nguyễn Thị Thu Huệ là một trong những nhà văn tiêu biểu của nền văn
xuôi đơng đại. Chị là một nhà văn tài hoa, viết đều, viết khoẻ. 27 tuổi chị đã từng
đợc nhiều giải thởng: Giải thởng của báo Tiền phong trong cuộc thi tác phẩm
tuổi xanh năm 1993, cùng năm đó Thu Huệ giành giải A trong cuộc thi viết về Hà
Nội Năm 1994 là năm thành công của Thu Huệ với 2 giải thởng lớn: Nhất cuộc
thi Tạp chí Văn nghệ cho chùm tác phẩm gồm 5 truyện ngắn và tặng thởng của
hội nhà văn cho tập Hậu thiên đờng. Đến với văn chơng khá sớm cho đến nay
Nguyễn Thị Thu Huệ đã cho ra mắt bạn đọc nhiều tập truyện ngắn.
Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ đã thu hút đợc sự quan tâm của độc giả
cũng nh giới nghiên cứu, phê bình. Tuy nhiên do nhiều lẽ, những bài bình luận
nghiên cứu về truyện ngắn của nhà văn này cha nhiều. Riêng về nghệ thuật tự sự
truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ dờng nh cha có công trình nào đề cập đến.
nghiên cứu về tác phẩm của chị có thể kể đến một số bài viết sau:
Bùi Việt Thắng trong loạt bài viết: "Tản mạn về những truyện ngắn của
những cây bút trẻ" trên báo Văn nghệ số 43 ra ngày 23/10/1993, đã chỉ ra những
u điểm và hạn chế trong sáng tác của nhà văn nữ. Theo Ông "làm nên đặc trng
của những cây bút trẻ chính là các nhu cầu say mê đợc tham dự, đợc hoà nhập
vào những nỗi niềm đau khổ và hy vọng của con ngời". Ngoài ra khi giới thiệu
cuốn Tứ tử trình làng, ông đã còn có bài viết "Truyện ngắn bốn cây bút nữ".
Trên báo Văn nghệ trẻ ra ngày 25/3/1996 Đoàn Hơng cũng có bài"Những
ngôi sao nớc mắt". Tuy nhiên ở bài viết này tác giả cũng nêu ra đợc một số khía
cạnh trong sáng tác của Thu Huệ. Tác giả đã đánh giá Thu Huệ là một cây bút tài
hoa với cách viết của Thu Huệ nh "lên đồng" mang khuynh hớng hiện đại. Mặc dù
cha trở thành hiện tợng của văn học nớc nhà song Thu Huệ đã có đóng góp trên

bài viết mới chỉ dừng lại ở những bài viết ngắn chứ cha có một công trình nào đi
sâu vào nghiên cứu mang tính chất quy mô. Mặc dù các ý kiến đánh giá của các
tác giả có vị trí trong giới nghiên cứu và phê bình đó đều xác đáng tuy nhiên vẫn
cha phản ánh hết tài năng của chị. ở đề tài này, tiếp thu tất cả các ý kiến đánh giá
của giới nghiên cứu, phê bình và bằng những cố gắng của mình, chúng tôi mong
muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu Nguyễn Thị Thu Huệ bằng
việc tìm hiểu nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn của Chị.
3.
Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tợng
Đối tợng nghiên cứu của luận văn là: "Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn
Nguyễn Thị Thu Huệ" thể hiện qua các phơng diện lời văn và giọng điệu, nghệ
thuật tổ chức cốt truyện và xây dựng nhân vật.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Nguyễn Thị Thu Huệ không chỉ sáng tác thể loại truyện ngắn mà còn sáng
tác nhiều thể loại khác nh: tiểu thuyết, kịch bản văn học. Nhng thành công nhất
là thể loại truyện ngắn. Tuy nhiên trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ chúng tôi
5


chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở thể loại truyện ngắn trên phơng diện cụ thể.
giới hạn khảo sát của chúng tôi là:
37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, Nxb Văn học, 2006.
4.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài này hớng tới 3 nhiệm vụ
1Tìm hiểu về truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ trên hành trình đổi
mới văn xuôi đơng đại.
2Tìm hiểu về nghệ thuật tổ chức cốt truyện và xây dựng nhân vật
trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ.

6


Chơng 2. Nghệ thuật tổ chức cốt truyện và xây dựng nhân vật trong
truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ.
Chơng 3. Lời văn và giọng điệu trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ.
Chơng 1
Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ trên hành trình đổi
mới văn xuôi đơng đại
1.1. Bối cảnh lịch sử và sự chuyển đổi t duy nghệ thuật của văn xuôi đơng đại
1.1.1. Bối cảnh lịch sử - xã hội
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nớc ta chấm dứt nỗi đau chia cắt.
Tổ quốc thống nhất. Nhân dân bớc vào thời kỳ hoà bình, xây dựng chủ nghĩa xã
hội trên phạm vi cả nớc. Bên cạnh những thuận lợi cơ bản ấy, đất nớc, xã hội, con
ngời Việt Nam bắt đầu đối mặt với tình hình xã hội đầy biến động, xáo trộn và
phức tạp. Tiếng súng không ám ảnh mọi ngời nhng hậu quả của cuộc chiến tranh
vẫn còn đó với những khó khăn, thử thách chồng chất của thời kỳ hậu chiến. Ai
cũng đều thấm thía đợc cái giá phải trả cho độc lập, tự do của dân tộc.Chính vì
vậy, mỗi cá nhân phải suy nghĩ, trăn trở, nghiền ngẫm nhận thức lại vấn đề cuộc
sống. Từ sau thời điểm 1986 khi diễn ra Đại hội VI của Đảng, đất nớc đã chính
thức bớc vào thì kỳ đổi mới. Tất cả các đời sống của xã hội đều có những biến
chuyển. Cuộc sống của toàn xã hội, cuộc sống của mỗi con ngời trở nên phong
phú, đa dạng, toàn diện, và cũng phức tạp hơn.
Đại hội Đảng VI năm 1986 có ý nghĩa trọng đại đánh dấu một bớc ngoặt
mới cho cách mạng Việt Nam. Đại hội đã tìm ra lối thoát cho cuộc khủng hoảng
kinh tế - xã hội, thể hiện quan điểm đổi mới toàn diện đất nớc. Cũng ở Đại hội
này, Đảng kêu gọi toàn Đảng, toàn dân đổi mới t duy nhìn thẳng vào hiện thực đất
nớc và đời sống của nhân dân để tìm đờng lối đúng đắn. Đây cũng là thời kỳ mở
cửa, phát triển của nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ
chế độ quan liêu bao cấp.

nghiệp đổi mới, nhiều vấn đề cơ bản của văn học cũng đợc nhận thức lại một
cách đầy đủ, toàn diện và sâu sắc hơn: mối quan hệ văn học nghệ thuật và chính
trị, vai trò, ý nghĩa của nó đối với con ngời và đời sống. Đặc biệt nghị quyết 05
của Bộ Chính trị Đảng cộng sản Việt Nam năm (1987) về "Đổi mới và năng cao
trình độ quản lý văn học nghệ thuật và văn hoá, phát huy khả năng sáng tạo, đa
văn học nghệ thuật và văn hoá phát triển lên một bớc mới" và tinh thần "cởi
trói" cho văn học nghệ thuật tạo nên một luồng sinh khí mới trong văn học nói
chung, văn xuôi nói riêng phát triển với những tố chất mới so với thời kỳ trớc đó là thời kỳ mà những tác phẩm hay nhất là những tác phẩm viết về chiến tranh,
đó là thế giới cao cả, cái đẹp đang vơn lên trên sự tàn phá huỷ diệt của bom đạn,
là thế giới của lòng dũng cảm, sự thuỷ chung. Nhng khi biến động của xã hội
luôn tác động đến cuộc sống, số phận con ngời đổi thay, những vấn đề về thế sự
và nhân sinh luôn đặt ra những câu hỏi dày vò lơng tâm của mỗi con ngời thì ngời viết cũng đã có những suy nghĩ về thái độ thích hợp. Nếu trớc đây con ngời là
đối tợng hầu nh chỉ để ngợi ca hay phê phán thì bây giờ đợc nhà văn đi sâu phản
8


ánh thế giới nội tâm, đi sâu vào số số phận cụ thể, đời thờng mà vẫn mang ý
nghĩa nhân văn sâu sắc.
Cái mới, cái cách tân trớc tiên có thể kể đến của văn xuôi sau 1975 là ở
bình diện t duy nghệ thuật. Văn xuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng sau
1975 chuyển dần từ t duy sử thi sang t duy tiểu thuyết. Hiện thực đời sống thay
đổi khác trớc rất nhiều, đòi hỏi các nhà văn cần có cách tiếp cận hiện thực phù
hợp. Văn học lúc này không chỉ chú trọng vào hai đề tài: Tổ Quốc và CNXH nh
trớc nữa.Một mảng hiện thực lớn hầu nh bị bỏ quên trớc đây nay đợc đặc biệt chú
ý đó là: vấn đề đời t, đời thờng, đạo đức, số phận cá nhân nhất là tình yêu nam
nữ. Mọi vấn đề của cuộc sống hay nói cách khác tất cả những gì liên quan đến
con ngời đều đợc nhà văn đa vào văn học. Từ những vấn đề lớn nh lý tởng sống,
đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng CNXH đến những vấn đề nhỏ nhặt trong
đời sống hàng ngày đều đợc các nhà văn để ý đến. Cảm hứng sử thi thời kỳ 1945
- 1975 nghiêng về phản ánh các sự kiện có ý nghĩa lịch sử và có tính chất toàn

cùng tồn tại trong một con ngời. Nhân vật trong sáng tác ở giai đoạn này đã có cá
tính không hề giống ai nhng lại hiện hữu trong muôn mặt của cuộc sống đời thờng. Một khía cạnh mới trong tính cách con ngời đời thờng đợc các nhà văn 1975
khám phá khai thác đó là những con ngời đợc nhìn nhận trong nhiều mối quan hệ
phong phú và phức tạp. Bên cạnh đó, quan niệm nghệ thuật về con ngời đổi mới
khiến ngời viết phải mở rộng chân trời tìm kiếm của mình đến những góc khuất
và nhìn thấy ngoài con ngời xã hội kinh điển còn có con ngời cá thể, con ngời số
phận Có thể nói đây là thời kỳ mà trong văn học con ngời đợc soi chiếu từ rất
nhiều khía cạnh.
Nh vậy, cùng với sự thay đổi lịch sử- xã hội là sự chuyển đổi về t duy nghệ
thuật và cảm hứng sáng tạo. Văn xuôi nói chung và truyện ngắn sau 1975 nói
riêng đã bổ sung một mảng hiện thực to lớn trong đời sống văn học mà trớc đây
hầu nh bị bỏ quên. Chính vì vậy mà hiện thực cuộc sống trong các trang văn đầy
đủ hơn, phong phú hơn. Bởi thế mà văn học lúc này"đời hơn", "thực hơn", nó
mang màu sắc của thời kỳ đổi mới.
1.2. Vài nét về thể loại truyện ngắn và những thành tựu của truyện
ngắn Việt Nam thời kỳ đổi mới
1.2.1. Truyện ngắn và u thế của thể loại
1.2.1.1. Về khái niệm truyện ngắn
Xung quanh khái niệm truyện ngắn, có rất nhiều định nghĩa về nó. Nếu
thống kê đầy đủ có đến cả hàng trăm định nghĩa cho thể loại "tự sự cỡ nhỏ " này.
Trong Từ điển văn học truyện ngắn đợc định nghĩa nh sau: "Hình thức tự
loại nhỏ. Truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lợng nhỏ hơn, tập trung mô tả
một mảnh của cuộc sống, một biến cố hay một vài biến cố xảy ra trong một giai
đoạn nào đó của đời sống nhân vật, thể hiện một mặt nào đó của vấn đề xã hội.
Cốt truyện của truyện ngắn thờng diễn ra trong một không gian, thời gian hạn
chế. Truyện ngắn đợc viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ
10


nên đặc điểm của truyện ngắn là tính ngắn gọn. Để thể hiện nổi bật t tởng, chủ

Với hình thức gọn nhẹ, truyện ngắn luôn bắt kịp những vận động của xã
hội và tái hiện đợc mọi biến thái dù rất tinh vi của đời sống con ngời. Kể cả trong
sự phát triển đến chóng mặt của các nghành khoa học và công nghệ thì truyện
ngắn vẫn là một thể loại có khả năng nắm bắt nhanh nhạy và mô tả một cách sát
thực những bớc đi ấy của con ngời. Ngời đọc ngày nay không có nhiều thời gian
để đọc những tác phẩm có dung lợng lớn mà thay vào đó một mặt họ vẫn tìm
kiếm đến món ăn tinh thần có giá trị văn hoá cao nhng mặt khác nó phải đảm bảo
tính thời sự, ngắn gọn và súc tích.
Truyện ngắn là một thể loại rất năng động, có khả năng đáp ứng những đòi
hỏi ngày càng cao của cuộc sống. Tuy là một thể loại "tự sự cỡ nhỏ" nhng truyện
ngắn là thể loại phát hiện đời sống theo chiều sâu vì thế mà dung lợng của nó rất
lớn. Nhà văn Nguyên Ngọc đã cho rằng: '' Trong độ ba trang mấy nghìn chữ mà đã
rõ mặt của một cuộc đời, một kiếp ngời, một thời đại. Các truyện ngắn bây giờ rất
nặng, dung lợng của nó là dung lợng của cả cuốn tiểu thuyết''.
Truyện ngắn còn là một thể loại truyện gắn chặt chẽ với báo chí. Đây là một
u thế, bởi hiện tại báo chí đang bùng nổ với tốc độ nhanh, ngời đọc dễ hình thành
thói quen đọc một câu truyện trong một khoảng thời gian ngắn. Điều này tạo
điều kiện hết sức thuận lợi để các cây bút trẻ khẳng định tài năng. Với hình thức
ngọn nhẹ, truyện ngắn luôn bắt kịp những vận động, biến đổi của xã hội và tái
hiện đợc mọi biến thái của đời sống với muôn hình, muôn vẻ. Vì vậy tuy có hình
thức nhỏ ngọn, nhng truyện ngắn lại có ''sức chứa'' lớn và đặc biệt nhanh nhạy
với sự phát triển không ngừng của xã hội. Do đó truyện ngắn luôn đáp ứng đợc
nhu cầu tâm lý và thị hiếu của độc giả, đồng thời nó cũng là thể loại thu hút đ ợc
rất nhiều thế hệ những ngời cầm bút, ngời đến trớc, kẻ đến sau tập hợp thành một
14


lực lợng hùng hậu, từ các bậc lão thành nh: Tô Hoài, Bùi Hiển, Nguyễn Minh
Châu, Nguyễn khải, Ma Văn Kháng cho đến Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang
Lập, Chu Lai, Hồ Anh TháiHơn nữa truyện ngắn lại là thể loại gần gủi, gắn bó

Truyện ngắn hôm nay ngày càng tăng cờng cốt truyện bên trong, bộc lộ
trạng thái bên trong tâm tởng của nhân vật chính, giảm bớt cốt truyện miêu tả
hành động bên ngoài. Cốt truyện với đầy đủ chi tiết, sự kiện không còn chiếm giữ
vai trò cơ bản mà lùi xuống hàng thứ yếu sau tính cách. Quan niệm về cốt truyện
co giãn hơn, việc phân tích nội tâm trở thành phơng tiện nghệ thuật chủ yếu của
cách xây dựng truyện đơng đại nh: Khách ở quê ra của Nguyễn Minh Châu,
Hậu thiên đờng của Nguyễn Thị Thu HuệMột số cây bút nữ đã góp phần làm
nên sự đa dạng của truyện ngắn sau 1975 bằng năng lực biểu cảm cuộc sống qua
thế giới tâm hồn theo dòng tâm trạng của nhân vật trong các truyện nh : Minu
xinh đẹp, Mùa đông ấm áp của Nguyễn Thị Thu Huệ
16


Từ sau 1975 xuất hiện nhiều kiểu kết cấu cốt truyện theo xu hớng lắp ghép
"liên văn bản". Bố cục câu chuyện không diễn biến theo trình tự của thời gian,
không gian mà đảo lộn, tạo ra sự xê dịch, di chuyển của các điểm nhìn.
Kết cấu theo xu hớng nói trên, truyện ngắn đã không chịu đầu hàng trớc
hiện thực phức tạp, đa chiều đầy biến động của cuộc sống hôm nay. Đây là một
biểu hiện đổi mới so với bút pháp truyền thống. Và có thể nói, với khả năng biến
hoá linh hoạt trong cách xây dựng cốt truyện, truyện ngắn là thể loại thuận lợi để
biểu đạt một cách tự nhiên, cụ thể những nỗi niềm, những tâm t thầm kín đầy bí
ẩn của con ngời.
1.2.2.2. Đổi mới trong cách nhìn nghệ thuật về con ngời
Quan niệm nghệ thuật về con ngời là yếu tố chi phối các yếu tố khác của
nghệ thuật biểu hiện. Mỗi giai đoạn lịch sử, văn học lại gắn với quan niệm nghệ
thuật về con ngời. Văn học từ sau 1975 đã chuyển từ t duy sử thi sang t duy tiểu
thuyết, từ cảm hứng cao cả, hào hùng sang cảm hứng đời thờng, thế sự. Truyện
ngắn đã phát huy đợc khả năng tiếp cận và phản ánh hiện thực con ngời trong
giai đoạn mới một cách nhanh nhạy và sắc bém.
Với một khuôn khổ nhỏ bé, truyện ngắn có khả năng khai thác sâu những

đời sống bình thờng, làm nên thế giới nhân vật đa dạng và phức tạp. Bằng nhiều
cách khai thác và tiếp cận khác nhau, các nhà văn đã hớng vào thế giới nội cảm,
khám phá chiều sâu tâm linh, thấy đợc ở mỗi cá nhân những cung bậc tình cảm:
vui buồn, hạnh phúc, đau khổ, những hy vọng, khao khát, đam mê. ở giai đoạn
lịch sử mới, ngời cầm bút có những chuyển hớng trong nhận thức, t duy về bản
thể con ngời. Con ngời xuất hiện trong sáng tác của các truyện ngắn là con ngời
trần thế ở cõi nhân gian với tất cả chất ngời tự nhiên của nó: tốt đẹp - xấu xa,
thiện -ác, yêu - ghét, ánh sáng - bóng tối, cao thợng - thấp hèn, hữu thức - vô
thức. ở đó con ngời đứng trên đờng phân giới mỏng manh giữa hai cực đối lập
vừa chối bỏ lại vừa chung sống với nhau nh các truyện: Cỏ lau, Bức tranh của
Nguyễn Minh Châu.
Hớng tới hiện thực về con ngời, thông qua từng số phận cá nhân, các nhà
văn đã xới lên những vấn đề nhức nhối, bức xúc của con ngời trong hiện thực đơng đại. Con ngời trong truyện ngắn hôm nay không còn là "những đời ngời rất
nhạt" vì "không có những bất ngờ, may rủi" mà là những con ngời "đầy những
vết đập xoá trên thân thể, trong tâm hồn". Nhà văn bộc lộ những kinh nghiệm
sống đợc chắt lọc, vắt kiệt trên từng câu chữ, trang viết. Chủ thể sáng tạo không
còn ở vị trí lấn át trùm lấp nhân vật mà bình đẳng, khách quan trớc sự vận động
tự thân của nhân vật trong các truyện: Cỏ lau, Bức tranh, Ngời đàn bà trên
chuyến tàu tốc hành , Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu, Bớc qua lời
nguyền của Tạ Duy Anh.
Truyện ngắn sau 1975 đã quan niệm con ngời cá nhân nh "một nhân cách,
một nhân cách kiểu mới". Nhà văn đã nhận con ngời đích thực với nhiều kiểu
dáng nhân vật, biểu hiện đa dạng nhu cầu tự ý thức, sự hoà hợp giữa con ngời tự
nhiên, con ngời xã hội và con ngời tâm linh. Trên địa hạt của truyện ngắn, nhà
văn đã khắc hoạ chân dung những con ngời vừa đẹp đẽ, cao thợng, vừa đời thờng,
18


trần thế, luôn khát khao cái đẹp và hớng tới cái thiện. Đó chính là nét nổi bật
mang đậm ý nghĩa nhân văn khi nhìn nhận con ngời, tạo nên tiếng

luận, lý lẽ, câu văn dàn trải, bề bộn với những từ ngữ trừu tợng, chính trị. Lời thoại
nghiêng về lý sự, bàn cãi. Ngôn ngữ của truyện ngắn hôm nay là ngôn ngữ đời th19


ờng. Quan tâm đến con ngời đời thờng trong các mối quan hệ xã hội, truyện ngắn đã
đa vào thể loại tiếng nói đa âm, phức tạp của cuộc sống ngày thờng.
Bên cạnh thủ pháp đối thoại, độc thoại nội tâm cũng đã đóng góp vai trò
chủ yếu trong cách thức diễn đạt, giúp ngời đọc khám phá mạch ngầm văn bản.
Độc thoại nội tâm góp phần cơi nới khuôn khổ truyện ngắn, đi sâu vào bản thể
con ngời với những hồi tởng, tự bạch, dòng ý thứcđã giúp con ngời bộc lộ chính
mình ở khía cạnh con ngời vô thức, con ngời tâm linh.
Cùng với loại hình nghệ thuật khác, truyện ngắn từ sau 1975 đã vận động
và phát triển theo quy luật tất yếu của văn học, đáp ứng kịp thời sự chuyển đổi
của xã hội và con ngời hời kỳ đổi mới. Truyện ngắn đã có những cách tân và thu
đợc thành tựu đáng kể về nội dung cũng nh hình thức biểu hiện. Trong quá trình
đổi mới của nền văn xuôi đơng đại, với ngòi bút và tâm huyết của mình, các cây
bút đã thể hiện một hệ thống quan niệm nghệ thuật mới mẻ về hiện thực cuộc
sống cũng nh con ngời đã tạo nên sự phong phú và đa dạng cho văn xuôi nói
chung và truyện ngắn nói riêng.
Nh vậy, truyện ngắn việt nam thời đổi mới cùng với một số thể loại khác
nh tiểu thuyết, kịch ... đã đặt "viên gạch đầu tiên" có ý nghĩa lớn cho văn học
Việt Nam hơn 20 năm qua và nó vẫn tiếp tục phát triển và từng bớc có những
cách tân, đổi thay. Trong những năm gần đây, truyện ngắn là thể loại đợc nhiều
ngời u ái chọn lựa khi sáng tạo. Vì vậy truyện ngắn phát triển mạnh mẽ cả về số
lợng và chất lợng. Nhiều nhà văn, nhiều tác giả đã tỏ ra rất "say mê" ở thể loại
này mà đặc biệt là các cây bút nữ. Họ viết thật tự nhiên và càng viết càng say mê.
Bởi họ sống quyết liệt, viết quyết liệt và trung thực bằng chính cảm xúc của
chính mình. So với các nhà văn nam thì các nhà văn nữ thờng hớng ngòi bút của
mình vào những hiện tợng đang diễn ra trớc mắt. Đó là những vấn đề hàng ngày,
hàng giờ gắn bó với con ngời hiện đại. Điều đáng nói là trong khi đi sâu vào đời

mà nền kinh tế mang lại nhng kéo theo là mặt trái của nó. Đó là tình cảm của con
ngời đôi khi chịu chi phối của đồng tiền, quan hệ giữa các thành viên trong gia
đình không còn dàng buộc khăng khít. Truyện ngắn Hoa nở trên trời, nói về ông
bố và những đứa con giàu có nhng chính sự giàu có đó đã làm cho những đứa con
ông không hiểu đợc cha mình cần gì. Họ chỉ đáp ứng đợc những nhu cầu về vật
chất: "Bố thích, con mua cây cảnh cho bố chăm. Vạn tuế, Cúc nhật, Bon sai...
Con hô một câu, sáng bố tỉnh, bố có hẳn cả một vờn thợng uyển. Cần chim có
chim, cần sáo có sáo. Thích yểng chào khách nói nhại cũng có, chỉ phải làm
quen vài ngày thôi!"[32; 159]. Hay "Con sẽ sắm cho bố vợt cầu lông. Vừa vui,
vừa rèn luyện sức khoẻ. Chiều về, bố thích trồng cây, con sẽ thiết kế cho bố một
vờn treo Babilon"[32; 159]. Tất cả những thứ đó dờng nh "không có nghĩa lý gì"
đối với một ông bố mà cả đời quanh quẩn với những gốc đào, đội nắng phơi sơng, bắt sâu nhổ cỏ, chiết ghép ... Ông nghe các con bàn chuyện cuộc đời mình
nh đang nói chuyện của cấp bộ ngành nào mà ông nh ngớ ngời đi. Đúng là "Thời
buổi hiện đại, con lại quyết định cuộc đời bố mới lạ"
[32; 159].
Trong Minu xinh đẹp ta bắt gặp bi kịch của những con ngời "hết thời" và "hết
nghề". Một thiếu tá quân đội về hu, vợ là một giáo viên văn nghỉ mất sức, vì túng
quẫn phải hy vọng vào nuôi chó nhật. ở tác phẩm này nhà văn đã không ngại phanh
phui những mặt trái của xã hội hiện nay, khi mà con ngời muốn nuôi sống mình trớc
hết phải nuôi sống chó và "chăm chó còn hơn cả chăm những đứa con mình".
văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng luôn bắt nhịp với cuộc sống
con ngời trong xã hội.Do vậy, cũng nh các nhà văn nhạy cảm khác,Thu Huệ đã
đề cập đến khá nhiều các vấn đề trong xã hội hiện đại trong đó có vấn đề hôn
nhân gia đình vào sáng tác của mình. Nếu nh trớc đây,gia đình là khuôn mẫu để
quy chiếu ra ngoài xã hội, thì hôm nay đã có sự thay đổi. vì xã hội đã thay đổi,
phát triển đã kéo theo sự thay đổi trong quan niệm, lối sống, tính cách của con
ngời. mỗi thành viên trong gia đình là một cá thể độc lập, đang cựa quậy, đang
xé rào và đỏi hỏi đợc đáp ứng nhu cầu của mình. Chính vì vậy mà sự xuất hiện
những "suy đồi" của các thành viên trong gia đình trở nên phổ biến. Cha mẹ
không còn gơng mẫu hy sinh để làm tấm gơng cho con cái nhìn vào. ông bố

xét nhiều góc độ khác nhau. Trong truyện của nữ nhà văn này có hẳn một thế
giới nhân vật có tên tuổi, có nghề nghiệp, có vóc dáng, có khổ đau, có bi kịch, có
bất hạnh, có hạnh phúc. Họ là những công chức, những học sinh, sinh viên,
những ngời đàn ông cô đơn, những ngời phụ nữ khát khao hạnh phúc, những ngời
già từng trải bao dungtất cả đang trên con đờng đi tìm lẽ sống, hạnh phúc tình
yêuNhân vật trong truyện ngắn của Thu Huệ phần lớn gặp nhiều bất trắc và đa
số họ rơi vào bất hạnh và cô đơnCó ngời còn trở thành nạn nhân của cuộc sống
xô bồ hiện đại. Tất cả đợc thể hiện khá thành công dới ngòi bút của chị, góp phần
không nhỏ làm nên nét duyên dáng đầy nữ tính cho truyện
24


ngắn của Thu Huệ.
1.3.2.3. Về kết cấu
Kết cấu là sự phác hoạ, phác thảo, là phơng châm hành động để nhà văn
hình dung đợc, đoán đợc đờng đi nớc bớc của công việc. Trong những truyện
ngắn của mình, Thu Huệ đã tổ chức tác phẩm thông qua hình thức xây dựng cốt
truyện. Truyện ngắn của chị rất phổ biến ở cốt truyện rõ ràng, dễ hiểu, dễ tiếp
nhận, đúng nh tên gọi của nó: có cốt, có sự kiện trung tâm, hớng ngời đọc tiếp
cận tác phẩm không mấy khó khăn. Để tạo nên cốt truyện thờng sự kiện trung
tâm đợc tác giả đẩy lên, mở ra và gài các xung đột vào. Chẳng hạn nh Minu xinh
đẹp tác phẩm đợc cấu tứ từ sự kiện: cơn bĩ cự khốn khó trong gia đình ông bộ
đội về hu đang tìm cách làm thế nào để thoát cảnh nghèo đói bằng việc cả gia
đình ông lao vào chiến dịch nuôi chó Nhật. Từ sự việc này đã dẫn đến bi hài kịch
cho gia đình và cho chính bản thân ông ta.
Một đặc trng nữa trong kết cấu truyện ngắn Nguyễn Thi Thu Huệ là tác giả
đã triển khai các chi tiết đặc sắc bằng khả năng nhạy cảm, tinh tế, nắm bắt tâm lý
nhân vật thông qua ngôn ngữ ngời kể chuyện. Nhà văn có thiên hớng nắm bắt chi
tiết dù nhỏ nhặt nhng có thể bộc lộ tính cách của nhân vật. Đặc biệt trong khi xây
dựng cốt truyện Thu Huệ đã triển khai triệt để hệ thống các biến cố để tạo nên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status