LỜI CẢM ƠN
Em xin trân trọng cảm ơn thầy Hoàng Xuân Thành, và các Thầy Cô
trong Khoa Sử - Địa trường Đại học Tây Bắc đã trực tiếp hướng dẫn, giúp
đỡ em về kiến thức và phương pháp để em hoàn thành được khóa luận tốt
nghiệp này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Thư viện trường Đại học Tây Bắc, và
các bạn trong lớp K50 ĐHSP Lịch Sử đã giúp tôi trong quá trình tìm kiếm
và mượn tư liệu để phục vụ cho việc nghiên cứu và hoàn thành đề tài này.
Được sự giúp đỡ của Thầy Cô và bạn bè, cùng với những nỗ lực của
bản thân, em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp “Quá trình hình thành
và phát triển của đường Hồ Chí Minh trên biển trong giai đoạn 1959 –
1975”. Rất mong được sự góp ý và chỉ dẫn của Thầy Cô, để khóa luận
được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, Tháng 05 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Trần Văn Chính
KẾT LUẬN 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sau năm 1954 tình hình cách mạng miền Nam đang có nhiều chuyển
biến mới, Mỹ đã nhanh chóng nhảy vào miền Nam và lập nên chính quyền
tay sai Ngô Đình Diệm. Chúng đã ra sức phá hoại quá trình hiệp thương
tổng tuyển cử, thống nhất đất nước của ta. Không những vậy chúng còn tăng
cường tàn sát khủng bố và ban hành đạo luật phát xít phản động (10 – 59), lê
máy chém đi khắp miền Nam thẳng tay chém giết, tàn sát nhân dân điều đó
đã gây ra tổn thất không nhỏ cho các lực lượng cách mạng cũng như phong
trào đấu tranh của nhân dân.
Trong bối cảnh đó ánh sáng của Nghị quyết 15 đã đến với cách mạng
miền Nam giữa lúc nhân dân “không thể sống như cũ được nữa”, đã thổi
bùng ngọn lửa “đồng khởi” trên nhiều vùng rộng lớn ở miền Nam. Khiến
cho chính quyền tay sai vô cùng hoang mang lo sợ, nhưng nhân dân miền
Nam lúc này đang rất cần đó là “vũ khí” bởi nếu trong tay họ chỉ có “dao”,
“kiếm” hay “gậy tầm vông” thì không thể đối chọi lại được với vũ khí hiện
đại của kẻ thù được.
Trước yêu cầu bức thiết đó của cách mạng miền Nam. Trung ương
Đảng và Bộ Chính trị đã quyết định chi viện cho miền Nam về vũ khí, trang
thiết bị và nhân lực thông qua con đường huyết mạch “Trường Sơn trên
Cuốn “Đại cương lịch sử Việt Nam” tập 3 của NXB Giáo dục. Cuốn
sách đã dựng lại toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc
và nó cũng đã có đề cập đến hoàn cảnh và sự bức thiết của việc thành lập
đường Hồ Chí Minh trên biển trong giai đoạn này.
Cuốn “5 đường mòn Hồ Chí Minh” của tác giả Đặng Phong, do NXB
Tri thức xuất bản năm 2008. Công trình là sự tái hiện một cách khái quát về
sự ra đời, cũng như phát triển của những con đường chi viện cho miền Nam
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và cũng đã phần nào đề cập đến con
đường Hồ Chí Minh trên biển.
Cuốn “Lịch sử đường Hồ Chí Minh trên biển” NXB Quân đội nhân dân
xuất bản năm 2011. Cuốn sách đã nói về sự hình thành và phát triển của
đoàn tàu không số với những chiến công vang dội đã trở thành kỳ tích của
người chiến sĩ Hải quân trên tuyến đường biển quân sự.
Cuốn “Đường Hồ Chí Minh trên biển - con đường của ý chí và sức sáng
tạo Việt Nam” do NXB Quân đội nhân dân xuất bản năm 2011, cuốn sách là
sự lý giải của những người trong cuộc chiến tranh đã lùi xa, để tìm lại quá
khứ và những bài học lớn góp phần giải quyết những vấn đề ngày càng đa
dạng và phức tạp trong công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo,
thềm lục địa của Tổ quốc hôm nay.
Trên cơ sở tham khảo những đề tài, khóa luận nghiên cứu đi trước, tôi
đã vận dụng vào quá trình nghiên cứu của mình, định hướng nguồn tư liệu,
hướng nghiên cứu để tiếp tục làm sáng rõ những vấn đề mà khóa luận đặt ra.
3
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, mục đích và đóng góp của khóa luận
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là “Quá trình hình thành và phát
triển của đường Hồ Chí Minh trên biển trong giai đoạn 1959 – 1975”.
4
Các công trình nghiên cứu khoa học và những bài viết đã công bố có
liên quan tới khóa luận.
5. Bố cục
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục. Nội dung
chính của khóa luận chia làm 3 chương:
Chương 1: Khái quát tình hình đất nước trong giai đoạn (1959 - 1975)
Chương 2: Quá trình hình thành và triển của đường Hồ Chí Minh trên
biển trong giai đoạn (1959 - 1975)
Chương 3: Đóng góp của đường Hồ Chí Minh trên biển trong giai đoạn (1959 -
1975)
5
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH ĐẤT NƯỚC TRONG GIAI ĐOẠN
chế quản lí nông nghiệp, những công trình thủy lợi được xây dựng như trạm
bơm La Khê, công trình thủy lợi Ấp Bắc – Nam Hồng , đã đảm bảo tưới 6
tiêu cho diện tích gieo trồng. Từng bước xóa bỏ tình trạng lạc hậu trong
nông nghiệp.
Cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân của Mỹ đã ảnh hưởng
đến sản xuất nông nghiệp. Nhân dân miền Bắc vẫn ra sức tăng gia sản xuất,
nhiều hợp tác xã địa phương đạt được “3 mục tiêu”, từ 7 huyện đạt mức 5
tấn trên một hécta trong 2 vụ năm 1965, tăng lên 14 huyện năm 1966 và 30
huyện năm 1967. Nhiều cán bộ, công nhân kỹ thuật được đào tạo phát triển
nông nghiệp.
Năm 1968 nhà nước đề ra rất nhiều biện pháp để phát triển nông
nghiệp, các hợp tác xã tích cực áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ
thuật, áp dụng biện pháp thâm canh tăng vụ, các giống lúa mới được đưa
vào gieo trồng. Nhờ đó nhiều hợp tác xã đạt được mục tiêu 5 triệu tấn trên
một hécta.
Nông nghiệp nước ta trong những năm (1959 – 1975) đã có bước phát
triển vượt bậc về năng suất cũng như công tác quản lý, là cơ sở đáp ứng đầy
đủ nhu cầu về lương thực của chiến trường.
Trong công nghiệp: Sau kháng chiến chống Pháp kết thúc công nghiệp
nước ta bị tàn phá nặng nề, do đó Bộ Chính trị chỉ rõ phải chú trọng phục
hồi công nghiệp.
Với việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần nhất (1961 - 1965). Nhà nước đã
rất chú trọng tới phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lí, nỗ lực vươn
lên trong sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước. Sau kế hoạch 5 năm miền
Bắc đã tạo ra một bước tiến đáng kể về cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội,
một loạt các công trình được hoàn thành như nhà máy điện Thái Nguyên,
nhà máy Supe Phốt Phát Lâm Thao
tháng 11 năm 1968) miền Bắc đã bắn rơi 3243 máy bay trong đó có 6 máy
bay B52, 3 máy bay F111, bắn chìm 143 tàu chiến, ca nô địch. Ngày 31
tháng 11 năm 1968 tổng thống Mỹ phải tuyên bố chấm dứt chiến tranh
không điều kiện ném bom miền Bắc Việt Nam.
Ngày 16 tháng 4 năm 1972, Ních Xơn chính thức tiến hành cuộc chiến
tranh bằng không quân và hải quân phá hoại miền Bắc lần hai. Quân và dân
miền Bắc đã đánh trả không quân Mỹ bằng những đòn đích đáng, góp làm
nên trận “Điện Biên Phủ trên không”. Trong 12 ngày đêm quân ta đã bắn
rơi 81 máy bay trong đó có 61 máy bay B52, 10 máy bay F111, bắn chìm
125 tàu chiến ca nô địch. Với thắng lợi này đã buộc Mỹ phải tuyên bố ngừng
hẳn các hoạt động chống phá miền Bắc ngày 15 tháng 1 năm 1973, và phải
kí Hiệp định Pari ngày 27 tháng 1 năm 1973.
1.1.3. Về xã hội
Cùng với việc phát triển kinh tế, ngay sau khi giải phóng Đảng ta cũng
quan tâm tới việc cải thiện đời sống của nhân dân. Trước hết là tiến hành cải
cách ruộng đất, nhiều nông dân đã có ruộng nhân dân hăng say lao động để
phát triển kinh tế. 8
Các ngành văn hóa giáo dục, y tế phát triển nhanh chóng. Nền giáo dục
được phát triển theo hướng xã hội chủ nghĩa. Hệ thống giáo dục theo chương
trình mười năm đã được khẳng định, giáo dục đại học được chú trọng.
Tiếp tục xóa bỏ tàn tích của chế độ cũ với nhiệm vụ chủ yếu là xây
dựng nền văn hóa mới và con người mới, thực hiện giáo dục phổ thông và
đại học, gắn với cuộc sống và thực tiễn Việt Nam.
Mạng lưới y tế, vệ sinh phòng bệnh ở các địa phương phát triển rộng
khắp. Đến năm 1965 có 70% số huyện có bệnh viện, 90% số xã ở đồng bằng
và 78% xã ở miền núi có trạm y tế. Phong trào rèn luyện thể dục thể thao
được phát triển rộng rãi trong quần chúng nhân dân.
miền Nam. Ngô Đình Diệm, dưới sự giúp đỡ của Mỹ đã đẩy mạnh các hoạt
động thanh lọc, nắm quân đội trong tay và xây dựng chính quyền trở thành
tay sai của Mỹ.
Năm 1959 Diệm ban hành Đạo luật phát xít 10/59 lê máy chém đi khắp
miền Nam. Đầu năm 1960 phong trào “Đồng khởi” bùng nổ ở Bến Tre sau
đó nhanh chóng lan rộng ra các tỉnh Nam Bộ, Trung Trung Bộ và Tây
Nguyên. Phong trào “Đồng khởi” đã làm chính quyền địch tan rã ở nhiều
nơi, chính quyền cách mạng được thành lập ở khắp các vùng miền Nam,
vùng giải phóng được mở rộng. Phong trào đã đánh dấu bước phát triển từ
thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công.
Từ năm (1961 – 1965) Mỹ tiến hành “Chiến tranh đặc biệt” Đáp ứng
yêu cầu của cách mạng miền Nam tháng 1 năm 1961, Trung ương cục miền
Nam được thành lập. Các lực lượng vũ trang thống nhất thành “Quân giải
phóng miền Nam”
Trong khi đó chính quyền Ngô Đình Diệm thường xuyên xảy ra mâu
thuẫn. Tới ngày mùng 1 tháng 11 năm 1963 được sự ủng hộ của Mỹ, hội
đồng tướng lĩnh do Dương Văn Minh cầm đầu làm cuộc đảo chính lật đổ
chính quyền Diệm - Nhu, tạo điều kiện thuận lợi để Mỹ đẩy mạnh chiến
tranh xâm lược.
Với hàng loạt những thắng lợi sau đó như: Bình Giã, Ba Giai, An Lão,
Đồng Xoài…, “Chiến tranh đặc biệt’’ đứng trên bờ vực phá sản. Trước
nguy cơ thất bại của “Chiến tranh đặc biệt” Mỹ đã chuyển sang một chiến
lược mới là “Chiến tranh cục bộ” (1965 - 1968).
Nhân dân ta đã chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của
Mỹ, mở đầu là các thắng lợi ở Núi Thành, Vạn Tường (Quảng Nam). Qua
hai mùa khô (1965 - 1966) và (1966 - 1967), quân ta trong thế trận “chiến
tranh nhân dân” với nhiều phương thức tác chiến đã chặn đánh địch ở khắp
nơi, làm phá sản các cuộc hành quân “Tìm diệt” và “Bình định” của địch, từ
đó đã đánh bại những bước tiến quan trọng trong “Chiến tranh cục bộ” của
Mỹ, tạo cơ sở, điều kiện để Đảng ta đưa ra những nghị quyết quan trọng
tranh xâm lược”. Tức là thừa nhận sự thất bại của chiến lược “Việt Nam hóa
chiến tranh”. Sau đó Mỹ - Ngụy tiếp tục chịu nhiều thất bại đặc biệt là thất
bại lớn nhất của chúng trong cuộc tổng tiến công nổi dậy mùa xuân 1975 với
chiến thắng lịch sử 30/4.
Như vậy từ năm 1954 đến năm 1975 Mỹ – Ngụy, đã áp dụng rất nhiều
loại hình chiến tranh ở miền Nam. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân
và nhân dân ta đã từng bước đánh bại từng chiến lược chiến tranh, buộc Mỹ
phải ngồi vào bàn đàm phán và rút hết quân khỏi miền Nam Việt Nam.
11
1.2.3. Về xã hội
Dưới sự cai trị của Mỹ - Diệm, tình hình xã hội miền Nam có đặc điểm
hoàn toàn khác biệt so với miền Bắc. Khi Mỹ tràn vào miền Nam đầu độc
nhân dân ta nhất là tầng lớp thanh thiếu niên.
Sau khi thiết lập được quyền kiểm soát ở miền Nam, từ giữa năm 1955
Mỹ - Diệm phát động chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” giai đoạn một trên
toàn miền. Đã làm cho nhân dân phẫn nộ dẫn đến hàng loạt các cuộc đấu
tranh đã nổ ra.
Khi tiến hành “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam việc lập ấp chiến
lược được coi là “quốc sách” và “xương sống” của “Chiến tranh đặc biệt”.
Thế nhưng sau mười tám tháng dù đã bỏ ra không ít tiền bạc, nhiều cuộc càn
quét hết sức ác liệt, sử dụng cả máy bay, nhưng chúng vẫn không đạt được
mục tiêu.
Trong giai đoạn từ (1969 – 1975), Mỹ – Ngụy dùng mọi cách để thực
hiện việc “bình định”, “tát nước bắt cá” và đã đạt được một số thắng lợi
nhất định. Cuộc sống nhân dân miền Nam dưới sự cai trị của Mỹ – Ngụy hết
sức khổ cực, y tế giáo dục không được quan tâm và bị bóc lột nặng nề về
kinh tế đã gây nên sự bất mãn trong đồng bào quần chúng nhân dân, vì thế
nhà và đều nhằm giải quyết những mâu thuẫn tồn tại trong phạm vi cả nước
là mâu thuẫn giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ xâm lược cùng bè lũ tay sai.
Đây chính là cơ sở để quân và dân hai miền tiếp tục giành được nhiều thắng
lợi hơn nữa góp phần quan trọng vào sự nghiệp thống nhất nước nhà.
1.3.2. Nhiệm vụ của miền Bắc
Do đặc điểm tình hình đất nước lúc này bị chia cắt làm hai miền với hai
chế độ Chính trị khác nhau. Vì vậy Đại hội Đảng lần thứ III đã xác định
nhiệm vụ của cách mạng miền Bắc là thuộc “chiến lược cách mạng xã hội
chủ nghĩa”.
Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là quá trình cải biến cách mạng
về mọi mặt nhằm đưa miền Bắc từ nền kinh tế chủ yếu dựa trên sản xuất cá
thể về tư liệu sản xuất thành nền kinh tế xã hội chủ nghĩa dựa trên sở hữu
toàn dân và sở hữu tập thể, từ chế độ sản xuất nhỏ tiến lên chế độ sản xuất
lớn xã hội chủ nghĩa, từ nền kinh tế lạc hậu trở thành một nền kinh tế cân
đối và hiện đại. Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng tâm
của thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đó là con đường tất yếu
để cải biến nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu ở nước ta [9,155].
Với đường lối chiến lược này Đảng ta đã chỉ đạo việc thực hiện xây
dựng chủ nghĩa xã hội một cách quyết liệt để nhanh chóng đưa miền Bắc
phát triển và trở thành hậu phương vững chắc, là chỗ dựa cho cách mạng
miền Nam trong cuộc đấu tranh chống Mỹ – Diệm. Lúc này những hành
động leo thang và phá hoại Hiệp định Giơnevơ của chúng đã thể hiện rõ âm
mưu chia cắt và tách miền Nam ra khỏi Việt Nam cho nên nhiệm vụ đặt ra
đối với miền Bắc là phải tiến hành xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã
hội qua đó tạo ra sức mạnh về vật chất cũng như tinh thần chi viện cho tiền 13
tuyến lớn miền Nam. Bởi lẽ “Hậu phương là nhân tố thường xuyên quyết
định đến thắng lợi của cách mạng” (Lênin).
tiếp tục phát triển theo con đường chủ nghĩa xã hội và nhân dân miền Nam
đứng lên chống lại chính quyền Mỹ - Diệm để bảo vệ miền Nam, thống nhất
đất nước. Trong giai đoạn đầy biến động của lịch sử, sau khi phân tích đánh
giá tình hình Đảng đã phân công rõ nhiệm vụ và mối liên hệ của cách mạng
mỗi miền từ đó để mỗi miền thấy được trách nhiệm của mình ra và sức phấn
đấu nhằm hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng mà cả dân tộc đang hướng tới.
Giai đoạn (1959 – 1975) đánh dấu sự gắn kết máu thịt giữa hai miền đất
nước. Miền Bắc với tinh thần: “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu
một người”, “vì miền Nam, miền Bắc sẵn sàng mỗi người làm việc bằng
hai”. Nhân dân miền Nam sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để đất nước
được độc lập, thống nhất để Nam – Bắc sớm xum họp một nhà.
Từ bối cảnh đất nước giai đoạn này với những biến động to lớn ở cả hai
miền đã bật lên yêu cầu, nhiệm vụ cấp thiết của việc thành lập tuyến đường
vận tải chi viện Bắc – Nam. Đã đưa đến sự ra đời của đường Trường Sơn
trên bộ và đường Hồ Chí Minh trên biển. 15
CHƯƠNG 2
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐƯỜNG
HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN (1959 – 1975)
2.1. Chủ trương mở tuyến đường vận tải chiến lược trên biển
“Đường biển là con đường duy nhất có thể chi viện cho đồng bằng sông
Cửu Long. Vậy nên phải giữ bằng được bí mật con đường đó. Phải kiểm tra
thật kỹ, nắm chắc từng chuyến đi. Không để có một sai sót nhỏ đáng tiếc
khiến kẻ địch nghi ngờ” [11,8]. Qua đánh giá của Đại tướng Võ Nguyên
đường lối đấu tranh thống nhất nước nhà. Dưới ánh sáng Nghị quyết 15 của
ban chấp hành Trung ương Đảng, cách mạng miền Nam như có một luồng
gió thổi bùng ngọn lửa cách mạng vốn đang cháy âm ỉ. Trong vòng một năm
phong trào cách mạng đã lan rộng từ Nam Bộ ra khu 5, từ Tây Nguyên
xuống vùng đồng bằng ven biển duyên hải trước sự đàn áp tàn bạo của kẻ
thù phong trào đấu tranh càng phát triển mạnh hơn. Yêu cầu cấp bách đặt ra
lúc này đó là đòi hỏi về vũ khí là vô cùng cấp bách và có tính sống còn đối
với cách mạng ở đây.
Tháng 2/1959 Quân ủy Trung ương họp mở rộng để quán triệt Nghị
quyết 15 và bàn kế hoạch thực hiện nhiệm vụ chi viện cho miền Nam và
chuẩn bị sẵn sằng đưa quân đội và vũ khí cùng với các yếu phẩm khác vào
Nam chiến đấu. Theo chỉ thị của Bộ Chính trị tháng 5/1959 Tổng quân ủy
Trung ương quyết định thành lập cơ quan nghiên cứu về việc mở đường vận
tải trên bộ và trên biển để đưa lực lượng, vũ khí cho chiến trường miền
Nam. Sau một thời gian nghiên cứu chuẩn bị ngày 19/5/1959, đoàn vận tải
quân sự 559 được thành lập với lực lượng nòng cốt gồm hai tiểu đoàn:
1. Tiểu đoàn 301 gồm 500 cán bộ, chiến sỹ được tuyển chọn từ lữ đoàn
305 và một số đơn vị bộ đội miền Nam tập kết, do đại úy Chu Đăng Chữ
làm tiểu đoàn trưởng, đại úy Nguyễn Danh làm Chính trị viên, chịu trách
nhiệm mở đường trên bộ vào Nam!.
2. Tiểu đoàn 603 có 107 người do đồng chí Hà Văn Xá làm tiểu đoàn
trưởng và thượng úy Lưu Đức làm chính trị viên có trách nhiệm nghiên cứu
mở đường biển vào Nam. Ban đầu để giữ bí mật tiểu đoàn phải cải trang
dưới cái tên: “Tập đoàn đánh cá Sông Gianh” .
Tháng 7/1959, Tổng quân ủy Trung ương quyết định tổ chức tuyến
đường vận tải trên biển đây là một trong những nhiệm vụ lớn đầu tiên có ý
nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam [13,8].
Theo lệnh thì chuyến tàu đầu tiên của tiểu đoàn 603 (Tập đoàn đánh cá
Sông Gianh) gồm 6 người chở 5 tấn vũ khí và thuốc men cho quân khu 5,
địa điểm cập bến là chân đèo Hải Vân. Đêm 27/01/1960 (tức 30 tết năm
Ngày 23 tháng 10 năm 1961, Bộ Tổng tư lệnh ra Quyết định số 97/QP
do Thứ trưởng Hoàng Văn Thái ký, thành lập Đoàn 759 đặt dưới sự quản lý,
chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tổng tư lệnh, làm nhiệm vụ vận chuyển chiến lược
theo đường biển chi viện cho cách mạng miền Nam [11,65].
Đây chính là yêu cầu cấp thiết mà lịch sử đã đặt ra, từ đó khai sinh ra một
con đường đã trở thành huyền thoại mang đầy sức mạnh, sự sáng tạo và ý chí
của con người Việt Nam đó chính là con đường mòn Hồ Chí Minh trên biển.
2.2. Quá trình hình thành đường Hồ Chí Minh trên biển (1959 - 1965)
2.2.1. Giai đoạn thăm dò và xác định phương án (1959 - 1962)
Trước những đòi hỏi cấp thiết của cách mạng miền Nam và việc con
đường Trường Sơn trên bộ mới đến được khu 5 bằng phương pháp vận
chuyển thô sơ rất gian nan mà không hiệu quả, mỗi chiến sỹ cố gắng lắm 18
cũng chỉ gùi được 20kg hàng; muốn chở 10 tấn hàng phải cần đến 500
người, chưa kể đến khi ốm đau, địch đánh phá, người phục vụ và tổn thất do
nhiều nguyên nhân khác nhau. Vậy chiến trường cần 100 tấn, 1000 tấn hàng
thì phải cần bao nhiêu người? trong bao nhiêu năm? Lúc này nếu mở được
con đường biển thì 100 tấn hàng chỉ cần 1 chiếc thuyền với 15 thủy thủ đi
trong một tuần là tới nơi, do đó không còn con đường nào khác là bằng
đường biển. Đây chính là điểm tựa để Bộ Chính trị hạ quyết tâm để mở bằng
được con đường vận tải trên biển.
Ngay trong quý I năm 1961, Bộ tổng tham mưu đã hoàn thành đề án về
tổ chức con đường vận chuyển chiến lược trên biển chi viện cho chiến
trường miền Nam.
Nội dung đề án nêu rõ:
“1. Phương châm tổ chức vận tải: Tận dụng mọi hình thức hợp pháp, bất
hợp pháp là chủ yếu; xây dựng khả năng chuyên môn và phương tiện ở miền
Bắc, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của miền Nam; kiên quyết bảo vệ hàng
tuyến vận tải chuyển trên biển, vừa nhận vũ khí về kịp thời cung cấp cho
phong trào đấu tranh cách mạng ở miền Nam đang phát triển. Năm 1961
theo chỉ đạo của Trung ương cục miền Nam những “con cá kình” của Nam
Bộ đã vượt biển ra Bắc nhận vũ khí.
- Hai con tàu của bến tre do Đặng Bá Tiên và Lê Công Cẩn lên đường.
Ngày 09/06/ năm đó, một chiếc đã cập vào Hà Tĩnh, ngày 28/08/ một chiếc
đã cập vào Thanh Hóa.
- Tàu của Cà Mau do Bông Văn Dĩa phụ trách xuất phát từ Cà Mau, đến
ngày 07/08 đã vào cửa sông Nhật Lệ.
- Tàu của Trà Vinh do Thuyền trưởng Nguyễn Thanh Lồng và Thuyền
trưởng Hồ Văn In dẫn đầu, bị dạt sang Macao, cuối cùng được đưa về
Quảng Châu và theo đường bộ về Hà Nội.
- Tàu của Bà Rịa do Nguyễn Văn Phe dẫn đầu, dạt sang Hải Nam và đến
giữa năm 1962 mới về tới miền Bắc [10,73].
Như vậy sau chuỗi hành trình dài với rất nhiều khó khăn, hiểm nguy và
gian khổ thì tất cả những con cá kình của Nam Bộ đã ra đến miền Bắc.
Mang theo niềm tin và hi vọng của Phương Nam để gửi tới Đảng và bác Hồ
những nguyện vọng tha thiết và cháy bỏng của họ đó là vũ khí để bảo vệ quê
hương. Miền Nam đang rất cần hơi thở và nhịp đập của miền Bắc xã hội chủ
nghĩa, trong những chuyến đi này đã giúp cho bản thân các thủy thủ hiểu
được tình hình trên biển và quan trọng hơn là giúp cho Trung ương kiểm
nghiệm được các tình huống để tìm ra giải pháp mới. Sau khi trao đổi với
các đoàn, Quân ủy Trung ương quyết định: Về phương tiện, miền Bắc sẽ
đóng tàu để đảm bảo kỹ thuật về mặt đi biển, đảm bảo ngụy trang tối đa để
tránh sự kiểm soát của địch. Đội hình do Đoàn 759 phụ trách, điều quan
trọng là thăm dò bến bãi và cách thức đưa vũ khí lên bờ Quân ủy Trung
ương quyết định cử một tàu trở lại miền Nam, do Thuyền trưởng Bông Văn
Dĩa phụ trách để thẩm định một trong ba phương án sau:
kỳ tích có một không hai trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc với
những “con tàu không số” lúc ẩn, lúc hiện trên mặt biển làm nhiệm vụ tiếp
tế vũ khí cho chiến trường bắt đầu được dệt lên trên mặt biển mênh mông.
Lịch sử dân tộc lại được bồi đắp thêm những điểm độc đáo và sáng tạo mới
về nghệ thuật Quân sự, trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.
21
2.2.2. Giai đoạn vận chuyển bí mật (1962 – 1965)
Sau quá trình thăm dò và xây dựng phương án, đặc biệt là sự thành công
của chuyến đi trinh sát thì công việc chuẩn bị cho những chuyến tàu đầu tiên
ra khơi đang được tiến hành với nhịp độ cao nhất để nhanh chóng chi viện
cho chiến trường miền Nam qua đó sẽ chính thức khai thông con đường
chiến lược này. Xưởng đóng tàu I Hải Phòng được giao nhiệm vụ sửa chữa
những chiếc thuyền của miền Nam đưa ra và đóng mới thêm 4 chiếc thuyền
có hình dạng như thuyền đánh cá miền Nam, đầu tháng 10 thì mọi công tác
chuẩn bị cho chuyến đi đầu tiên gần như đã hoàn thành.
22 giờ 30 phút ngày 11 tháng 10 năm 1962, chiếc tàu (vỏ gỗ) thực hiện
chuyến đi đầu tiên gọi là tàu “Phương Đông 1” cùng với 13 cán bộ, đảng
viên do Thuyền trưởng Lê Văn Một và Chính trị viên Bông Văn Dĩa chỉ huy,
chở 28,213 tấn vũ khí rời bến Vạn Sét, Đồ Sơn đi Cà Mau [11,91].
Chuyến đi lần này không chỉ mang trên mình trách nhiệm lớn lao là
khai thông tuyến đường biển chiến lược mà còn đưa tới miền Nam vũ khí,
niềm tin, hơi thở và nhịp đập của miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Điều này có
nghĩa là không được phép thất bại và tất cả thủy thủ trên tàu đều ý thức
được trách nhiệm thiêng liêng mà họ phải gánh vác, tuy nhiên với tinh thần
của những người con Thành đồng Tổ quốc đang mang trên mình vũ khí về
để giải phóng quê hương. Nhiệm vụ này không những không trở thành áp
lực mà trái lại càng làm cho họ quyết tâm hơn để hoàn thành nó. Ngày
Ngày 14/11/1962, tàu “Phương Đông 3” chở 32 tấn vũ khí rời bến Đồ
Sơn, ngày 14/12/1962 tàu “Phương Đông 4” xuất phát chở 37 tấn vũ khí và
cả hai chuyến Tàu này đã đều cập bến an toàn.
Như vậy sau hơn hai tháng cả 4 chuyến Tàu đều đã xuất phát và tới đích
an toàn với số hàng cùng vũ khí vận chuyển lên tới 112 tấn vào Khu 9. Qua
đó đã đánh dấu những thành công đầu tiên trên con đường huyền thoại này.
Ở miền Nam. Sau khi được tăng viện, nhân dân đã tổ chức hàng loạt các
cuộc chiến tranh du kích và giành được nhiều thắng lợi quan trọng, nó đã
làm cho chính quyền Mỹ - Diệm bị lung lay tận gốc. Tuy nhiên Mỹ không
dễ dàng chịu chấp nhận thực tế này và để đưa chiến tranh đi xa hơn nữa,
Chính quyền Mỹ đẩy mạnh tăng viện cho Ngô Đình Diệm, đó cũng là cơ sở
quan trọng để chúng đưa ra những chiến lược chiến tranh mới. Sau khi lên
thay Aixenhao, Kennơđi đã đưa ra chiến lược “phản ứng linh hoạt”, thay
cho chiến lược “trả đũa ồ ạt”, với 3 loại hình chiến tranh: “Chiến tranh
Đặc Biệt”, “Chiến tranh Cục Bộ” và “Chiến tranh Tổng lực”. Ngay lập tức
chúng đã tiến hành hàng loạt các cuộc hành quân “bình định” và “tìm diệt”
nhằm vào căn cứ cách mạng của ta. Điều này đã chứng tỏ âm mưu và tham
vọng của Mỹ - Diệm qua đó cũng thấy được những khó khăn mà ta phải
đương đầu. Trước yêu cầu phát triển, đòi hỏi của Cách mạng miền Nam đặc
biệt là yêu cầu về vũ khí để trang bị cho các lực lượng vũ trang đang ngày
càng lớn mạnh vì vậy công tác vận chuyển hàng và vũ khí phải nhanh chóng
đẩy mạnh hơn nữa để đáp ứng được nhu cầu về vũ khí cho miền Nam. Quân
ủy Trung ương nhận thức được rằng để công tác vận chuyển chi viện được 23
nhanh, nhiều vũ khí và hàng từ miền Bắc vào thì phải cải tổ và nâng cấp tất
cả các khâu từ thuyền bè đến bến bãi đến các công tác khác, được sự chấp
thuận của Bộ Tổng tư lệnh, Đoàn 759 đã ngay lập tức tiến hành các công tác
cải tổ để đẩy mạnh chi viện. Bộ Quốc phòng đề nghị xưởng đóng tàu III Hải
phó cùng 12 thủy thủ chở 63 tấn vũ khí đến Cà Mau giao hàng an toàn.