ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
===***===
ĐÀO THANH NGA
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ
TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO
TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG 8 NĂM 1945
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành:Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Hà Văn Đức
HÀ NỘI - 2010 Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nam Cao
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Lịch sử vấn đề 4
3. Mục đích nghiên cứu 11
4. Phạm vi nghiên cứu 12
5. Phƣơng pháp nghiên cứu 12
6. Cấu trúc luận 12
NỘI DUNG 13
CHƢƠNG 1. NGƢỜI KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN
NAM CAO 13
1.1. Điểm nhìn tự sự 15
1.1.1. Trần thuật theo điểm nhìn khách quan 17
1.1.2. Trần thuật theo điểm nhìn chủ quan 23
1.1.3. Di chuyển điểm nhìn 28
1.2. Vai trò ngƣời kể chuyện 34
1.2.1. Người kể chuyện trong sứ mệnh tạo ra mạch tự sự độc đáo hấp dẫn 35
3.2.1. Ngôn ngữ văn xuôi đóng góp vào việc xây dựng và phát triển văn
xuôi mới…………………………………………………………………… 99
3.2.2. Sự sinh động gần gũi với ngôn ngữ hiện thực đời sống………… 102
3.2.3. Ngôn ngữ nhân vật độc đáo……………………………………… 114
3.3. Tiểu kết……………………………………………………………… 117
KẾT LUẬN……………………………………………………………… 119
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………… 123 Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nam Cao
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bản tự thuật Nam Cao gửi cho Ban tổ chức Hội văn nghệ Việt
Nam ngày 10/4/1950, cả một đời văn được tóm tắt như sau: "Bắt đầu viết từ
năm 1940. Ngoài những truyện ngắn đăng trên tờ Tiểu thuyết Thứ Bảy và một
số sách nhi đồng (Truyền Bá, Hoa Mai) không xuất bản được tác phẩm nào
đáng kể. Tuy nhiên, trong thời kỳ ấy đã viết được một số tiểu thuyết dài
nhưng vì bị kiểm duyệt bỏ hay vì dài quá không in được: Ngày lụt, Truyện
người hàng xóm, Sống mòn (trừ bản thảo Sống mòn vẫn còn giữ được, còn
mất hết vì đã bán cho các nhà xuất bản cả rồi)"…[34, tr.11].
Giáo sư Phong Lê cũng từng nhận xét về một sự nghiệp như vậy có gì
đáng được để ý đối với người đương thời bên những tác phẩm của Tự Lực
văn đoàn, những Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng cũng
Tự sự học cần được phân biệt với trần thuật học, trần thuật học vốn là
một thuật ngữ của cú pháp học, các nhà lý luận cấu trúc đem mô hình trần
thuật của ngôn ngữ học vận vào tác phẩm văn học tự sự, xem các văn bản đó
như một loại câu, cho nên họ có xu hướng gọi đó là trần thuật học. Khuynh
hướng ngữ học hoá ấy tạo một cách hiểu hẹp không nên có. Một số nhà ngữ
học xem trần thuật học là một bộ phận của ngôn ngữ học diễn ngôn đem vận
dụng vào văn học. Trần thuật học trong ý thức một số nhà nghiên cứu chỉ
nghiên cứu diễn ngôn, lời kể với những người kể, điểm nhìn trong khi đó tự
sự học bao gồm cả hệ thống sự kiện, cách tổ chức các sự kiện đó, các mô típ
truyện, sự phân loại chúng, lịch sử vận dụng của tự sự những vấn đề rộng
lớn hơn trần thuật rất nhiều. Đồng thời khái niệm tự sự xưa nay không bao giờ
chỉ riêng loại hình nghệ thuật tự sự, phân biệt với trữ tình và kịch. Tự sự là
một phương thức biểu đạt mà văn học, báo chí, thông tin, lịch sử đều sử dụng.
Ngày nay, vận dụng ngôn ngữ học nghiên cứu văn học là xu hướng
chung của thời đại, nhưng đồng nhất nghiên cứu văn học vào ngữ học là
Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nam Cao
5
không cần thiết. Trần thuật học có một vị trí không thể thiếu trong tự sự học
và ta cũng cần có sự phân biệt rõ ràng giữa hai thuật ngữ này.
Tên gọi Tự sự học (Narratology) là do nhà nghiên cứu Pháp gốc
Bungari Tz.Todorov đề xuất năm 1969 trong sách Ngữ pháp “Câu chuyện
mười ngày”, làm cho ngành nghiên cứu tự sự trước nay có được một cái tên
chính thức và trở thành một khoa nghiên cứu có tính độc lập vì nội hàm văn
hoá của nó. Kể từ khi ông đề xuất, lý luận tự sự đã thay thế cho lý luận về tiểu
thuyết và trở thành một bộ môn nghiên cứu liên ngành có tính quốc tế, nó liên
ngành vì nghiên cứu tự sự học phải liên kết với ngôn ngữ học, sử học, nhân
Tự sự học kinh điển trong giai đoạn tiếp theo đó đã nghiên cứu diễn
ngôn tự sự, tức là ngôn ngữ trần thuật và các yếu tố tạo nên nó: người kể,
hành động kể, điểm nhìn, giọng điệu đó là những khái niệm công cụ rất hiệu
quả để phần tích diễn ngôn tự sự và đọc hiểu văn bản tự sự. Tuy nhiên đối
tượng nghiên cứu của tự sự học kinh điển chủ yếu là các tác phẩm tương đối
đơn giản như truyện cổ tích, truyện kể thời Phục Hưng nên không thích hợp
với các hình thức tự sự phức tạp. Các công trình tự sự hậu kinh điển đều cố
gắng khắc phục các nhược điểm đó.
Nhà nghiên cứu Hà Lan Mieke Bal đã kết hợp nghiên cứu cấu trúc
chuyện với văn bản và định nghĩa khác hẳn Todorov: "Tự sự học là lý luận về
trần thuật, văn bản trần thuật, hình tượng, hình ảnh sự vật, sự kiện cùng sản
phẩm văn hoá “kể chuyện”" [43,tr.12]. Bà chia tự sự làm ba tầng bậc: văn bản
trần thuật (narrative text), chuyện kể (story), chất liệu (fabula). Công trình của
bà được đánh giá là đã cung cấp một hệ thống khái niệm được định nghĩa khá
chính xác, chặt chẽ và hệ thống, có thể làm cơ sở cho các công trình nghiên
cứu tự sự.
Tự sự học hậu kinh điển còn quan tâm đến mối quan hệ giữa tự sự và
tiếp nhận, các quy luật động trong tự sự, mở rộng phạm vi liên ngành của tự
sự học hay các khuynh hướng mới như tự sự học so sánh, tự sự học văn hoá
học Tự sự học đến nay vẫn nhận được sự quan tâm nghiên cứu rộng rãi trên
thế giới.
Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nam Cao
7
2.1.2. Tự sự học ở Việt Nam
Tự sự học khi được giới thiệu vào Việt Nam đã được hưởng ứng rộng
rãi của giới nghiên cứu, đặc biệt là các trường đại học. Hội thảo Tự sự học
giọng điệu trong các truyện ngắn Nam Cao trước Cách mạng.
2.2. Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nam Cao.
Nam Cao khai sinh văn nghiệp từ 1936 với truyện ngắn Cảnh cuối
cùng (bút danh Thuý Rư), in trên Tiểu thuyết Thứ Bảy, tiếp đó là Hai cái xác,
rồi từ nguồn mạch ban đầu ấy các sáng tác tiếp theo của nhà văn, kể cả thơ và
truyện cho thiếu nhi với các bút hiệu khác nhau lần lượt ra mắt bạn đọc. Sinh
thời tác phẩm của ông chưa được người cùng thời đánh giá xứng đáng, sự
nghiệp sáng tác của ông không dài, trong đó số lượng tác phẩm cũng không
nhiều nhưng thành quả văn học ông để lại cho chúng ta lại rất lớn.
Đã có hàng trăm bài viết và sách viết về nhà văn, tiêu biểu là các công
trình: Nam Cao nhà văn hiện thực xuất sắc - Hà Minh Đức, Nam Cao, đời
văn và tác phẩm - Hà Minh Đức, Nam Cao, phác thảo sự nghiệp và chân
dung - Phong Lê, Nghĩ tiếp về Nam Cao - Hội nhà văn, Nam Cao - Nhà văn
hiện thực xuất sắc, nhà văn nhân đạo chủ nghĩa lớn - Trần Đăng Xuyền, Chủ
nghĩa hiện thực Nam Cao - Trần Đăng Xuyền, Nam Cao về tác gia và tác
phẩm - Bích Thu sưu tầm, tuyển chọn. Đặc biệt cuốn Nam Cao về tác gia và
tác phẩm là một tài liệu quý cho người nghiên cứu.
Đây là những công trình khoa học toàn diện và hệ thống của những
chuyên gia hàng đầu đã gần 40 năm đầu tư với di sản văn học phong phú và
đặc sắc của Nam Cao. Trong quá trình nghiên cứu, GS. Hà Minh Đức đã luôn
luôn nỗ lực tìm hiểu và ghi nhận những giá trị văn hóa phong phú và tiềm ẩn
của tác phẩm Nam Cao. Ông cho rằng, qua thời gian và những đổi thay của xã
hội, tác giả Nam Cao “vẫn ở giữa chúng ta và ngày càng được quý mến”. Còn
GS. Phong Lê thì “nghiện” đọc Nam Cao, ông nhấn mạnh đọc văn Nam Cao
không phải chỉ biết được “nội dung” mà thực chất để chiêm nghiệm các ý
tưởng của Nam Cao, những ý tưởng cùng với cách thể hiện và dẫn dắt câu
Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nam Cao
10
Về nghệ thuật tự sự trong tác phẩm của Nam Cao, các nhà nghiên cứu đã
đề cập ở từng góc độ, về ngôn ngữ, về giọng điệu, người kể chuyện…
Nhà nghiên cứu Trần Đăng Xuyền phát hiện ra một nét mới về cốt
truyện trong tác phẩm Nam Cao: " Xét cho tới vùng, cái quan trọng nhất trong
tác phẩm không phải là bản thân sự kiện, biến cố tự thân mà là con người trước
sự kiện, biến cố. Vì vậy, trong sáng tác của Nam Cao, hứng thú của những chi
tiết tâm lý thường thay thế cho hứng thú của chính bản thân các sự kiện, biến
cố " 33, tr.157.
Nhà nghiên cứu Phong Lê trong bài viết Nam Cao - nhìn từ cuối thế kỷ
đã nhận xét về văn Nam Cao: " Ở văn Nam Cao gần như có đủ các chất liệu:
hài và bi, trào phúng và chính luận, triết lý và trữ tình, nghịch dị và nhàm tẻ,
thô nhám và chất thơ cho đến nay, sau hơn nửa thế kỷ, bất chấp mọi biến
động xã hội, ngôn ngữ Nam Cao vẫn cập được các bến bờ thời sự" 33,tr.113.
Vấn đề điểm nhìn gắn với người kể chuyện, về đối thoại đã được nhà
nghiên cứu Trần Đình Sử phân tích rất tâm đắc trong những truyện ngắn của
Nam Cao.
Có một số nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu về không gian- thời gian tự sự
trong văn Nam Cao. Nhà nghiên cứu Đào Duy Hiệp trong cuốn Phê bình văn
học từ lý thuyết hiện đại tiếp cận vấn đề thời gian trên cơ sở ứng dụng lý thuyết
của Genette trên ba cấp độ: trật tự, thời lưu, tần suất để phân tích truyện Chí
Phèo. Bài viết cho thấy trong một văn bản tự sự, người nghiên cứu luôn phải
tìm tòi khám phá về nghệ thuật thời gian ở tác phẩm Nam Cao chứ không chỉ
đơn thuần nghiên cứu thời gian xuất phát từ nội dung, không chỉ khảo sát các
từ ngữ chỉ thời gian để tìm sự vận động của cốt truyện. Những trang văn của
Nam Cao thấm đẫm nước mắt xót xa, buồn tủi cho kiếp người. Kiếp người như
Chí Phèo ám ảnh mãi trong ta cũng bởi thời gian mang đậm chất suy tư về cuộc
Luận văn tìm hiểu nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nam Cao nhằm
làm rõ phong cách tự sự độc đáo của tác giả, cố gắng tìm cách tiếp cận mới,
khai thác những bình diện mới, những đặc điểm cơ bản trong nghệ thuật tự sự
Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nam Cao
12
như người kể chuyện, cốt truyện, ngôn ngữ…để thấy được vai trò của chúng
trong việc tạo nên giá trị tác phẩm.
4. Phạm vi nghiên cứu
Nam Cao sáng tác tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện dài…nhưng luận văn
chỉ khảo sát và nghiên cứu nghệ thuật tự sự biểu hiện trong thể loại truyện
ngắn: những truyện ngắn được sáng tác trước Cách mạng tháng Tám in trong
Tuyển tập Nam Cao - Tập 1, 2 – GS. Hà Minh Đức biên soạn.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thống kê - phân loại.
- Phương pháp phân tích tổng hợp.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo nội dung chính
được triển khai trong 3 chương.
Chương 1. Người kể chuyện trong truyện ngắn Nam Cao.
Chương 2. Nghệ thuật tổ chức cốt truyện trong truyện ngắn Nam Cao.
Chương 3. Giọng điệu tự sự và ngôn ngữ tự sự trong truyện ngắn Nam Cao.
Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nam Cao
Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nam Cao
14
nhà nghiên cứu cho đến cuối những năm 60 xác định một cách tỉ mỉ, cụ thể.
Tuy nhiên trong việc nghiên cứu không khỏi có những điểm cực đoan, khái
niệm "người kể chuyện" trở thành thuần tuý hình thức, được nghiên cứu riêng
biệt tách rời khỏi mối quan hệ với "tác giả" thực tế như chủ thể sáng tạo.
W.Kayser viết về người kể chuyện như một vai trò ước định, nhưng đến
R.Barthes và Tz.Todorov mối quan hệ mật thiết giữa người kể chuyện và tác
giả được xem như đã bị cắt đứt.
Theo quan niệm của G.Genette, người kể chuyện có mối quan hệ chặt
chẽ với câu chuyện của mình và chính vị trí của người kể chuyện trong mối
quan hệ với câu chuyện xác lập nên điểm nhìn của truyện kể. Từ đó,
G.Genette phân biệt hai kiểu người kể chuyện: người kể chuyện từ ngôi thứ
nhất và người kể chuyện từ ngôi thứ ba.
Người kể chuyện từ ngôi thứ nhất là người kể chuyện hiện diện như
một nhân vật trong truyện, vừa đóng vai trò người kể chuyện vừa đóng vai trò
là một nhân vật trong cấp độ hành động.
Người kể chuyện từ ngôi thứ ba là người thứ ba, không phải là nhân vật
trong truyện, có sự "khác nhau tự nhiên" giữa thế giới người kể chuyện và thế
giới hành động.
Nhà nghiên cứu M.Butor có ý kiến: "Tiểu thuyết là một hình thức đặc
biệt của trần thuật. Tam giác tự sự ba chiều" tác giả - nhân vật - độc giả" dần
được thay thế bởi sự huyền diệu và phức tạp hơn của tứ giác tự sự với "tác giả
- người tự sự - nhân vật - độc giả" 39, tr.32. Ý kiến đó đã bao quát được cả
tầm quan trọng của người kể chuyện với các tác phẩm tự sự nói chung và với
truyện ngắn nói riêng.
tốt nhất để có thể cảm nhận không gian nghệ thuật một cách tối ưu và sáng
tạo nên những kiệt tác. Sự khác biệt cơ bản ở chỗ, nếu như trong nghệ thuật
hội họa, nhiếp ảnh, điểm nhìn là của chính người nghệ sĩ trong mối quan hệ
với thế giới mà anh ta mô tả, thì trong nghệ thuật tự sự của mỗi truyện kể,
điểm nhìn tự sự là của một người kể chuyện - nhân vật do tác giả hư cấu nên
để kể lại câu chuyện - nhân vật thống nhất nhưng không đồng nhất với tác giả.
Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nam Cao
16
Việc lựa chọn điểm nhìn trong tác phẩm tự sự là rất quan trọng, không
phải bất cứ nhà văn nào ngay từ đầu đã lựa chọn được điểm nhìn khi viết tác
phẩm, L.Tônxtôi lúc đầu đã kể chuyện Phục sinh từ điểm nhìn người trần
thuật, bắt đầu từ kỳ nghỉ hè Nêkhliuđốp về thăm dì và gặp Maxlôva, quyến rũ
cô rồi bỏ rơi, ông thấy việc trần thuật bằng phẳng, nhạt nhẽo và đã quyết định
thay đổi điểm nhìn, bắt đầu từ bi kịch của Maxlôva, từ nạn nhân, dưới con
mắt của Nêkhliuđốp, kẻ gây ra sự lỡ làng cho cô gái. Sự việc được hồi tưởng
trong cái nhìn mổ xẻ, hối hận…Tội ác và trừng phạt của Đốtxtôiépxki, Lâu
đài của Kafka lúc đầu được kể bằng ngôi thứ nhất, sau suy tính lại, nhà văn
lại chuyển sang ngôi thứ ba.
Trong truyện ngắn Nam Cao, việc xác định điểm nhìn được thấy rõ qua
việc sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba, có thể theo quy
tắc:
- Một văn bản truyện kể theo điểm nhìn chủ quan: Nếu như trong
những câu kể lại hành động truyện có một số câu chứa đại từ nhân xưng ngôi
thứ nhất "tôi", "tôi" đồng nhất với một nhân vật trong truyện.
- Một văn bản truyện kể theo điểm nhìn khách quan: nếu như những
câu kể lại hành động truyện đều là những câu ở ngôi thứ ba (ông, bà, anh, chị,
1.1.1.1. Trần thuật theo điểm nhìn của tác giả
Ưu thế của cách nhìn thế giới bao quát của tác giả người kể chuyện đặc
biệt phù hợp với việc phát hiện mô tả sức mạnh tinh thần cũng như những
khiếm khuyết của nhân vật. Hình thức này dường như đã có một huyết mạch
nối liền trong các truyện kể truyền thống của văn học Việt Nam, kể từ các
truyện cổ dân gian, truyện kể trung đại đến truyện ngắn hiện đại sau này. Tác
giả có quyền xuất hiện ở mọi nơi, có hiểu biết, phơi bày mọi khía cạnh của
các sự việc, nhân vật.
Những truyện ngắn này của Nam Cao hoàn toàn dùng ngôi thứ ba, hoặc
có tên (Dần, Nhu, Ninh ) hoặc không tên (hắn, y, bà lão, thằng cu, nó…) có
thể kể đến những truyện như: Ở hiền, Xem bói, Một bữa no, Mua danh
Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nam Cao
18
Truyện ngắn Mua danh kể về hai nhân vật là Bịch và ông cựu Tuý.
Bịch là kẻ cùng đinh trong làng nhờ chút của "trời cho" - phất lên từ một sào
trầu đã thực hiện một việc mua danh bán tước, cố ngôi lên hàng vai vế trong
làng cho đỡ khổ nhục và cuối cùng vì dốt nát, vì hèn kém, vì những thói hư
tật xấu của mình mà trở thành thảm hại hơn, khốn quẫn hơn trong cuộc đời.
Cuộc mua danh tưởng trót lọt dễ dàng và Bịch tưởng như được "ngoi" lên một
chút nhưng lại không được như vậy. Nghịch cảnh này dần dần hiện ra trước
mắt người đọc qua điểm nhìn khách quan của tác giả.
Mở đầu tác giả đứng ngoài khách quan kể lại bối cảnh truyện, cảnh ngộ
nhân vật: "Nhà Bịch được một sào trầu tốt. Cái tin ấy đồn đi. Dân làng kháo
nhau rằng hắn có tiền. Mà có tiền là phải. Chỉ tính ra cũng biết. Trầu làng năm
nay chết rất nhiều. Do trận bão vừa qua. Có những giàn nát như tương, chẳng
khác gì có người giật đổ xuống rồi lấy chân mà dận; người ta dỡ róng trúc, cắt
đưa thêm ngôi thứ nhất xưng "ta", "ta" thường xuất hiện ở đầu hoặc cuối câu
chuyện nhằm đối thoại trực tiếp với độc giả về những vấn đề được đặt ra
nhưng thực chất câu chuyện vẫn được kể từ điểm nhìn ngôi thứ ba tác giả, vì
"ta" không là nhân vật nào trong truyện. Rửa hờn, Một truyện xú-vơ-nia
Rình trộm, Tư cách mõ là những truyện tiêu biểu cho truyện kể xuất hiện cả
ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba.
Lấy ví dụ đoạn cuối truyện Tư cách mõ: "Cứ vậy, hắn tiến bộ mãi trong
nghề nghiệp mõ. Người ta càng khinh hắn, càng làm nhục hắn, hắn càng
không biết nhục. Hỡi ôi! Thì ra lòng khinh trọng của chúng ta có ảnh hưởng
đến cái nhân cách của người khác nhiều lắm; nhiều người không biết gì là tự
trọng, chỉ vì không được ai trọng cả; làm nhục người là một cách rất diệu để
khiến người sinh đê tiện ".
Ngôi thứ nhất xưng "chúng ta" xuất hiện một lần duy nhất trong truyện
nhằm đối thoại luận bàn trực tiếp với độc giả về vấn đề: Sự đổi thay của tính
cách trước hoàn cảnh.
Anh Cu Lộ trước kia là người "hiền như đất. Cờ bạc không. Rượu chè
không, anh chỉ chăm chăm, chút chút làm để nuôi vợ, nuôi con". Sau một thời
Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nam Cao
20
gian làm mõ, Cu Lộ đã đổi thay, đã đủ "tư cách mõ chính tông" với tính tình
tham lam, đê tiện. Điều mà tác giả muốn luận bàn với bạn đọc là: sự sa đoạ ấy
không chỉ xảy ra với một con người, một cuộc đời như anh Cu Lộ mà có biết
bao người cũng rơi vào tình trạng như vậy. Những con người có tính cách bị
thay đổi bởi hoàn cảnh, bị hoàn cảnh cuốn theo mà không thể có một bản lĩnh
nào để chống đỡ. Đó cũng là nỗi khổ của những con người như thế.
Có truyện, ngôi nhân xưng thứ nhất "ta" xuất hiện một lần duy nhất và
Theo M.Jahn, đó là các truyển kể mà các sự kiện diễn ra trong truyện
được nhìn dưới con mắt của một người phản ánh bên trong ở ngôi thứ ba
Một trong những hiệu quả chính của điểm nhìn bên trong là thu hút sự chú ý
tới ý nghĩ của nhân vật - người phản ánh và bỏ qua người kể chuyện và quá
trình sắp xếp trần thuật. Theo quan niệm của M.Jahn, truyện kể theo điểm
nhìn này đem lại những cái nhìn sinh động của các nhân vật trong truyện. Đó
là góc nhìn của những em nhỏ phải chịu khổ sở (Từ ngày mẹ chết, Bài học
quét nhà) của bà lão đáng thương (Một bữa no, Nhìn người ta sung sướng),
hoặc góc nhìn của những người nghèo, người cùng đinh, anh nông dân (Chí
Phèo), của kẻ chỉ thèm miếng ăn (Trẻ con không được ăn thịt chó), hay góc
nhìn của những anh trí thức (Đời thừa, Nước mắt)
Không có một nỗi buồn nào hơn là nỗi buồn mất mẹ. Qua những trang
viết của tác giả, người đọc như cùng hoà vào tâm trạng của bé Ninh (Từ ngày
mẹ chết), cái chết của người mẹ xảy đến, người cha dần phai nhạt tình cảm
với các con. Đó là nỗi khổ tâm nhất của một đứa bé như Ninh - những cảm
giác mơ hồ, những nỗi sợ xa xăm ập đến với hai chị em Ninh: "Bu chết ngót
ba năm. Thầy bảo thế. Thì ra ba năm cũng dài lắm nhỉ. Ninh tưởng bu Ninh
chết đã lâu lắm. Nhưng chắc gì! Xưa kia, những ngày bu đi chợ tỉnh, độ gần
tối chưa về Ninh đã thấy mong. Ấy là mới vắng bu có một ngày. Mà nào cũng
đã hết cả ngày. Bây giờ vắng bu bằn bặt những ba năm. Bao nhiêu ngày
Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nam Cao
22
tháng! Ninh thấy lâu là phải. Biết bao giờ mẹ lại về với con? Ninh bâng
khuâng cả người. Y như là nằm mơ. Ấy là Ninh đã nguôi đấy. Hồi mẹ Ninh
mới chết, cứ nghĩ đến mẹ là Ninh khóc. Ninh khóc ằng ặc như người nuốt
phải ngụm gì đắng quá, nó quánh vào cổ họng. Khóc đến lặng người đi,
Rồi bà lão suốt nửa tháng trời tức bụng, nôn mửa, tả lỵ và bà chết. Cái
khổ và cái đói đeo đuổi cuộc đời con người ta cho đến lúc chết, đáng lẽ ra một
người già như bà lão phải được con cháu mang ơn chăm sóc nhưng không
phải người già nào cũng được hưởng niềm an ủi từ con cháu. Chồng bà chết
sớm, con bà cũng chết, con dâu bà bỏ đứa cháu lại bà nuôi để đi lấy chồng
khác, bà nuôi cháu lớn chút thì cũng phải cho nó đi làm con nuôi lấy tiền
trang trải cuộc sống, ốm đau bệnh tật cũng sinh ra. Chuỗi dài đau khổ đói
nghèo của con người ta cứ kéo dài mãi vô tận như vậy, kết cục của bà lão
khiến ta thấy thật đau xót.
Có thể nói, trong những truyện được trần thuật theo điểm nhìn khách
quan, tác giả có thể lúc thì bước vào thế giới nội tâm của nhân vật này, lúc lại
bước sang thế giới nội tâm của nhân vật khác và tác giả tỏ ra hết sức linh hoạt.
Tuy nhiên, bên cạnh điểm nhìn khách quan, truyện ngắn Nam Cao còn
có những tình huống trần thuật theo điểm nhìn chủ quan.
1.1.2. Trần thuật theo điểm nhìn chủ quan
Điểm nhìn chủ quan trong truyện ngắn Nam Cao xuất hiện ở nhiều hình
thức đa dạng. Người kể chuyện ở ngôi thứ nhất, hiện diện trong truyện, đồng
nhất với một nhân vật trong cốt truyện mà anh ta kể.
Theo M.Jahn, trong trần thuật ngôi thứ nhất, đại từ nhân xưng ngôi thứ
nhất chỉ cả người kể chuyện (cái tôi kể chuyện) và một nhân vật trong câu
chuyện (cái tôi trải nghiệm). Nếu người kể chuyện là một nhân vật chính của
câu chuyện thì anh/cô ta là một cái tôi - vai chính, nếu anh/cô ta là nhân vật
phụ thì anh/cô ta là cái tôi - chứng nhân. Ta có thể khảo sát điểm nhìn chủ
quan trong truyện ngắn Nam Cao trước Cách mạng theo hai dạng đó.