BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC NGUYỄN THỊ MAI LINH
NHÂN VẬT SÁM HỐI TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA
NAM CAO TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
NĂM 1945
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Sơn La, năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Em xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Thị Mai Linh
K50 ĐHSP Ngữ văn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận 4
3.1. Mục đích nghiên cứu 4
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của khóa luận 5
4.1. Đối tượng nghiên cứu 5
4.2. Phạm vi nghiên cứu 5
5. Phương pháp nghiên cứu 5
6. Đóng góp của khóa luận 5
7. Cấu trúc của khóa luận 6
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 7
1.1. Khái quát về tác giả Nam Cao 7
1.1.1. Tiểu sử và con người 7
1.1.2. Quan điểm nghệ thuật 9
1.1.3. Sự nghiệp sáng tác 12
1.2. Một số khái niệm cơ bản 15
1.2.1. Khái niệm sám hối 15
1.2.2. Nhân vật sám hối trong văn học 16
Tiểu kết 18
CHƯƠNG 2: NHÂN VẬT SÁM HỐI TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA
NAM CAO TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 20
2.1. Sám hối - triết lý tình thương, lòng vị tha của Nam Cao 20
1.2. Trong các truyện ngắn của Nam Cao trước Cách Mạng Tháng Tám,
chúng tôi nhận thấy khá nhiều truyện ngắn của ông xuất hiện nhân vật sám hối.
Là một “Người thư kí trung thành của thời đại”, cùng với tài năng, sự sáng tạo,
Nam Cao đã đi tìm cho mình một lối đi riêng: Khám phá thế giới tinh thần của
con người, khám phá phẩm chất, nhân cách của con nguời. Đi theo hướng này,
nhà văn đi sâu vào phản ánh hiện thực qua những bi kịch của cuộc đời mỗi nhân
vật: Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người, bi kịch tình thương, bi kịch vỡ mộng, bi
kịch sống mòn. Để từ đó giúp bạn đọc có một cái nhìn đầy đủ nhất về hiện thực
đời sống xã hội; khơi gợi tình thương, sự đồng cảm của bạn đọc; thấy được tấm
lòng nhân đạo, yêu thương con người của nhà văn; đồng thời mang lại giá trị
nhận thức, giá trị giáo dục vô cùng sâu sắc đối với người đọc bởi bản thân người
đọc khi đọc những nhân vật sám hối dường như cũng tự mình cảm thấy sám hối
2
cho chính mình. Vì vậy, tìm hiểu đề tài nhằm khẳng định những đóng góp của
Nam Cao, khẳng định giá trị nhân đạo và hiện thực qua những sáng tác của ông.
1.3. Nam Cao còn là một trong những tác gia lớn được giới thiệu trong
chương trình giảng dạy môn Ngữ văn ở nhà trường phổ thông và Đại học. Tìm
hiểu về nhân vật sám hối trong truyện ngắn của Nam Cao trước Cách mạng
Tháng Tám để hiểu rõ giá trị ẩn chứa trong tác phẩm của ông là một việc làm
thiết thực và thích hợp, có thể giúp ích cho việc tiếp cận tác phẩm của Nam Cao,
tìm hiểu giá trị về nội dung và tư tưởng nhân đạo của nhà văn.
Với đề tài này, chúng tôi mong muốn đi sâu vào vào việc tìm tòi và khám
phá các tác phẩm của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám có xuất hiện nhân
vật sám hối. Hi vọng sự tìm tòi và khám phá ấy sẽ trở thành một tài liệu hữu ích
đối với các bạn sinh viên yêu thích, tìm hiểu môn Ngữ văn và đặc biệt yêu thích
Nam Cao và những sáng tác của ông. Trong thực tiễn giảng dạy và nghiên cứu,
việc hiểu và truyền đạt cho học sinh về nhân vật văn học nhất là nhân vật sám
hối trong tác phẩm của Nam Cao là một vấn đề rất khó nhiều khi còn nhiều hạn
chế, mơ hồ và chung chung. Vì vậy với mong muốn cho việc giảng dạy và
Từ giọng nói đẫm nước mắt “Anh anh chỉ là một thằng khốn nạn. Anh
không thể tha thứ cho mình” [11, 421 – 422].
Cũng trong bài viết này, tác giả Nguyễn Hoành Khung có đề cập đến hình
ảnh nước mắt - một biểu hiện của sự sám hối trong truyện ngắn Nam Cao. Tác
giả đưa ra nhận định: “Trong sáng tác, Nam Cao đã nhiều lần đề cập và ca ngợi
nước mắt. Nhân vật tiểu tư sản của ông không ít tật xấu và lỗi lầm nhưng thường
là những người hay bị hối hận giày vò và thường khóc vì hối hận. Đó không
phải là thứ “hối hận” ồn ào hời hợt của những kẻ lấy việc xỉ vả mình để khoe
khoang, cũng không phải thứ “hối hận” có chu kì của nhiều kẻ tiểu tư sản dùng
để xoa dịu cái lương tâm rách nát của mình trong khi vẫn buông mình theo cái
xấu. Mà đó là sự giằng xé chảy máu của những tâm hồn trung thực, khao khát
lương thiện ” [11, 422].
2.2. Trong bài viết Tính chất lưỡng hóa trong nhân vật Chí Phèo của
Nguyễn Quang Trung ông đã tìm hiểu về khái niệm tính chất lưỡng hóa trong
nhân vật hay nói cách khác chỉ ra được đặc điểm tính cách của nhân vật sám hối:
“ nhân vật có những phản ứng (tâm, sinh lý) luôn có sự dao động trước các
tình huống của môi trường. “Dao động” tức là không đứng im, cũng không phải
là sự vận động một chiều mà là sự vận động qua lại, tạo nên một kiểu nhân vật
không thuần nhất mà luôn dằng co, tự mâu thuẫn rất phức tạp. Cụ thể hơn, tính
dao động của nhân vật lưỡng hóa được biểu hiện bên ngoài ấy phản ánh (hay
chịu sự chi phối) những dao động phức tạp của những yếu tố bên trong như tư
tưởng, tình cảm, đạo đức ” [ 11, 347].
2.3. GS Nguyễn Văn Hạnh trong “Nam Cao một đời người một đời văn”
có viết: “Trong tác phẩm của Nam Cao con người sống trong một xã hội thật dữ
dằn, cay nghiệt, hoàn cảnh như muốn nghiền nát con người đi, nhưng con người
vẫn không chịu khuất phục, vẫn cố ngoi lên để sống, để bộc lộ tình cách, để làm
người. Cuộc đấu tranh khi quyết liệt khi âm thầm của con người với hoàn cảnh
và với chính bản thân mình để tìm lối ra, để vươn tới ánh sáng, giữ gìn các giá
4
khai thác giá trị nội dung và tư tưởng nhân đạo của nhà văn trong việc phản ánh
hiện thực đời sống và nhân cách con người trong một số truyện ngắn của Nam
Cao trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.
5
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của khóa luận
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu nhân vật sám hối trong truyện ngắn của Nam Cao trước Cách
mạng tháng Tám năm 1945.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Ở đề tài này, chúng tôi đi nghiên cứu những truyện ngắn Nam Cao trước
Cách mạng tháng Tám có xuất hiện nhân vật sám hối. Trong quá trình tiến hành
nghiên cứu vấn đề, chúng tôi có đối sánh với sáng tác của một số nhà văn cùng
viết về vấn đề này.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp trong đó chú trọng đến các
phương pháp: Khảo sát và thống kê, phân tích, so sánh, bình luận.
- Phương pháp khảo sát, thống kê: Đây là những phương pháp quan trọng
dựa vào việc khảo sát, thống kê cụ thể để chứng minh cho những nhận định,
đánh giá. Với số lượng sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám,
phương pháp khảo sát, thống kê khiến cho nghiên cứu tránh được cảm giác sa đà
mà đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề quan trọng.
- Phương pháp phân tích văn học: Đây là phương pháp được sử dụng
thường xuyên trong quá trình thực hiện đề tài nhằm làm rõ hơn về Nhân vật sám
hối trong trong truyện ngắn của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám năm
1945. Tuy nhiên một số truyện được phân tích tương đối toàn diện, một số
truyện chỉ phân tích một mặt nào đó để làm sáng tỏ những nhận định, đánh giá
xoay quanh nhân vật sám hối trong tác phẩm của Nam Cao.
Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri, sinh ngày 29 tháng 10 năm 1915, trong
một gia đình nông dân nghèo ở làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang,
Phủ Lí Nhân, tỉnh Hà Nam (nay là xã Hòa Hậu huyện Lí Nhân tỉnh Hà Nam).
Bút danh Nam Cao được ghép từ hai chữ đầu của tên huyện và tên tổng. Ông
sinh ra trong gia đình ngèo, cha là Trần Hữu Huệ, làm nghề trạm trổ và bốc
thuốc bắc. mẹ là Trần Thị Minh làm vườn và dệt vải.
Nam cao là con một gia đình đông anh em, là anh cả của bốn em trai và ba
em gái. Ông cũng là người duy nhất được học hành tử tế. Năm 1922, Nam Cao
theo học một trường tư ở trong làng, sau đó học tiểu học và Thành chung ở Nam
Định. Đầu năm 1935, ông từ Nam Định về quê chữa bệnh. Tháng 10 năm 1935,
Nam Cao lập gia đình cùng bà Trần Thị Sen. Nhưng cuối năm ấy Nam Cao vào
Sài Gòn với cậu mở một hiệu may và sống ở đó ba năm. Ở đây ông có điều kiện
tiếp xúc với nhiều tầng lớp xã hội: Công nhân, học sinh, binh lính , đã thấm
đẫm không khí đấu tranh sôi nổi của thành phố Sài Gòn trong những năm cao
trào Mặt trận dân chủ. Tầm mắt được mở rộng, Nam Cao bắt đầu sáng tác và có
rất nhiều ước mơ, hi vọng.
Năm 1938, ông bị ốm nặng do bệnh tim và tê thấp. Ông trở ra Bắc, tự học
và thi đỗ bậc Thành Chung. Sau đó Nam Cao nhận dạy học ở một trường tư ở
vùng ngoại ô Hà Nội. Cuộc sống của một thầy giáo khổ trường tư đã giúp ông
hiểu sâu sắc thân phận của người trí thức tiểu tư sản nghèo trong một xã hội ngột
ngạt bế tắc và được ghi lại một cách chân thực trong tác phẩm Sống Mòn.
Năm 1940 quân Nhật vào Đông Dương, trường Công Thanh bị đóng
cửa. Nam Cao phải sống long đong bằng đủ nghề: Viết văn, làm báo, làm gia
sư, có khi thất nghiệp về quê ăn bám vợ. Nam Cao sống ở nông thôn, sống
trong cảnh nghèo khổ của một gia đình đông con, đã từng trải qua và tiếp xúc
với cuộc sống thất nghiệp, mòn mỏi của tầng lớp trí thức. Đây cũng là lý do
giải thích tại sao Nam Cao thành công ở hai mảng đề tài lớn đó là: Người
nông dân và người tri thức.
Năm 1943, Nam Cao gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc cùng một số nhà
văn như Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, Nguyên Hồng. Nhưng
chứa trong lòng tâm sự của người nghệ sĩ: Tài cao phận thấp, chí khí uất (Tản
Đà) đó cũng là tâm trạng phản kháng mãnh liệt của người tri thức tiến bộ với cái
xã hội bóp nghẹt cuộc sống của con người. Ông thù ghét những sách phù phiếm,
nói những chuyện rắc rối của những kẻ ăn không ngồi rồi.
Sinh ra và lớn lên ở vùng đồng bằng Bắc Bộ nghèo khổ, tiêu điều. Nam
Cao gắn bó với bà con nông dân nghèo khổ ruột thịt. Đó là bà ngoại của nhà
văn, ở góa từ năm 22 tuổi, suốt cuộc đời cực nhọc, vất vả nuôi con cháu; đó là
người mẹ hiền lam lũ; người vợ chịu thương, chịu khó của nhà văn; đó là người
9
dì nuôi, đã ẵm bế nhà văn khi còn tấm bé và hình ảnh những con người ấy trở đi,
trở lại trong nhiều sáng tác của Nam Cao. Tác phẩm của Nam Cao luôn thể hiện
lên cái làng Đại Hoàng thân thuộc của mình. Hình ảnh làng quê và bà con nông
dân nghèo khổ ở quê hương luôn sống trong lòng Nam Cao, đã nâng đỡ, an ủi
nhà văn khi bi quan, bế tắc; đã giúp nhà văn trước vực thẳm của sự sa ngã và
tuyệt vọng. Mỗi thiên truyện của Nam Cao về nông dân là một bản kể khổ
đầy ân tình của người con xa quê. Nam Cao đã chết trên đường về quê hương,
trong khi đang ủ ấp những dự định lớn về cuốn tiểu thuyết quê hương từ lâu.
Cái chết ấy nói lên thật thấm thía về sự gắn bó thiết tha của nhà văn với quê
hương nghèo.
Là một thanh niên tư sản trí thức, lại sống giữa xã hội đầy rẫy xấu xa, Nam
Cao không phải không bị tiêm nhiễm sự tiêu cực. Nhưng điểm đặc biệt đáng quý
ở Nam Cao luôn tự đấu tranh nghiêm khắc để vượt lên chính bản thân, vượt lên
khỏi cuộc sống tầm thường, nhỏ nhen, đê tiện để vươn tới cái đúng, cái tốt đẹp.
Nam Cao hay bị hối hận, giày vò đến đau đớn những lỗi lầm của mình. Đó
không phải là sự hối hận chu kì của nhiều chàng tiểu tư sản dùng để xoa dịu
lương tâm trong khi vẫn buông lỏng theo cái xấu, mà theo Tô Hoài đó là những
giằng xé chảy máu của một tâm hồn trung thực vô ngần, cố giữ thiện căn trong
cuộc đời bẩn thỉu luôn khao khát “một tâm hồn trong sạch và mơ tới cảnh sống
của những con người chật hẹp” [2, 40].
ra từ những kiếp lầm than” [7, 221]. Bằng lập trường nhân đạo của mình, Nam
Cao lên án xu hướng thoát li tiêu cực của văn chương lãng mạn đương thời,
chạy theo cái đẹp, đắm chìm trong cái đẹp nhưng lại quay lưng với đời sống
thực tại, làm ngơ trước những đau khổ của nhân dân. Ông đòi hỏi nghệ thuật
phải trở về với đời sống hiện thực, phản ánh chân thật hiện thực lúc bấy giờ đó
là tình trạng thống khổ của nhân dân lao động “Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng
đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than” (Giăng Sáng). Nghệ thuật chân
chính phải nhìn thẳng vào sự thực tàn nhẫn phải nói lên được nỗi thống khổ của
nhân dân, nghệ thuật phải vì nhân dân mà lên tiếng.
Nam Cao cho rằng người cầm bút phải có lương tâm, phải biết đứng trong
lao khổ mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của cuộc đời. Và ở Đời Thừa
ông lại khẳng định một tác phẩm có giá trị phải “Nó phải chứa đựng một cái gì
lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng tình thương, lòng
bác ái, sự công bình. Nó làm cho người gần người hơn” [7, 263]. Ý thức được
điều này, trong các sáng tác của mình, Nam Cao luôn kết hợp sâu sắc giữa giá trị
nhân đạo và giá trị hiện thực. Ông luôn tâm đắc với câu nói của Francoie
Coppee: Người ta chỉ xấu xa, hư hỏng trước đôi mắt giáo hoảnh của phường ích
kỉ, và nước mắt là một miếng kính biến hình vũ trụ. Và chính điều đó thể hiện
giá trị cao nhất của tình người. Trong sáng tác của ông không có nước mắt giả
dối. Tình thương với con người là cái gì đó cao quý lắm. Nếu không có tình
thương thì con người trở thành quái vật, bị xui khiến bởi lòng tự ái. Vì vậy, chủ
nghĩa nhân đạo có thể nói là một đặc điểm cơ bản trong sáng tác của Nam Cao.
Nó được thể hiện qua sự cảm thông không che đậy với những con người đáng
thương cùng khổ (Dì Hảo, Lão Hạc, Một Đám Cưới…) trong sự bênh vực, minh
11
oan cho những con người khốn khổ, tủi nhục, bị xã hội và cuộc đời xua đuổi, hắt
hủi, khinh miệt một cách bất công (Chí Phèo, Lang Rận, Tư cách mõ) cũng như
trong việc vạch trần những hành vi nham hiểm, tàn bạo của bọn địa chủ, cường
hào, giắc gieo bao tội ác lên đầu những người dân hiền lành, lương thiện. Có thể
biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái
gì chưa có” [7, 254]. Nam Cao khẳng định điều này và ông trải nghiệm nó bằng
chính những năm tháng đầu đời cầm bút của mình. Lúc đó Nam Cao viết theo
12
những khuôn mẫu của văn chương đương thời. Nó thiếu đi hơi thở của cuộc đời,
nó thoát li cuộc sống và sau đó ông chuyển sang khuynh hướng hiện thực và
cũng từ đó trên những trang viết của ông ấm nồng sự sống của cuộc đời và với
ông sáng tạo là cách làm nên những tác phẩm mang chính hơi thở của mỗi nhà
văn. Nam Cao cho rằng nghề văn là một nghề cao quý đòi hỏi nhà văn phải có
lương tâm, trách nhiệm. Nam Cao cho rằng: “Sự cẩu thả trong văn chương thì
thật là đê tiện” [7, 254].
Nhà văn Hộ trong Đời Thừa đã đau đớn day dứt khi thấy tên mình lu mờ đi
trước những tên tuổi mới. Cứ mỗi lần đọc lại một cuốn sách hay một đoạn văn
ký tên mình anh lại “đỏ mặt lên, nghiến răng, vò nát sách và mắng mình như
một thằng khốn nạn” [7, 254]. Anh tự xỉ vả mình khi nhìn những cuốn văn viết
vội, đỏ mặt lên xấu hổ khi đăng những bài báo “người đọc quên ngay sau khi
đọc”( Đời thừa). Hộ cay đắng nhận ra rằng: Thế nghĩa là hắn là một kẻ vô ích,
một người thừa vì hắn chẳng đem lại một chút gì mới lạ đến văn chương. Như
vậy, ta thấy Nam Cao rất coi trọng chủ thể sáng tạo. Chúng ta cũng hiểu được tại
sao tác phẩm của ông lại viết về những cái tưởng như đơn giản, nhỏ nhặt, vụn
vặt thôi nhưng lại chứa đựng ý nghĩa, tư tưởng lớn lao, sâu sắc đến như vậy. Từ
những nhận thức đó, Nam Cao đã khẳng định được nhà văn phải là những người
khám phá những nét bản chất của đời sống ở bề sâu của nó chứ không phải cái
nhìn hời hợt bên ngoài. Điều này không chỉ là quan niệm mà còn là nỗi trăn trở
suốt cả cuộc đời cầm bút của nhà văn và cũng vì điều ấy trong tác phẩm của ông
luôn lấp lánh sự sáng tạo.
Trong Sống mòn của Nam Cao đã thể hiện văn chương như một vũ khí
chiến đấu “tạng người như y cầm súng, cầm gươm. Y sẽ cầm bút mà chiến đấu”.
Quan điểm này giúp cho Nam Cao rất gần với các nhà văn cách mạng. Văn học
cạnh một số truyện: Trẻ con không được ăn thịt chó, Mua danh, Tư cách mõ,
Điếu văn, Một đám cưới, Dì Hảo, Lang Rận, Nửa đêm… nổi lên hai truyện đứng
vào hàng kiệt tác: Chí Phèo và Lão Hạc. Nhà văn quan tâm trước hết những kẻ
bần cùng, thấp cổ bé họng, hiền lành nhẫn nhục, bị đối xử bất công, bị xô đẩy
vào con đường lưu manh, đánh mất nhân tính lúc nào không hay (Chí Phèo, Một
bữa no, Lang Rận, Tư cách mõ…). Nhân vật Chí Phèo hiện ra như một chứng
tích đáng thương và ghê rợn về sự hủy diệt tàn bạo của cái xã hội bất lương và
phi nhân tính đối với thể xác và linh hồn của con người.
Tuy vậy, ngay trong những số phận tưởng như mất hết nhân tính, đứng
ngoài lề xã hội, nhà văn vẫn phát hiện ở họ những khát vọng hướng thiện, những
đốm sáng nhân bản lấp lánh đáng quý. Đây chính là chiều sâu và nét độc đáo
trong chủ nghĩa nhân đạo của Nam Cao. Viết về loại nhân vật nông dân, Nam
Cao đặt vấn đề cách nhìn quần chúng, phải biết vượt qua cái bề ngoài gàn dở,
lẩm cẩm, ngu dốt để mà gần họ, cố mà tìm hiểu cái bản tính tốt ở họ thường bị
che lấp, vùi dập, không được phép tàn nhẫn, ghẻ lạnh với họ. Chủ đề này phát
hiện rõ nhất ở trong Lão Hạc (1943) và được phát triển trong một hoàn cảnh mới
ở truyện Đôi mắt (1948).
Tuy chưa giác ngộ chân lí cách mạng, nhưng chịu ảnh hưởng ít nhiều
của Hội văn hóa cứu quốc, Nam Cao cũng ít nói tới tương lai với một tâm
14
trạng náo nức và đầy hi vọng về khả năng đổi đời của con người; Sự đời
không thể cứ mù mịt mãi thế này đâu. Tương lai phải sáng sủa hơn. Một rạng
đông đã báo rồi. Đó là một dự cảm chính xác của nhà văn trong đêm trước
cách mạng toàn dân tộc.
Sau Cách mạng tháng Tám, Nam Cao cũng như nhiều văn nghệ sĩ khác tự
nguyện, hăm hở đi theo kháng chiến. Nam Cao không ngại khó, ngại khổ, tự
nguyện làm tuyên truyền viên vô danh cho cách mạng, đồng thời có ý thức rèn
luyện, cải tạo mình. Tâm niệm chân thành của Nam Cao là: Sống đã rồi hãy viết.
Ông thực sự là một chiến sĩ xông xáo trên các mặt trận, ghi chép, lấy tài liệu,
kể nền văn xuôi Việt Nam, nhất là thể loại truyện ngắn. Nhiều tác phẩm của
Nam Cao cho đến nay vẫn là những mẫu mực bậc thầy, đáng để cho các nhà
văn học tập.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Khái niệm sám hối
Ta có thể thấy có rất nhiều định nghĩa về Sám hối. Theo tác giả Nguyễn
Như Ý trong cuốn Đại từ điển Tiếng Việt giải nghĩa: Sám hối là sự ăn năn, hối
hận về những tội lỗi của mình.
Trong Kinh Pháp Bảo Đàn có nói: Sám giả sám kỳ tiền khiên, hối giả hối kỳ
hậu quá: Sám là sám trừ tội trước, hối là hối cải lỗi sau. [14, 96]. Sám hối là tự
mình ăn năn, hổ thẹn những lỗi lầm trước đây đã tạo, nguyện sửa đổi không dám
tái phạm những lỗi lầm đó nữa. Trong từ Sám hối thì Sám tiếng Phạn gọi là
Samma, tiếng Hoa dịch là hối hóa. Chữ Hối là Hán ngữ, ghép hai từ ngữ Phạn
và Hán lại thành hai chữ sám hối, có nghĩa là ăn năn chừa bỏ và không tái
phạm. Trong đời sống hằng ngày, không ai là không có những lỗi lầm và lỗi lầm
ấy có thể do vô tình hoặc cố ý gây ra. Nhưng dù lỗi lầm đó như thế nào đi nữa
trong thâm sâu của cõi lòng, trong nội tâm, chúng ta thấy mình có tội, nhận ra
tội lỗi của mình, chúng ta phán xét chính mình, nhận điều xấu mình đã làm, hay
cái tâm địa xấu xa của mình và cương quyết thực hiện sửa sai, thì đó mới thật sự
là cốt lõi của việc sám hối. Còn nếu biết lỗi cũ là sai, ăn năn thay đổi, rồi tiếp tục
tái phạm, thì không phải là Sám hối. Nhiều người trong thời đại hôm nay dù đã
làm bao nhiêu điều xấu, vẫn không thấy mình có tội. Họ đã đánh mất ý thức tội
lỗi, và đó là nguy cơ lớn nhất của nhân loại ngày nay. Ta có thể xếp Sám hối
theo một số bước cơ bản sau:
1. Ý thức về tội lỗi.
2. Hối hận, day rứt vì những điều xấu mình đã làm.
3. Quyết tâm thú nhận tội lỗi.
4. Thực sự sửa đổi đời sống.
5. Làm những điều tốt đẹp cho cuộc sống.
Như vậy, Sám hối không phải là rửa tội hay xá tội mà là chấp nhận tội lỗi
hiện tập trung các phẩm chất xã hội, đạo đức của một loại người nhất định của
một thời. Ta bắt gặp loại người nhất định ấy trong tác phẩm của Nam Cao. Khi
miêu tả hạng người nông dân bị bần cùng hóa, lưu manh hóa, trong tác phẩm
Chí Phèo, Nam cao vẫn thể hiện cái nhìn ưu ái, vừa sót thương, vừa trân trọng.
Ông đã phát hiện và khẳng định nhân phẩm đẹp đẽ của người nông dân ngay
trong khi họ bị rạch nát cả bộ mặt người, bị giết chết tâm hồn người. Qua nhân
vật Chí Phèo Nam cao đã nói lên được tiếng nói tố cáo chế độ thực dân phong
kiến chịu sự chi phối bởi quyền lực vạn năng của đồng tiền, bộ mặt đểu cáng của
giai cấp thống trị Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.
Nhân vật sám hối mang đặc điểm của nhân vật tính cách khi nó được mô tả
như một nhân cách, một cá nhân có tính cách nổi bật. Ta lại quay trở lại với Chí
17
Phèo của Nam Cao, mặc dù bị xã hội đẩy từ một anh canh điền thành kẻ lưu
manh nhưng Chí không dừng lại ở quá trình tha hóa mà trong nhân vật này có
sự vận động về tính cách. Từ con quỷ của làng Vũ Đại Chí từng bước vươn
lên thành con người chân chính, lương thiện. Như vậy nhân vật sám hối là
nhân vật không chỉ là nhân vật mang đặc điểm của nhân vật loại hình tập
trung thể hiện phẩm chất của xã hội, đạo đức của loại người nhất định mà còn
là nhân vật tính cách.
Nhân vật sám hối của luôn có sự dao động trước các tình huống của
môi trường hay nói cách khác ở kiểu nhân vật sám hối luôn có sự vận động tính
cách, dao động tâm, sinh lí tức là nhân vật không đứng im, cũng không phải là
sự vận động một chiều mà là sự vận động qua lại, tạo nên một kiểu nhân vật
không thuần nhất mà luôn tự giằng co, giằng xé, giày vò, tự mâu thuẫn rất phức
tạp trong tư tưởng, tình cảm, đạo đức. Để nhân vật tìm đến sám hối thì nhân vật
trải qua cái nhận thức ngộ nhận rồi vỡ lẽ rồi lại ngộ nhận, để rồi cuối cùng kết
thúc bằng sự vỡ lẽ muộn màng. Loại nhân vật sám hối này ta rất dễ gặp trong
những sáng tác của Nam Cao khi viết về tầng lớp trí thức tiểu tư sản như
Điền, Thứ hay Hộ khi bị rơi vào bi kịch vỡ mộng và bi kịch chết mòn về tinh
sản như Hộ, Điền, Du hay nhân vật “tôi” , khi nhìn lại thực tại cuộc đời mình
những dằn vặt, những ân hận, những day dứt và cả những giọt nước mắt nghẹn
ngào. Họ không kết liễu cuộc đời mình bằng những cái chết đau đớn nhưng cái
chết của họ lại là cái chết tinh thần.
Như vậy, nhân vật sám hối trong văn học là nhân vật biết tự nhìn nhận
đánh giá bản thân mình để từ đó có ý thức gột rửa sai lầm, tội lỗi của bản thân.
Nhân vật sám hối không gồm hai mặt chính diện và phản diện rạch ròi và nhân
vật này cũng không thống nhất giữa diện mạo và phẩm chất. Ở nhân vật này mặc
dù tính cách chứa đựng sự đa dạng và phức tạp nhưng rất gần với cuộc sống thực
tế bởi cuộc sống thực tế chi phối và tác động mạnh mẽ đến tính cách nhân vật.
Tiểu kết
Sinh ra trong một gia đình nghèo đông anh em; Nam Cao đã sớm ý thức
được cuộc sống vất vả, thiếu thốn, ông đã sớm bước vào nghề để bươn trải, lo
lắng cho cuộc sống của mình. Ông đã làm nhiều nghề, đi nhiều nơi và tập được
cho mình thói quen quan sát, tìm hiểu nguyên do và từ đó thấu hiêu cuộc đời và
con người. Chính những quan sát, trải nghiệm mà cuộc đời mang lại cho nhà văn
đã giúp ông có vốn sống, vốn hiểu biết, vốn tư liệu phong phú cùng với một tấm
lòng nhân đạo sâu sắc với cuộc đời và con người. Với ý thức lao động nghiêm
túc, ông đã sống và cống hiến hết mình cho đất nước cho nền văn học dân tộc;
xứng đáng trở thành nhà văn lớn của thời đại, một nhà văn chiến sĩ dũng cảm,
kiên cường. Cuộc đời Nam Cao gắn với cuộc sống của người nông dân và người
trí thức tiểu tư sản. Vì vậy, nó có ảnh hưởng rất lớn đến những sáng tác của ông
trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Trong tác phẩm của mình, Nam Cao đã xây dựng nhân vật sám hối có thể
coi là thành công tiêu biểu trong sáng tác của ông. Nhân vật sám hối là nhân vật
có tính cách đa diện, có hành động thực tiễn và hành động tinh thần, Nam Cao
xây dựng cho nhân vật của mình cái quá trình tâm lí. Quá trình tâm lí ấy lại có
đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình… Nó
làm cho người gần người hơn.” [7, 263]. Chính vì chức năng cao đẹp đó nên
mỗi nhà văn chân chính đều ý thức rõ về trách nhiệm của người cầm bút khi họ
đặt bút viết nên những trang văn và cũng là những trang đời. Có nhà văn đã nói:
Người nghệ sĩ trước hết phải là nhà văn nhân đạo từ trong cốt tủy. Và nhà văn
Nguyễn Minh Châu cho rằng: Nhà văn sinh ra ở trên đời cốt để làm cho cái
công việc nâng giấc cho cái công việc giống như nâng giấc cho kẻ cùng đường.
Trái tim người nghệ sĩ đập dưới bìa sách như mạch máu đập dưới làn da
và tấm lòng của Nam Cao cũng giống như trái tim ấy, đang đập từng nhịp trong
mỗi sáng tác của ông. Và nó thật sự cao cả khi ông đã xây dựng nên nhân vật
sám hối. Trong nhiều tác phẩm sám hối đó là những giọt nước mắt nhỏ xuống vì
ân hận, vì thương cho số phận, vì cảnh đời nghiệt ngã hay chỉ đơn giản là vì họ
khóc khi nhận ra chính con người mình và những bất hạnh của những người
xung quanh mình. Nước mắt là một sản phẩm cụ thể của tình cảm. Khi người ta
rơi vào một cảnh huống, một trạng thái nào đó thì dễ nảy sinh tâm trạng, mà
đỉnh cao của trạng thái tình cảm thường biểu lộ bằng những giọt nước mắt. Có
giọt nước mắt sung sướng, có giọt nước mắt ân hận, có giọt nước mắt đau đớn,
xót xa Đó là Hộ trong Đời Thừa, Hộ bật khóc những giọt nước mắt tuy muộn
màng nhưng lại đáng quý. Nam Cao đã từng gọi nước mắt là tấm kính biến hình
vũ trụ, là giọt chân châu của loài người, những giọt nước mắt ấy nhỏ xuống nói
với ta rằng Hộ chưa phải là một con quỷ. Hộ vẫn còn được giữ lại chưa sang tới
bờ vực thẳm của sự ích kỉ. Giọt nước mắt ư? Nếu thành ngữ có câu: Nước mắt
cá sấu chỉ sự giả tạo, để ám chỉ những giọt nước mắt giả dối thì đối với Nam
Cao, ông lại tin tưởng vào giọt nước mắt lương thiện, thiên lương của con
người. Thật mỏng manh dễ vỡ, nhưng nước mắt đã làm một thấu kính nhiệm
màu, sẽ giữ con người ta ở lại bên cái ranh giới của sự tha hóa. Điều đó thể hiện
21
tấm lòng thương yêu và trân trọng con người, cũng như Nam Cao đã từng tìm
thấy ngọn lửa thiên lương trong tâm hồn con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Dù rằng
cách nhìn ấy thường dẫn đến những định kiến sai lầm. Và điều này được thể
hiện qua con người trong tác phẩm của ông thường được soi rọi từ nhiều chiều,
nhiều phía. Ngay cả trong quan điểm nghệ thuật của mình ông cũng đề cao nghệ
thuật chân thực phải vị nhân sinh, phải gắn bó mật thiết với nhân dân. Và một
nhà hiện thực lớn trong văn học Pháp đã không ngần ngại mà nói thẳng ra rằng: