TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HỒ CẨM KIM
LỚP DH5C2
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGÀNH NGỮ VĂN
HỆ THỐNG TRIẾT LÍ
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO
TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
Giáo viên hướng dẫn
Thạc sĩ NGUYỄN VĂN KHƯƠNG Long Xuyên, 05/2008
Hồ Cẩm Kim
Luận văn tốt nghiệp Hệ thống triết lý…
A. MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Văn học luôn phản ánh đời sống. Nhờ văn học mà bộ mặt nước ta qua từng thời
kì đã hiện ra một cách chân thực và đầy đủ nhất. Những nhà văn hiện thực phê phán giai
đoạn 1930 -1945 đã có công rất lớn trong việc tái hiện một xã hội mà trong đó đầy rẫy
những bất công tàn bạo vô nhân tính. Bên cạnh Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn
Công Hoan… thì Nam Cao n
ổi lên như một vì tinh tú sáng chói trên nền trời văn học
việt Nam thời kì thực dân nửa phong kiến. “Sáng tác của Nam Cao đã vượt qua được
những thử thách khắc nghiệt của thời gian, càng thử thách càng ngời sáng” (Trần Đăng
Suyền, 2004:17). Có thể nói Nam Cao là một nhà văn lớn đã kết thúc vẻ vang trào lưu
văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1930 -1945. Ở Nam Cao, chúng ta bắt gặp một
hiện tượng ph
ổ biến trong tác phẩm của ông, đó là đề tài hẹp mà tư tưởng và chủ đề rộng
lớn. Vì thế, tác phẩm của Nam Cao chứa đựng những giá trị hiện thực sâu sắc, đã được
khẳng định qua mọi thời đại. Chính vì những điều đó, Nam Cao cùng nhiều tác phẩm
của ông đã được đưa vào giảng dạy ở chương trình phổ thông và chiếm một thời lượng
không ít. Như vậy, tài năng của ông đã được khẳng định đúng với giá trị của nó.
Qua các tác phẩm của mình, Nam Cao đã chứng tỏ là một nhà văn từng trải và
có kinh nghiệm sống rất phong phú. Là một nhà văn có tầm nhân loại, “Nam Cao đi tìm
những chân lí, triết lí về cuộc đời tìm ngay trong cuộc sống lấm láp bộn bề với thực tế
diễn ra hàng ngày và diễn đạt nó bằng hình thức nghệ
thuật ngôn từ: truyện” (Phạm
Văn Phúc, 2000:381). Tác phẩm Nam Cao có rất nhiều khía cạnh có giá trị sâu sắc mang
tính thời sự được khá nhiều người quan tâm. Qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu lâu
dài, chúng tôi nhận thấy triết lí sống trong truyện ngắn Nam Cao là một vấn đề hết sức
thú vị. Những suy nghĩ, những nhận định có tính chất bao quát của Nam Cao về cuộc
Nghiên cứu đề tài này để thấy được cái nhìn của tác giả về cuộc đời, nhận ra cái
hay, cái sâu sắc của Nam Cao khi thể hiện những triết lí trong tác phẩm. Đồng thời,
người viết có thể nhận rõ một nét tiêu biểu trong phong cách sáng tác của Nam Cao. Từ
đó đánh giá đúng vai trò của Nam Cao là đã góp phần làm nên sự đa dạng cho nền văn
học nước nhà, giúp b
ổ sung cái nhìn toàn diện về những đặc sắc trong các sáng tác của
Nam Cao.
Bên cạnh đó nghiên cứu để củng cố kỹ năng phân tích, giúp người viết có thêm
kiến thức về nhà văn Nam Cao và các tác phẩm của ông. Ngoài ra nghiên cứu đề tài này
cũng giúp phục vụ cho công tác giảng dạy sau này tốt hơn. Đó cũng là tài liệu cho các
bạn sinh viên quan tâm đến vấn đề này.
IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1. Tìm hiểu nội dung chi tiết hệ thống tri
ết lí thể hiện trong truyện ngắn của Nam
Cao trước cách mạng tháng tám: triết lí về sự sống cái chết, về Đời về Kiếp con người,
triết lí về sự sung sướng và nỗi khổ đau, triết lí về cái lương thiện và cái ác, cái xấu, triết
lí về miếng ăn và lòng khinh trọng ở đời, triết lí về tình yêu và hạnh phúc. Qua đó người
viết có thể thấy được những tư tưở
ng, quan niệm của Nam Cao có nhiều điểm tiến bộ và
khác biệt so với các nhà văn trước đó và cùng thời.
2. Tìm hiểu nghệ thuật của Nam Cao khi thể hiện những triết lí sống trong các tác
phẩm.
Hồ Cẩm Kim_DH5C2 Trang 2
Luận văn tốt nghiệp Hệ thống triết lý…
V. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Triết lí sống là một mảng nội dung quan trọng trong truyện ngắn của Nam Cao.
Nghiên cứu đề tài này sẽ giúp hiểu sâu sắc hơn các tác phẩm của ông. Ngoài ra, đề tài sẽ
giúp ích rất nhiều cho công tác giảng dạy sau này, giúp học sinh hiểu được một khía
cạnh trong truyện ngắn Nam Cao, tăng cường hiệu quả cảm thụ và phân tích tác phẩm.
nhận. Ngay từ khi tên tuổi của Nam Cao được khẳng định qua tác phẩm Chí Phèo, cho
đến nay đã có hơn hai trăm bài báo và công trình nghiên cứu viết về Nam Cao cùng các
sáng tác của ông. Trong đó có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến h
ệ thống triết lí
trong truyện ngắn của Nam Cao. Chúng tôi đã tập hợp được một số ý kiến cơ bản xoay
quanh vấn đề này.
Nhiều nhà phê bình nghiên cứu đã thâm nhập sâu vào thế giới nghệ thuật của
Nam Cao và nhận định: những triết lí sống trong truyện ngắn của Nam Cao là một
Hồ Cẩm Kim_DH5C2 Trang 3
Luận văn tốt nghiệp Hệ thống triết lý…
phong cách riêng của ông. Có nhiều ý kiến đã gặp nhau khi nói về vấn đề này, có thể kể
đến như sau:
Hà Minh Đức (1998: 234) đã chỉ ra rằng: “Chất suy nghĩ và triết lí trong sáng
tác của Nam Cao là một mặt mạnh của ngòi bút góp phần tạo nên điểm riêng của tác
phẩm”.
Bùi Công Thuấn (1997: 65-68) thì nhận xét: “Khuynh hướng triết lí là một
trong những yếu tố làm nên phong cách Nam Cao”. Ông kết luận: “Nam Cao là một cây
bút tâm lí, triết lí, đó là đặc trưng phong cách Nam Cao”.
Trần Đă
ng Suyền (2004: 240) người có nhiều công trình nghiên cứu về Nam
Cao và các tác phẩm của ông đã kết luận:
Đọc Nam Cao, ta bắt gặp tiếng nói của một con người mà vầng trán
không bao giờ thanh thản còn tâm hồn thì nặng trĩu ưu tư. Đặc điểm ấy của con
người Nam Cao đã góp phần tạo nên giọng điệu triết lí suy ngẫm sâu xa, một
giọng điệu làm nên phong cách độc đáo trong sáng tác của ông.
Trong các tác phẩm củ
a Nam Cao, những câu triết lí về những vấn đề bình
thường trong cuộc sống được viết ra không quá phức tạp mà nó hết sức giản dị, rõ ràng,
dễ hiểu. Triết lí của Nam Cao gắn liền với cuộc sống thường ngày. Từ đó Nam Cao
muốn đưa ra những quan điểm sống, những bài học nhân thế mà ông muốn gởi gắm đến
triết lí […] Những khái quát triết lí đó đã được chắt ra từ cuộc sống, là kết
quả của cả một quá trình chiêm nghiệm đời sống đó.
Giá trị của các yếu tố triết lí trong truyện ngắn của Nam Cao cũng
đã đựơc
nhiều nhà phê bình, nghiên cứu văn học nhận xét và đánh giá cao.
Hà Minh Đức (1999: 415) nhấn mạnh:
Nam Cao không rơi vào lối viết luận đề. Chủ đề và ý nghĩa triết học của
sáng tác nổi lên nhưng không ở dạng sắp đặt trước. Sức thuyết phục chủ yếu
của câu chuyện là ở sự sống và phần máu thịt của câu chuyện. Ý nghĩa triết lí
như sợi chỉ
nhỏ chạy xuyên từ ngọn nến nơi đặt điểm sáng của ngọn lửa sáng
tạo tỏa ra tác phẩm.
Nguyễn Đăng Mạnh (2001: 90) thì nhận xét:
Đọc Nam Cao, thấy ông hay triết lí, thích khái quát. Dĩ nhiên sức hấp dẫn
không thể có được nếu ông chỉ lặp lại những nguyên lí chung chung, quen
nhàm. Nói cho đúng, những lí lẽ ông nói ra không phải bao giờ cũng hay ho,
chính xác cả, nhưng quả là những tìm tòi, những phát hiện của riêng ông về
cu
ộc sống, nghĩa là nó mang đẫm mồ hôi của tâm não ông. Cho nên triết lí
mà không khô khan, triết luận mà như mở ra những chân trời thơ bát ngát.
Từ những ý kiến, nhận định trên, ta thấy yếu tố triết lí trong truyện ngắn Nam
Cao là một vấn đề được nhiều người quan tâm và đã có sự nghiên cứu bước đầu. Tuy
nhiên những nghiên cứu đó còn riêng lẻ, chưa lập thành một hệ thống đầy đủ, sâu sắc và
toàn di
ện. Vấn đề đặt ra là cần có sự hoàn chỉnh hơn về hệ thống triết lí trong truyện
ngắn Nam Cao trước cách mạng tháng tám. Trên cơ sở hệ thống hóa, tiếp nhận ý kiến
của các nhà nghiên cứu, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm tìm hiểu đầy đủ
mọi nội dung, khía cạnh của triết lí trong các sáng tác của Nam Cao. Qua đó làm rõ nét
hơn một đặc trưng phong cách của nhà văn lớn Nam Cao, góp phần đánh giá đ
úng vai
CỘI NGUỒN TRIẾT LÍ VÀ TRIẾT LÍ
TRONG VĂN HỌC
I. CỘI NGUỒN TRIẾT LÍ
Theo Đại từ điển Tiếng việt, “triết lí” là “quan niệm chung và sâu sắc nhất của
con người về những vấn đề nhân sinh và xã hội”. Cùng với sự ra đời của triết lí là sự
xuất hiện các khái niệm về triết gia, triết học. Triết học là môn học nghiên cứu những
qui luật chung nhất của sự phát triển tự nhiên, xã hội và tư duy.Triết gia là ngườ
i nghiên
cứu sâu về triết học.
Như vậy triết lí là một vấn đề được sự quan tâm và nghiên cứu rất nhiều.
1. Triết lí của dân gian
Việt Nam là một đất nước bốn nghìn năm văn hiến, có một bề dày lịch sử
chống giặc ngoại xâm khiến nhiều quốc gia láng giềng phải khâm phục. Trên thế giới,
Việt Nam được cho là một đất nước giàu đẹp. Tuy nhiên,
đất nước ta cũng đã phải chịu
những hậu quả nặng nề do thiên tai, dịch họa kéo dài. Chính những điều đó đã gây biết
bao khó khăn trong quá trình tồn tại và sinh sống của con người Việt Nam. Nhưng với
trí thông minh và đầu óc nhanh nhạy sẵn có, người Việt Nam đã sáng tạo ra những cách
ứng phó với các hiện tượng thiên nhiên như mưa bão, lũ lụt, hạn hán… và chống giặc
ngoại xâm. Con ngườ
i Việt Nam không bao giờ chịu khuất phục trước mọi gian khổ,
nguy hiểm và khó khăn. Không những vậy, với trí tuệ siêu việt, người Việt Nam đã khái
quát những kinh nghiệm từ các hiện tượng riêng lẻ, tạo nên một kho triết lí tồn tại trong
dân gian. Người xưa đã không nhìn sự vật hiện tượng một cách đơn giản bình thường
như nó vốn có mà luôn nhìn nhận nó ở một khía cạnh khác một cách rất thâm thúy và
sâu xa. Cha ông ta đã rất thông thái khi đúc kết nên những triết lí sống có giá trị. Không
chỉ có giá trị về mặt nội dung mà hình thức thể hiện cũng hết sức độc đáo (có vần, có
nhịp nên rất dễ nhớ). Đây là một kho tàng quí báu mà cha ông ta đã tốn biết bao công
sức để tạo nên và truyền lại cho con cháu đời sau. Những triết lí của người xưa luôn dạy
Đó là những lời động viên, kêu gọi tinh thần đoàn kết của mỗi con người. Nó
có ý nghĩa vô cùng to lớn, nhất là trong những lúc hoạn nạn, khó khăn. Thông điệ
p ấy là
một chiếc cầu nối liền mối quan hệ giữa người và người. Mỗi người hãy làm một viên
gạch nhỏ góp phần tạo dựng nên bức tường thành đoàn kết to lớn không gió mưa giông
bão nào có thể quật ngã được. Lời khuyên của cha ông có giá trị thật to lớn. Triết lí về
khối đại đoàn kết là nền tảng làm nên sức mạnh giúp cho con người vượt qua mọi hoàn
cảnh khó khă
n.
1.2.
Triết lí về lối sống và cách sống
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, nhân dân ta đã đúc kết lại hiểu biết và kinh
nghiệm sống quí báu, truyền đạt từ đời này đến thế hệ sau. Văn học dân gian là một
phương tiện quan trọng và chủ yếu chuyên chở những quan niệm, triết lí của cha ông ta.
Xuất phát từ tấm lòng nhân ái, hiền hậu, và có ảnh hưởng ít nhiều bởi giáo lí
đạo Phật, nhân dân ta đã cổ vũ cho cái thi
ện và lên án cái ác cái xấu. Ông cha ta yêu cầu
con người sống trong cộng đồng cần phải tích cực hành thiện, không gian dối lọc lừa,
mà phải yêu thương giúp đỡ nhau, có tấm lòng nhân hậu… Quan niệm này đã được thể
hiện như sau qua các câu ca dao, tục ngữ:
“Ác giả ác báo, thiện giả thiện lai”
“Ở hiền thì lại gặp lành
Nếu ai ở ác tội đành vào thân”
Ông cha ta khuyên dạy mọi người:
“Ai ơi hãy ở cho lành
Kiếp này chẳng g
ặp để dành kiếp sau”
Hồ Cẩm Kim_DH5C2 Trang 8
Luận văn tốt nghiệp Hệ thống triết lý…
Cha ông ta chủ trương “dĩ hòa vi quí”, con người cần chung sống hòa thuận,
bởi “một câu nhịn chín câu lành”, điều này đã trở thành mộ
t nét tâm lí của nhân dân ta.
“Tâm lí ưa hòa thuận khiến người Việt Nam luôn chủ trương nhường nhịn:
Một sự nhịn chín sự lành,
Chồng giận thì vợ bớt lời
Cơm sôi nhỏ lửa có đời nào khê”. ( Phương Lựu, 2002:159)
Sự tôn trọng tinh thần hòa thuận đã giúp cho đất nước Việt Nam luôn sống
trong không khí hòa bình, ấm áp tình thương. Chính vì vậy, hiện nay Việt Nam đã được
Hồ Cẩm Kim_DH5C2 Trang 9
Luận văn tốt nghiệp Hệ thống triết lý…
công nhận là một nước có trật tự vào bậc nhất trên thế giới. Có thể thấy quan niệm tư
tưởng của cha ông ta luôn giữ được nguyên vẹn giá trị của nó trong mọi thời đại.
Mặt khác, cha ông ta đề cập đến sự ảnh hưởng của hoàn cảnh đối với nhân cách
con người, khuyên con cháu nên tránh xa cái xấu, cái ác, chỉ nên sống trong môi trường
tích cực có thể giáo dục con người theo chiều hướng tốt. Bởi trong nhiều tr
ường hợp,
ảnh hưởng của hoàn cảnh là rất lớn:
“Đi với bụt mặc áo cà sa
Đi với ma mặc áo giấy”
“Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”
“Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”
Qua những câu tục ngữ, thành ngữ trên, cha ông ta muốn nhấn mạnh vai trò của
hoàn cảnh đối với tính cách con người. Vấn đề này cũng trở nên ám ảnh trong nhiều tác
phẩm của Nam Cao mà chúng tôi sẽ đề cậ
p đến ở phần sau.
Song song với vấn đề trên, cha ông ta không nhìn nhận một cách chủ quan,
phiến diện, một chiều mà nhận ra rằng sự cao đẹp trong tâm hồn con người có thể chiến
thắng hoàn cảnh và không bị hoàn cảnh tác động làm mất đi những giá trị tốt đẹp:
“Trong đầm gì đẹp bằng sen
với các yếu tố bản địa, dần dần tam giáo đã trở thành những trụ cột của tư tưởng Việt
Nam truyền thống.
2.1.
Đạo Phật
Đạo Phật (buddha, tiếng Ấn là giác ngộ) phát sinh và thế kỉ VI –V TCN ở miền
bắc Ấn Độ, trong vương quốc Kavilavasttu gần biên giới Nêpan. Người sáng lập đạo
Phật là Siddharthagautama (Tất Đạt Đa Cồ Đàm), ông sinh năm 624 TCN. Tất Đạt Đa
xuất thân từ gia đình quyền quí Ấn Độ. Ngài được trông chờ sẽ trở thành lãnh đạo của
dân chúng và gắn kết với cuộc sống nhung lụa quyền th
ế. Lúc này ở Ấn Độ, đạo Bà la
môn (Brahmaanism) đang thống trị với sự phân chia đẳng cấp sâu sắc trong xã hội. Do
sự bất bình về phân chia đẳng cấp, kì thị màu da và đồng cảm với nỗi khổ của muôn dân,
Tất Đạt Đa đã từ bỏ của cải, địa vị cao sang để sống đời đạo hạnh, mong đạt đến giác
ngộ để thoát khỏi vòng luân hồi của sinh tử
, đầu thai dẫn đến sự hình thành một tôn giáo
mới. Đạo Phật phản ánh lòng bất bình của quần chúng đối với chế độ đẳng cấp hà khắc
và quyền uy độc đoán của đẳng cấp thống trị Bà La Môn.
Phật giáo là tôn giáo duy nhất bàn trực diện đến con người, lấy con người làm
trung tâm, phân tích ngọn nguồn cuộc sống tâm lí tinh thần của nó để tìm ra phương
sách tự giải thoát, giải thoát cho con người và cho cả
chư thiên. Đạo Phật chủ trương
pháp tính bình đẳng, tất cả chúng sinh đều có Phật tính và đều có thể thành Phật. Phật
khuyên mọi người nên tiết chế dục vọng, có tinh thần vô ngã, vị tha, làm điều lành tránh
sự ác. Phật là biểu tượng của sáng suốt và từ bi.
Đức Phật là người đã chỉ cho chúng sinh phương cách thoát khỏi vòng luân hồi
của sự chết và đầu thai bằng việc đạt đến giác ngộ.
Để làm được như vậy, đức Phật dạy
các môn đồ về Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo, kết hợp lời giảng dạy đạo lí với những
hướng dẫn về suy niệm và thiền định.
Tứ Diệu Đế (bốn chân lí kì diệu) hay Tứ Thánh Đế (bốn chân lí thánh) chính là:
ng) là: đạo vua –tôi, đạo cha –
con, đạo chồng –vợ. Cùng với tam cương là ngũ thường (năm phép ứng xử luân lí và
đạo đức): nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Lễ được đặc biệt đề cao, “tiên học lễ”, tức là tôn trọng
trật tự đẳng cấp xã hội hiện hành. Người mẫu của đạo Nho là người quân tử, tức là người
tuân theo mệnh trời (Thiên mệnh), trung với vua, hiếu với cha mẹ.
Bổn phận c
ủa người quân tử là “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Sau khi
tu sửa, chỉnh đốn bản thân, người quân tử cần hành động. Kim chỉ nam cho mọi hành
động trong công việc cai trị là hai phương châm:
1. Phương châm thứ nhất là nhân trị. Nhân là tình người; nhân trị là cai trị bằng
tình người, coi người như bản thân mình.
2. Phương châm thứ hai là chính danh: chính danh là sự vật phải ứng với tên
gọi, mỗi người phải làm đúng với chức phận c
ủa mình. Chính danh trong cai trị là phải
làm sao để “vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con” (luận ngữ).
Khổng Tử nói: con em ở trong nhà thì hiếu, ra ngoài thì kính trọng người tôn
trưởng (đễ), nói năng phải cẩn thận và tín thực, yêu thương rộng rãi mọi người mà thân
cận người nhân. Làm những điều đó dễ dàng (có thừa năng lực) thì cho học văn; kẻ quân
tử học rộng rãi ở văn, kết thúc bằng lễ thì có thể không trái đạo nghĩa.
Nh
ư vậy, quan tâm hàng đầu trong mục tiêu đào tạo con người của Khổng Tử là
có đạo đức, trước hết là trung, tín, hiếu, đễ, cao hơn là yêu thương mọi người, là hướng
về điều Nhân. Theo Khổng Tử, gia đình hạnh phúc sẽ tạo nên cuộc sống yên bình,
Khổng giáo quan niệm sự trợ giúp và tôn trọng lẫn nhau sẽ làm cho gia đình êm ấm,
thuận hoà rồi từ đó xã hội sẽ có tôn ti trật tự
, thanh bình. Nói chung “Nho giáo là một
học thuyết đạo đức, nhấn mạnh đến đạo nghĩa chỉ hướng vào cõi người, chú mục hàng
đầu những nguyên tắc ứng xử xã hội” ( Trần Ngọc Vương, 1998:70).
Đạo Nho có ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng và có khoảng thời gian tồn
tại lâu dài trong hệ tư tưởng của người Việt. Những triết lí của Đạo Nho chủ yếu phục
với thiên nhiên và hoà hợp với cơ thể của mình. Như vậy, Đạo của Đạo gia không giống
Đạo của Nho gia. Nho gia đề cao “Trung chính”, Đạo của Lão –Trang là Đạo tự nhiên.
Nho gia quan niệm về xã hội cũng khác Đạo gia. Nho gia cho rằng kẻ trị vì theo đường
lối chân chính sẽ có nhiều người về theo, con người sống có đức sẽ hạnh phúc lớn, còn
bổng lộc gắn liền v
ới danh vọng, muốn đạt được danh vọng con người cần phải học, đi
từ tu thân, đến tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Trong đó Đạo gia quan niệm xã hội lí
tưởng là xã hội dân ít, nước nhỏ, con người phải sống nhu thuận, không nên tranh giành
nhau. Đặc biệt, điểm tích cực có ý nghĩa muôn thuở của Đạo gia là tư tưởng chống chiến
tranh, tức là chống sự tàn phá thiên nhiên, chống mọi nguyên nhân gây ra do con người
tính tham, tính tranh giành và tiêu di
ệt nhau.
Triết lí sống tối ưu của Lão Tử suy ra là muốn làm việc gì phải đi từ điểm đối
lập, phải “vô vi”. Vô vi không phải có nghĩa là hoàn toàn không làm gì, mà là hoà nhập
với tự nhiên, đừng làm gì thái quá. Vì làm thái quá thì theo luật âm dương “Vật cực tắc
phản”, kết quả thu được còn tệ hại hơn là không làm gì. Theo quan niệm của Đạo gia,
phúc hoạ luôn ỷ phục trong nhau, ranh giới giữa chúng rất khó phân biệt, muốn biết phải
có lòng chí thành.
Quan niệm của Đạo gia phần nào hợp với qui luật của cuộc sống. Tiếp thu
những triết lí sống tích cực của Đạo gia, con người sẽ sống trong hòa bình, không có
chiến tranh. Đây là những triết lí đã được mọi người tiếp nhận và đã đi và đời sống tinh
thần của không ít người dân Việt Nam.
Hồ Cẩm Kim_DH5C2 Trang 13
Luận văn tốt nghiệp Hệ thống triết lý…
II. VĂN HỌC, MỘT PHƯƠNG TIỆN TRIẾT LÍ
Qua cả một quá trình đấu tranh chinh phục thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm,
ông cha ta đã tích lũy được những kinh nghiệm sống, những triết lí sống vô cùng quí
báu. Để lưu truyền lại cho con cháu đời sau, tổ tiên ta đã dùng hình thức truyền miệng là
chủ yếu. Hình thức này đã tạo ra nhiều biến dị trong nhiều câu thành ngữ, quán ngữ…
Đến khi có sự ra đời của vă
sự chiến thắng của cái thiện. Cô Tấm, một nhân vật t
ượng trưng cho sự lương thiện có
lúc tưởng chừng như đã bị các thế lực hiểm ác đánh bại. Nhưng thật ra, đó chỉ là những
hóa thân của Tấm để chống trả lại những mưu mô xảo quyệt của mẹ con Cám. Sự trở về
của nàng Tấm xinh đẹp và kết cục bi thảm của mẹ con Cám như là một minh chứng sinh
động về sức m
ạnh của cái thiện. Nó cổ vũ mọi người hãy làm điều thiện, tránh điều ác
để có những kết cục tốt đẹp về sau. Chủ đề nổi bật trong câu chuyện Cây Khế lại là một
bài học về sự tham lam. Cây Khế toát lên ý nghĩa triết lí giáo dục mọi người từ bỏ tính
tham, biết hài lòng với những gì mình có. Ngoài ra, truyện Thạch Sanh – Lý Thông, Cây
Tre Trăm Đốt, Sự
Tích Trầu Cau,… còn ẩn chứa những bài học răn dạy con người về sự
thật thà, lòng lương thiện, tình nghĩa thủy chung,…
Hồ Cẩm Kim_DH5C2 Trang 14
Luận văn tốt nghiệp Hệ thống triết lý…
Bên cạnh đó, truyện ngụ ngôn tuy có một số lượng câu chữ ít hơn nhưng lại
mang một ý nghĩa sâu xa về những bài học nhân thế của cuộc đời. Truyện ngụ ngôn là
một thể loại dễ tiếp nhận và được khá nhiều người quan tâm. Nhiều lúc truyện ngụ ngôn
mang sắc thái châm biếm trào phúng tạo nên tiếng cười mỉa mai đối với những nhân vật
ích kỉ, keo kiệt, hà tiện, ngu dốt… nh
ưng cuối cùng ý nghĩa thật sự của truyện ngụ ngôn
vẫn là một lời khuyên dạy kín đáo. Với Tam đại con gà, tác giả dân gian tỏ thái độ mỉa
mai, châm biếm những kẻ ngu dốt nhưng lại tỏ ra là hiểu biết. Anh thầy đồ trong câu
chuyện ngụ ngôn trên là một trò cười cho mọi người vì thói sĩ diện hão. Đáng trách hơn
là lão nhà giàu keo kiệt trong truyện Thà chết còn hơn. Vì tiết kiệm mấ
y đồng bạc lão ta
thà chết chứ không chịu để ai cứu mình. Đây là hậu quả đau đớn của thói keo kiệt bủn
xỉn. Không lớn tiếng chê trách, ở Lợn cưới áo mới lại là một nụ cười châm biếm nhẹ
nhàng về thói khoe khoang của hai nhân vật. Trên đây là một số bài học từ những câu
chuyện ngụ ngôn mà cha ông để lại cho chúng ta. Còn rất nhiều câu truyện khác với vô
giáo, của truyền thống dân gian và phát huy những giá trị vốn có của nó, tập hợp thành
một hệ thống triết lí toàn diện trong các sáng tác của mình. Nam Cao
đã làm thành một
nét phong cách sáng tác “hiện lên lừng lững, không lẫn vào đâu được và dường như trở
thành một trong những đầu nguồn của những dòng phong cách truyện ngắn sau Cách
mạng tháng Tám” (Bùi Công Thuấn, 1997:16).
Hồ Cẩm Kim_DH5C2 Trang 15
Luận văn tốt nghiệp Hệ thống triết lý…
CHƯƠNG II
HỆ THỐNG TRIẾT LÍ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA
NAM CAO TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
I. TÍNH TRIẾT LÍ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO TRƯỚC CÁCH
MẠNG THÁNG TÁM
Nhà văn là những người lăn lộn, trải nghiệm cuộc sống, rút ra những vấn đề có
ý nghĩa nhân sinh sâu sắc và phản ánh nó vào trong tác phẩm văn học. Như vậy tác
phẩm văn học là nơi thể hiện quan điểm, cách nhìn, suy nghĩ của nhà văn về cuộc đời.
Để đưa vào tác phẩm tất cả những tư tưởng, tình c
ảm,… nhà văn dùng phương tiện chủ
yếu là ngôn ngữ tác động trực tiếp vào bạn đọc. Trong đời sống, ngôn ngữ là cái vỏ vật
chất của tư duy, là kí hiệu của tư duy. Mọi suy nghĩ, tư tưởng của mỗi người đều thông
qua ngôn ngữ thì người khác mới có thể hiểu và biết được. Trong văn học, ngôn ngữ là
chất liệu chủ yếu và duy nhất. Ngôn ngữ giúp chuyển tả
i tất cả những gì nhà văn cần nói
đến với mọi người. Trong đó, triết lí là vấn đề dễ bộc lộ trực tiếp nhất.
Trong văn học có sự hiện diện và tồn tại của hai loại ngôn ngữ, đó là ngôn ngữ
người dẫn chuyện (tác giả) và ngôn ngữ nhân vật. Hai ngôn ngữ này có lúc tách bạch rõ
ràng, có lúc đan xen vào nhau tạo nên lời văn nửa trực tiếp. Triết lí sống bộ
c lộ chủ yếu
là hoàn toàn mới mẻ, đó là sự kế thừa những triết lí đã có từ trước về vấn đề sinh tử, thế
nhưng Nam Cao đã đặt chúng trong một ngữ cảnh thích hợp và khái quát, đúc rút ra
những chân lí xoay quanh việc sống như thế nào và chết như thế nào cho có ý nghĩa.
Cuộc đời này tươi đẹp và đáng sống biết bao, vì vậy Nam Cao đã rút ra triết lí
“sống khổ đến đâu cũ
ng còn hơn chết” và khẳng định “cái tâm lí chung của người đời
như vậy” (Điếu văn). Nhân vật tôi khi phát ngôn câu nói này mang một tâm trạng đau
đớn khôn nguôi khi nhận được tin bạn mình –anh Phúc đã chết. Cả cuộc đời anh Phúc,
từ thuở ấu thơ đến lúc trưởng thành là một chuỗi ngày khốn khổ, gian truân, không được
một giờ nào sung sướng. Nếu lúc nhỏ anh phải cố gắng làm lụng vất vả
cho một bà chủ
khó tính để mưu cầu miếng ăn thì đến khi lập gia đình anh phải cung phụng cho một
người vợ không chung tình. Đó có lẽ là những nguyên nhân đau thương dẫn đến cái chết
của anh Phúc. Mỗi người khi chứng kiến hoàn cảnh, cuộc đời của anh đều không khỏi
chạnh lòng, xót xa. Sự tàn nhẫn của người chủ và cuộc hôn nhân không tình yêu đã dần
phá hoại cuộc đời của anh. Anh đ
ã chết khi tuổi đời còn quá trẻ, anh lại còn bỏ lại hai
đứa con “ẻo lả như một cái lá úa và buồn như một tiếng thở dài”. Sự xót thương của
nhân vật tôi cũng là của Nam Cao đối với số phận một con người. Nam Cao tỏ ra tiếc
nuối về cuộc đời của anh Phúc, nó quá ngắn ngủi. Nam Cao đã đặt sự sống và cái chết
lên bàn cân để cân đo, tính toán và kết luận: sự s
ống, dù là khổ cực, vất vả vẫn hơn là
chết. Triết lí của ông mang nặng tình yêu đời và khát khao cuộc sống.
Cái chết quả là đáng sợ, nó là một lực lượng siêu hình có sức mạnh vạn năng
“Chao ôi! Cái chết còn hung bạo hơn những thằng hung bạo. Những kẻ hung bạo chết
cũng đáng lòng thương hại. Những kẻ hung bạo chết cũng là người chết, nạn nhân của
một sức mạnh mù quáng và khốc liệt”. Ngay cả Trương Rự -một kẻ cướp, một tên đồ tể
khát máu cũng phải khuất phục trước sức mạnh này. Từ ngoại hình đến tính cách, hắn
khiến ai cũng phải ghê sợ. Thế nhưng một cái chết đến đột ngột đã đặt dấu chấm hết cho
cuộc đời Trương Rự. Trương Rự, nỗi kinh hoàng c
hư vô, không còn biết gì nữa cả. Còn đối với chết trong lúc sống, đó là khi thể xác chúng
ta vẫn còn tồn tại, ta v
ẫn còn hiện diện trên cõi đời này nhưng thực ra cái tâm hồn đã
không còn nhận biết được những giá trị đích thực của cuộc sống. Chúng ta không nên sợ
cái chết thật sự sẽ đến với mọi người, đó là qui luật của cuộc đời. Thật đáng sợ đối với
cuộc đời mỗi con người khi trông vẻ bề ngoài thì sự sống vẫn còn hiện diện nhưng tâm
hồn thì đã cằn cỗi, khô héo, đã “chết” từ lâu. Với một đầu óc nhạy bén, một cái nhìn có
khả năng bao trùm thực tại xã hội, Nam Cao đã nhận ra một vấn đề tuy đơn giản nhưng
lại mang một ý nghĩa triết lí sâu xa, thâm thúy. Vấn đề chủ yếu mà ông muốn nói đến ở
đây là mỗi con người cần sống như thế nào cho có ý nghĩa.
Đồng thời với việc chỉ ra hi
ện tượng chết trong lúc sống, Nam Cao đã đưa ra
một quan niệm sống hết sức tiến bộ cho nhân loại. Nam Cao lớn tiếng dứt khoát không
chấp nhận một cuộc sống không linh hồn, không tư tưởng. Sống, đúng với ý nghĩa của
nó là một cuộc sống có ước mơ, có lí tưởng, có hoài bão… có sự phấn đấu để đạt được
những hoài bão, khát vọng đó, hơn hết là phải biế
t vượt qua những khó khăn thử thách,
sóng gió trong cuộc đời để thực hiện trong lí tưởng. Sống không nên hiểu chỉ là hưởng
thụ, cũng không phải là những con người hèn mọn chỉ vì vật chất tầm thường mà đánh
mất cả nhân cách và phẩm giá. Nếu hằng ngày, con người cứ bị gánh nặng áo cơm ghì
sát đất, có thể người ta sẽ trở thành nạn nhân của chính bản thân họ. Quan trọng là con
người phả
i biết phấn đấu vượt qua để chiến thắng hoàn cảnh, nếu như buông xuôi và
dừng lại, phó mặc cuộc đời trôi theo những giá trị tầm thường thì khác chi người ta đã tự
giết mình. Đó chính là cái chết trong lúc sống, cái này còn đáng sợ hơn cái chết thật sự,
đây là cái chết trong tâm hồn. Tất cả những người có nhận thức, có cái nhìn bao quát,
rộng lớn đều không thể nào chịu đựng và chấp nhậ
n một cuộc sống như thế.
Nhưng riêng Tự Lãng trong truyện ngắn Chí Phèo lại có một triết lí sống khác,
rất riêng và độc đáo. Đối với lão thì sống là một chuỗi ngày say sưa trong men rượu vì
ng con người sẽ
không bao giờ có ánh sáng của hy vọng, của ngày mai.
Trong nhiều tác phẩm của Nam Cao, vấn đề về sự sống và cái chết được nêu
lên như một phần sâu sắc và tâm huyết nhất. Ông tập trung vào vấn đề này nhưng không
chỉ đề cập đến một cách đơn thuần mà qua đó nhằm làm sáng tỏ một lẽ sống, một cách
sống cao đẹp. Những triết lí về sự sống và cái chế
t thấm nhuần tư tưởng nhân văn và
tinh thần nhân đạo của Nam Cao.
Hồ Cẩm Kim_DH5C2 Trang 19
Luận văn tốt nghiệp Hệ thống triết lý…
2. Triết lí về Đời, về Kiếp của con người
Trong không ít tác phẩm, Nam Cao đã đề cập đến những vấn đề được khá nhiều
người quan tâm: về sự sống, cái chết, về sự bất công, về miếng ăn,… Trong đó, Nam
Cao tỏ ra rất am hiểu về Đời, về Kiếp con người. Nhiều khi, từ một cuộc đời của một cá
nhân, Nam Cao lại khái quát lên được thành những vấ
n đề lớn có ý nghĩa lớn lao về Đời,
về Kiếp của nhiều người trong xã hội. Nhất là đối với những kiếp người nhỏ bé, nghèo
khổ, Nam Cao lại càng tỏ ra hiểu, thông cảm, đồng cảm sâu sắc hơn bao giờ hết. Điều
này đã chứng tỏ ông có một tinh thần nhân đạo, một tầm nhìn sâu sắc so với nhiều nhà
văn đương thời.
Nam Cao là người bă
n khoăn, trăn trở nhiều nhất về Đời, về Kiếp của con
người. Giọng điệu của ông vang lên mang đầy sự buồn thương, chua chát “Chao ôi! nếu
người ta không ăn thì đời sẽ giản dị biết bao”. Nam Cao tỏ ra vô cùng thương cảm, xót
xa cho thân phận của bà cái Tí trong Một bữa no. Phải, đời sẽ thật giản dị khi người ta
không cần phải ăn, không bị cái đói giày vò, hành h
ạ, không nhất thiết vì miếng ăn mà
phải chịu những cái lườm nguýt đầy khinh khi, danh dự bị đánh mất. Bà cái Tí nhục nhã
vì miếng ăn, chết cũng chỉ vì miếng ăn nhưng lí do bà phó Thụ đưa ra thật vô lí “Người
sâu sắc và thấu hiểu cuộc đời khi nhận ra nỗi lầm than như là một con quái vật cứ đeo
Hồ Cẩm Kim_DH5C2 Trang 20
Luận văn tốt nghiệp Hệ thống triết lý…
bám cuộc đời con người trong xã hội cũ, khiến họ không thể nào thoát ra được. Cách so
sánh như vậy đã làm nổi bậc lên hình tượng bà quản Thích với tất cả những cực khổ,
nhọc nhằn của số kiếp con người.
Xót xa và lòng đầy thương cảm, Nam Cao nhận ra sự bất công của ông Trời,
của cuộc đời này “Tại sao trên đời này lại có nhiều sự bất công đến thế? Tạ
i sao ở hiền
không phải bao giờ cũng gặp lành? Tại sao những kẻ hay nhịn hay nhường thì thường
thường lại chẳng được ai nhịn, nhường mình, còn những kẻ thành công thì hầu hết lại là
những người rất tham lam, chẳng biết nhịn nhường ai, nhiều khi lại xảo trá, lọc lừa và
tàn nhẫn, nhất là tàn nhẫn?”. (Ở hiền). Vấn đề này được Nam Cao đặt ra có sức lan tỏa
rộng lớn, không chỉ đúng ở thời kỳ xã hội lúc bấy giờ, khi mà con người ta đã mất dần
những giá trị nhân cách tốt đẹp, không còn tình thương và lòng nhân ái, chỉ còn lòng
ganh ghét, đố kị và lừa lọc để sống, mà còn đúng ở thời đại chúng ta hiện nay đối với
một số người.
Đặt ra triết lí, Nam Cao đã hoàn toàn phủ nhận những quan niệm mà các tôn
giáo đã từng khẳng định “Ở hiền g
ặp lành”. Nếu ngày xưa, cô Tấm với một tấm lòng
nhân hậu, trung hiếu, qua bao lần hóa thân để đẩy lùi cái ác đã có được một kết cục tốt
đẹp, thì ở đây, Nam Cao đã dẫn người đọc lướt qua cuộc đời của Nhu, một cô gái rất
mực hiền lành bị mọi người hà hiếp, xem thường, coi khinh. Phải chăng “cái nghề đời
hiền quá hóa ngu” (Chí Phèo). Nam Cao đã rất sâu sắc khi nhận ra
điều đó. Khi đặt chữ
hiền và hèn ở cạnh nhau, ta thấy nó khác biệt nhau một cách không đáng kể. Nam Cao
đã khuyên chúng ta muốn tồn tại và để thành công trong cuộc sống, con người cần phải
khôn ngoan, khéo léo khi lựa chọn cách sống và lối sống. Hiền lành là tốt, là lối sống
tích cực nhưng hiền quá mức lại là một lối sống tiêu cực, đó có thể là một biểu hiện của
cái chết trong lúc số
giàu khó nu
ốt. Ăn của họ mà không làm lợi cho họ được thì họ làm cho đến phải mửa ra
mà giả họ”. (Một đám cưới). Anh Phúc cũng đã phải làm lụng vất vả, bệnh cũng không
dám nghỉ ngơi, hết sức trung thành trong vai trò một người ở, thế nhưng chủ lại chẳng
chút thương tình. Bọn nhà giàu hầu hết đều giống nhau, Nam Cao khẳng định “Gợi lòng
thương của một người chủ tham lam còn khó lắm thay”. (Điếu văn). Cái ranh giới giàu
nghèo là một bức tường kiên cố không thể nào phá vỡ nổi, tạo nên sự bất công của cuộc
đời. Khó có một sức mạnh nào giải quyết được vấn đề này một cách thỏa đáng. Bởi
chẳng có giải pháp nào cho cuộc đời, cho số phận con người nên ông buông xuôi với
một cái nhìn cam chịu trong một cuộc sống khép kín “Ông cũng vậ
y mà tôi cũng vậy, ít
ra chúng ta cũng còn một xó để tự do. Khi cửa nhà chúng ta khép kín, ta có thể lố lăng
mà không bận vì đến ai” (Đôi móng giò).
Trong những truyện ngắn của Nam Cao, hầu hết các câu chuyện rất ít những sự
kiện, biến cố. Những sự kiện biến cố lại thường diễn ra theo cái nhịp điệu đều đều, buồn
tủi, lặp đi lặp lại tạo nên âm đ
iệu của cuộc sống quẩn quanh, bế tắc không lối thoát.
Nhân vật trước những sự kiện không bao giờ có những hành động quyết liệt để đấu
tranh, phản kháng. Dì Hảo trong truyện ngắn cùng tên chỉ biết làm lụng vất vả, không
một lời than, một tiếng oán trách, chỉ biết nhẫn nhục chịu đựng. Sự nhẫn nại ấy cứ lặp đi
lặp lại nh
ư một điệp khúc buồn thảm trong cuộc đời nhân vật. Khi người chồng phụ bạc
đưa về một người đàn bà trơ tráo thì dì Hảo “ngạc nhiên. Rồi thì dì tức tối. Sau cùng thì
dì nhẫn nại; phải, nhẫn nại là hơn: nếu hắn không về thì cũng thế”. Đến khi tất cả bỏ đi
thì dì Hảo cũng “ngạc nhiên. Rồi thì dì tức tối. Sau cùng thì dì nhẫn nại; phả
i, nhẫn nại
là hơn: nếu hắn không về thì cũng thế”. Nhân vật Nhu trong Ở hiền cũng sống một cuộc
đời buồn thảm, nhàm chán, không hề có ánh sáng niềm vui và cũng nhẫn nhục chịu
đựng giống hệt như dì Hảo “cả đời chỉ biết cúi đầu cúi cổ nai lưng ra làm”. Cuộc đời
của nhân vật cứ như cánh bèo trôi nổi bị dòng đời xua đẩy, cứ khô héo và tàn lụ
ắn nhủ với tất cả mọi người: đừng nên vì thỏa mãn thú vui
bản thân mà đùa quá trớn, nó có thể gây tổn thương cho rất nhiều người khác. Và hãy
nên có thái độ trân trọng đối với từng con người ở xung quanh ta.
Trong Lão Hạc, triết lí về Đời về Kiếp con người vang lên bằng một giọng
buồn thương, ngậm ngùi, tiếc nuối: “Ấy! Sự đời lại cứ thường như vậ
y đấy. Người ta
định ra chẳng bao giờ người ta làm được”. Trong truyện ngắn này, Lão Hạc là một
người cha rất mực thương con và giàu lòng tự trọng, đây là một nhân vật đẹp mang tính
nhân văn cao cả của Nam Cao. Cuộc sống nghèo khổ khốn cùng cứ dai dẳng đeo bám,
bóp chết cả ước mơ, hi vọng của gia đình Lão Hạc. Chỉ có mảnh vườn là tài sản duy
nhất do vợ để lại, Lão Hạ
c không nỡ bán đi vì nếu bán đi rồi, dù đủ tiền cưới vợ, vợ
chồng con trai lão cũng chẳng biết ở đâu. Tất cả dự định, mong muốn của Lão Hạc đổ
vỡ tan tành khi con trai lão phẫn chí ra đi, để lại một mình lão bơ vơ ngồi đếm tháng
ngày trôi.
Có một gia đình sum vầy, con cháu quây quần bên cạnh lúc tuổi già là một ước
muốn tưởng chừng như đơn giả
n với tất cả mọi người, thế nhưng đối với Lão Hạc, đó lại
là một ước mong quá đỗi xa vời. Nỗi đau khổ của Lão Hạc đâu chỉ có thế, vì “Đời người
ta không chỉ khổ một lần”. Câu triết lí hoàn toàn đúng đối với từng nhân vật trong truyện
ngắn Lão Hạc của Nam Cao. Cả vợ chồng ông giáo và Lão Hạc đều có một số phận h
ẩm
hiu, một cuộc đời nghèo khổ. Vì khó khăn, ông giáo phải bán cả áo quần và nhiều thứ
khác, trừ những quyển sách mà ông rất quí vì nó chứa đựng tất cả những ước mơ, hoài
bão, lí tưởng của tuổi trẻ. Nhưng cuối cùng, túng bấn, cùng quẫn trong cuộc sống gia
đình, ông giáo đã bán nốt mấy quyển sách quí.
Ông giáo đã từng có ý nghĩ, sự đau xót của Lão Hạc khi mất con chó vàng
không sao sánh bằng nỗi đau khi ông m
ất những quyển sách quí. Nhưng có đi sâu vào
tác phẩm, thấu hiểu hết Lão Hạc ta mới nhận ra những nỗi đau to lớn mà Lão Hạc phải