Khóa luận tốt nghiệp văn học: Rèn luyện kỹ năng lập dàn ý trong kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lý cho học sinh lớp 12 trường THPT Trần Hưng Đạo – Tiên Lữ - Hưng Yên - Pdf 14


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

NGUYỄN THỊ THÊU
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LẬP DÀN Ý TRONG
KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG,
ĐẠO LÝ CHO HỌC SINH LỚP 12 TRƯỜNG THPT
TRẦN HƯNG ĐẠO - TIÊN LỮ - HƯNG YÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC


viện trường Đại học Tây Bắc, thư viện tỉnh Sơn La, cùng các thầy cô trong khoa
Ngữ Văn đã tạo điều kiện giúp đỡ em thực hiện luận văn này.
Trong quá trình thực hiện luận văn do thời gian có hạn nên không tránh
khỏi thiếu sót. Vì vậy, em rất mong được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của quý
thầy cô và các bạn để luận văn này được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!

Sơn la, tháng 05 năm 2013
Người thực hiện
Nguyễn Thị Thêu

DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

NXBGD : Nhà xuất bản giáo dục
SGK : Sách giáo khoa
THPT : Trung học phổ thông
Tr : Trang
THCS : Trung học cơ sở

1.1.3.3. Quy trình lập dàn ý kiểu bài nghị luận về tư tưởng, đạo lý 13
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN 21
1.2.1. Khảo sát chương trình sách giáo khoa 21
1.2.2. Khảo sát thực tế trường THPT Trần Hưng Đạo – Tiên Lữ - Hưng Yên .21
1.2.3. Khảo sát năng lực lập dàn ý của học sinh 22
Tiểu kết………………………………………………………………………… 24
Chương 2: BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LẬP DÀN Ý TRONG
KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÝ CHO HỌC SINH
LỚP 12 TRƯỜNG TRẦN HƯNG ĐẠO – TIÊN LỮ - HƯNG YÊN 25
2.1 YÊU CẦU VỀ MÔ HÌNH Ý TRONG BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ
TƯỞNG, ĐẠO LÝ 25
2.1.1. Cách lập dàn ý đại cương 25
2.1.2. Cách lập dàn ý chi tiết 26
2.2. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LẬP DÀN Ý CHO HỌC SINH LỚP 12
TRƯỜNG TRẦN HƯNG ĐẠO – TIÊN LỮ - HƯNG YÊN 29
2.2.1. Rèn kỹ năng lập dàn ý qua việc tích hợp trong giờ đọc văn 29
2.2.2. Rèn kỹ năng lập dàn ý trong giờ lý thuyết làm văn 32
2.2.3. Rèn kỹ năng lập dàn ý trong giờ thực hành làm văn 37
2.2.4. Rèn kỹ năng lập dàn ý trong giờ trả bài làm văn 38
2.2.5. Rèn kỹ năng lập dàn ý thông qua các bài tập nhà 42
2.2.5.1. Một vài nguyên tắc cơ bản khi xây dựng hệ thống bài tập ở nhà 42
2.2.5.2. Hệ thống bài tập ở nhà cho học sinh 43
Tiểu kết………………………………………………………………………… 46
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 48
3.1. THỰC NGHIỆM DẠY HỌC 48
3.1.1. Mục đích thực nghiệm 48
3.1.2. Yêu cầu của thực nghiệm 48
3.1.3. Đối tượng thực nghiệm 48
3.1.4. Nội dung thực nghiệm 48
3.1.5. Cách thức thực hiện 49

nghị luận nói chung và văn nghị luận xã hội nói riêng là làm thế nào để có ý và
sắp xếp các ý thành một dàn bài hợp lý. Những lỗi mà học sinh thường mắc phải
khi viết bài văn nghị luận thường là không có ý, thiếu ý, trùng ý, lạc ý, ý lộn
xộn. Nguyên nhân của những vấn đề nêu trên là do học sinh quen cách học theo
bài mẫu ở cấp 2 nên lười tư duy, không chịu thực hành, chưa được trang bị một
cách hệ thống các kỹ năng làm văn một cách bài bản từ cấp dưới, không có điều
kiện rèn luyện nhiều, kiến thức xã hội còn hạn chế, nhiều học sinh học đối phó,
không chăm.
1.3. Dạy văn hay là nghệ thuật không hề đơn giản. Người giáo viên phải thật sự
toàn tâm, toàn ý cho từng bài dạy thì mới đạt hiệu quả cao. Thế nhưng, trong
quá trình dạy học làm văn nói chung và dạy làm văn nghị luận xã hội nói riêng
vẫn còn tồn tại những tiết dạy không đáp ứng được yêu cầu đó. Có những tiết
dạy Làm văn chỉ mang tính hình thức, rập khuôn. Giáo viên không tạo được
hứng thú cho học sinh trong quá trình giảng dạy. Bởi vậy, học sinh ít thể hiện
được “cái tôi” của mình trong quá trình học. Từ đó, mục đích của những tiết
Làm văn không đáp ứng được mục tiêu giáo dục đề ra.
1.4. Theo chương trình sách giáo khoa lớp 12 hiện hành thì số tiết dành cho văn
nghị luận xã hội nói chung và văn nghị luận về một tư tưởng đạo lý là rất ít. Nó
không có sự phân phối chương trình hợp lý giữa số tiết lý thuyết và thực hành.
Thực tế, đây là một kiểu bài khó, đòi hỏi phải có kiến thức thực tế rộng, lập luận
chặt chẽ, logic. Chỉ với 1 tiết lý thuyết thì học sinh chưa thể tiếp thu hết lượng
kiến thức và thấy được cái hay của kiểu bài này.

2
Với mong muốn góp phần làm cho nhận thức của giáo viên và học sinh
thay đổi khi học văn nghị luận xã hội và khắc phục tình trạng yếu kém của học
sinh khi lập ý cho kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lý, chúng tôi mạnh
dạn chọn đề tài “Rèn luyện kỹ năng lập dàn ý trong kiểu bài nghị luận về một tư
tưởng, đạo lý cho học sinh lớp 12 trường THPT Trần Hưng Đạo – Tiên Lữ -
Hưng Yên” để nghiên cứu.

3
đến kỹ năng lập dàn ý cho bài nghị luận xã hội một cách chung chung, chưa đi
vào những dẫn dắt cụ thể.
Ở cuốn Làm văn của nhóm tác giả Đỗ Ngọc Thống – Nguyễn Thành Phi –
Phạm Minh Diệu (2007), nhóm tác giả của cuốn sách này đã giành riêng chương
thứ 4 (từ trang 165 đến 213) để bàn về văn nghị luận. Trong 48 trang ấy, nhóm
tác giả chỉ đề cập đến việc lập dàn ý cho bài văn nghị luận xã hội trong 3 trang (
từ trang 206 đến trang 208) với 2 bước sau:
 Bước 1: Dựa vào yêu cầu và chỉ dẫn của đề để tìm ra vấn đề trọng tâm và
các ý lớn mà bài viết cần làm sáng tỏ.
 Bước 2: Tìm ý nhỏ bằng cách đặt ra những câu hỏi, vận dụng những hiểu
biết về văn học và cuộc sống xã hội để trả lời các câu hỏi đó.
Trong cuốn Làm văn (Giáo trình đào tạo giáo viên cơ sở THCS), Lê A đã
đề cập khá chi tiết đến kỹ năng lập dàn ý ở bài văn nghị luận.Tuy nhiên tác giả
chưa đưa ra được các bước và thao tác lập dàn ý dành riêng cho văn nghị luận xã
hội mà chỉ có các bước và thao tác lập dàn ý được dùng chung cho cả nghị luận
văn học và nghị luận xã hội.
Đề cập đến vấn đề lập dàn ý trong bài văn nghị luận xã hội một cách chỉn
chu có thể kể đến cuốn Làm văn 11 do Trần Thanh Đạm chủ biên. Tác giả đã
đưa ra 2 bước lập dàn ý:
(1) Tìm hiểu đề bài với các thao tác lập ý sau:
- Đọc kỹ và phát hiện các yêu cầu của đề bài
- Xác định thể loại
- Xác định phạm vi tư liệu
- Xác định những yêu cầu mà đề bài phải đáp ứng
(2) Tạo dựng ý
- Định hướng thái độ đối với vấn đề nêu lên trong đề bài
- Tìm và lựa chọn ý
- Sắp xếp các ý theo một trình tự hợp lý
- Tìm dẫn chứng

học sau này.
3.4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ tình hình nghiên cứu ở trên với khả năng và tài liệu cho phép,
chúng tôi xác định luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tìm hiểu thực trạng lập dàn ý đối với kiểu bài nghị luận về một tư tưởng,
đạo lý của học sinh lớp 12 trường THPT Trần Hưng Đạo – Tiên Lữ - Hưng Yên

5
- Nghiên cứu các cơ sở lý thuyết và thực tiễn dạy học lớp 12 trường THPT Trần
Hưng Đạo – Tiên Lữ - Hưng Yên với loại bài nghị luận một tư tưởng, đạo lý
- Đề xuất những chỉ dẫn để tiến hành rèn luyện kỹ năng lập dàn ý, xây dựng
các hình thức dạy học cho học sinh một cách có hệ thống và toàn diện.
- Tiến hành thực nghiệm dạy học để kiểm tra hiệu quả của những hình thức
mà luận văn đã đề xuất.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp như sau:
4.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Đây là phương pháp chủ đạo trong qua trình nghiên cứu. Bởi lẽ, kế thừa và
tiếp thu những nhận xét, đánh giá của thế hệ đi trước để làm nền tảng, kim chỉ
nam cho những hoạt động phân tích, đánh giá. Trên cơ sở những lý thuyết
nghiên cứu mà phát hiện ra những cái mới, cái hay để áp dụng và phát triển sau
này. Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, chúng ta sẽ tiếp cận vấn đề thấu đáo hơn.
4.2. Phương pháp khảo sát thực tế
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để khảo sát những tiết dạy học Làm
văn trên lớp là những phương pháp đảm bảo điều kiện sư phạm tự nhiên và đối
tượng thống nhất từ quy mô tiêu chuẩn đến nội dung phương pháp.
4.3. Phương pháp thực nghiệm
Phương pháp thực nghiệm sẽ đánh giá toàn bộ những cơ sở, tính khả thi
của đề tài. Nó sẽ mang lại cái nhín khách quan và thuyết phục người khác khi sử
dụng khóa luận trong quá trình giảng dạy, nghiên cứu, học tập. Tính khả thi của

Về mặt giải pháp,chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh đến quan điểm tích hợp
trong dạy học; không chỉ với phân môn Làm văn mà thói quen tìm hiểu kỹ
lưỡng vấn đề, phương pháp học có hệ thống sẽ hỗ trợ tích cực cho học sinh
trong quá trình tự học và thi cử.
Với giáo viên: nhận thấy rõ những khó khăn và các lỗi thường gặp dẫn đến
tình trạng kết quả bài làm của học sinh thấp, các em chán học; cùng với những
giải pháp được đề xuất của Luận văn sẽ củng cố vững chắc hơn tính đúng đắn
của sách giáo khoa và chương trình hiện hành.

7
NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1. Văn nghị luận
“ Nói một cách khái quát văn nghị luận là một loại văn trong đó người viết
đưa ra những lý lẽ, dẫn chứng về một vấn đề nào đề nào đó và thông qua cách
thức bàn luận mà làm cho người đọc hiểu, tin, tán đồng những ý kiến của mình
và hoạt động theo những điều mà mình đã đề xuất” [8-tr.137].
Từ khái niệm trên có thể thấy, văn nghị luận đòi hỏi ở người viết một năng
lực thực thụ, không phải là cái thể hiện hời hợt bên ngoài mà phải mang chiều
sâu, đậm tính thuyết phục.
Văn nghị luận ra đời từ rất sớm. Vì vậy, nó cũng dễ dàng tiếp cận tới các
vấn đề chính trị, xã hội, văn học… Trong những điều kiện khách quan và chủ
quan như vậy, văn nghị luận đã tạo được chỗ đứng cho mình trong phân môn
Làm văn.
Theo cách hiểu truyền thống, văn nghị luận gồm nghị luận chính trị và nghị
luận xã hội. Cả hai dạng nghị luận này đều thuộc một phong cách ngôn ngữ
chung là phong cách ngôn ngữ chính luận. Như vậy, hiểu một cách đơn giản
nghị luận là sự bàn bạc, thảo luận để đi tới khẳng định hay bác bỏ một ý kiến
nào đó.

nước. Ngày nay, văn nghị luận lại thay đổi vị trí, chức năng của mình để gần gũi
và có ý nghĩa trong đời sống công dân hiện nay. Ta có thể kể đến những tác
phẩm tiêu biểu như: Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Toản, Chiếu dời đô của Lý
Công Uẩn… hay những tác phẩm Luận về phép học của La Sơn Phu Tử, Chuẩn
bị hành trang vào thế kỉ mới của phó thủ tướng Vũ Khoan…
Văn nghị luận tự thân đặc biệt chú trọng đến lý luận. Lý luận bao gồm lý lẽ
và cách lập luận. Lý luận là nội dung, chất liệu chủ yếu của văn nghị luận. Dẫn
chứng chỉ phục vụ cho lý luận, không có lý lẽ không biết lập luận không thành
văn nghị luận. Lập luận là phải biết trình bày và triển khai luận điểm; biết nêu
vấn đề và giải quyết vấn đề; biết dùng lý lẽ và dẫn chứng để làm sáng tỏ điều
mình muốn nói để người đọc hiểu, tin và đồng tình với mình.
Để đảm bảo những yêu cầu cơ bản nêu trên đòi hỏi người học sinh phải có
một sự chuẩn bị kỹ lưỡng và khâu lập dàn ý là yếu tố chuẩn bị hàng đầu trong sự
chuẩn bị đó.
1.1.2. Khái quát về nghị luận xã hội
Nghị luận xã hội là phương pháp nghị luận lấy đề tài từ các lĩnh vực xã hội,
chính trị, đạo đức làm nội dung bàn bạc, nhằm làm sáng tỏ rõ cái đúng, cái sai,
tốt xấu của vấn đề được nêu ra từ đó đưa ra một cách hiểu thấu đáo về vấn đề
nghị luận cũng như vận dụng nó vào đời sống và bản thân. Những đề tài và nội
dung này thường là những vấn đề có ý nghĩa thiết thực trong cuộc sống có tính
giáo dục cao, có tính thời sự…

9
Dựa trên những đặc điểm đó của văn nghị luận xã hội, đồng thời dựa trên
thực tế trình độ, chất lượng của học sinh trung học phổ thông, những đề tài của
văn nghị luận xã hội thường nhân đạo, đặc biệt là những vấn đề có ý nghĩa tác
động trực tiếp đối với thế hệ trẻ.
Nếu như văn nghị luận văn học thường tập trung hướng học sinh vào
những kiến thức văn học trong chương trình sách giáo khoa hiện hành thì văn
nghị luận xã hội lại thường hướng học sinh ra nhận thức thế giới nhân sinh quan,

trong bài nghị luận được sắp xếp, trình bày theo một hệ thống hợp lý, đầy đủ và
được triển khai bằng những hệ thống luận cứ hợp lý để làm sáng tỏ vấn đề mà
luận điểm đặt ra.
Ví dụ: Từ luận điểm sống đẹp của đề bài “Anh/chị hãy trả lời câu hỏi sau
của nhà thơ Tố Hữu: “Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn” ta có thể đưa ra các luận
điểm và sắp xếp các luận điểm ấy theo trình tự như sau:
Luận điểm 1: Quan niệm về sống đẹp
Luận điểm 2: Phê phán những người chỉ biết sống đồng nghĩa với tồn tại
Luận điểm 3: Tuổi trẻ phải biết sống đẹp
Luận điểm 4: Phương hướng và biện pháp phấn đấu để sống đẹp
Luận cứ là các lý lẽ và dẫn chứng (chứng cứ) cụ thể được sắp xếp và trình
bày theo một hệ thống hợp lý nhằm làm sáng tỏ cho luận điểm.
Ví dụ: Với luận điểm “Tuổi trẻ phải biết sống đẹp” ta có thể đưa ra các luận
cứ và sắp xếp các luận cứ ấy theo trình tự như sau:
- Luận cứ 1: Tuổi trẻ là thời kì đẹp nhất và cho con người những điều kiện
tốt nhất để thực hiện những gì mà con người mong muốn
- Luận cứ 2: Những gì mà con người thành công hay thất bại thời tuổi trẻ sẽ
để lại dấu ấn cho cả cuộc đời.
Lập luận là hình thức diễn đạt nội dung tức là cách nói, cách viết thuyết
phục người đọc. Những bài văn nghị luận nổi tiếng đều là những bài văn hàm
chứa trong đó những cách lập luận sắc sảo, mẫu mực. Tính logic, chặt chẽ với
những lý lẽ rõ ràng, những chứng cớ hiển nhiên buộc người nghe không thể
không công nhận là đặc điểm chung của những bài văn nghị luận này.
Ví dụ: Trong “Chiếu dời đô” của mình Lý Thái Tổ thuyết phục triều thần
dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long bằng việc nêu lên ý nguyện tốt lành: “Chỉ
muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con
cháu, trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân”. Từ đó chỉ ra bài học lịch sử, phê
phán hai nhà Đinh, Lê “không noi theo dấu cũ Thương, Chu…khiến cho triều
đại không bền lâu”. Và cuối cùng bài chiếu nêu lên tất cả những lợi thế nhiều
mặt của thành Thăng Long: “Ở vào nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng

Đề tài được khai thác chủ yếu trong kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo
lý là những câu danh ngôn, châm ngôn, những nhận định mang tính triết lý
mang tính sâu sắc của những nhà tri thức, những danh nhân nổi tiếng… Đề tài
này là không phải là cái các em thường gặp trong cuộc sống như kiểu bài nghị
luận về một hiện tượng đời sống mà các em phải có sự nhìn nhận khách quan ở
nhiều góc cạnh của cuộc sống. Con người được khai thác một cách triệt để nhất
để phục vụ cho đề tài.
Ví dụ: Đề bài: Hãy viết một bài văn ngắn (không quá 600 từ) trình bày suy
nghĩ của anh/chị về ý kiến sau: “Một người đã đánh mất niềm tin vào bản thân
thì chắc chắn sẽ còn đánh mất thêm nhiều thứ quý giá khác nữa”. (Đề thi đại học
năm 2009 – khối D).

12
Đề bài: Nhà văn Nga Lép Tôn-xtôi nói: “Lý tưởng là ngọn đèn chỉ đường.
Không có lý tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương
hướng thì không có cuộc sống”. Vận dụng tư liệu từ lịch sử, từ đời sống thực tế
và từ văn học nghệ thuật, anh/chị hãy chứng minh vai trò của lý tưởng trong
cuộc sống của con người.
Với những đề tài như thế, yêu cầu học sinh phải có sự am hiểu sâu sắc về
cuộc sống xung quanh mình. Nó không chỉ là cái hiện tại mà là cả quá khứ và
tương lai. Có thể nói, kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lý là kiểu bài khó
đòi hỏi học sinh phải có trình độ logic cao, khả năng lập luận chặt chẽ thì mới có
thể thuyết phục người đọc. Vì vậy, để khắc phục tình trạng này đòi hỏi học sinh
phải lập dàn ý hết sức tỉ mỉ, chu đáo. Khi dàn ý được lập đúng, đáp ứng được
mọi yêu cầu của bài viết thì dàn ý sẽ giúp học sinh liên tục, chủ động, tránh tình
trạng “đầu voi đuôi chuột”.
1.1.3. Lập dàn ý cho kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lý
1.1.3.1. Lập dàn ý là gì?
Nhìn chung khái niệm ý trong bài văn nghị luận được hiểu khá thống nhất.
Ý, đó là những nội dung chính tạo nên nội dung cơ bản của một bài viết. Ý là

ạt, người viết chỉ có thể sắp xếp các ý sau khi quá trình này đã kết thúc (hoặc
nếu dừng lại để sắp xếp, các ý đặc biệt là những ý hay sẽ bị mất đi).
Bản chất và mục đích của lập dàn ý là sắp xếp các ý đã tìm được ở bước
tìm ý để có một bố cục (dàn ý) hợp lý, làm sáng tỏ và nổi bật được vấn đề cần
nghị luận (chính là cái đích của bài viết).
Trong nghiên cứu nội dung và việc viết bài nghị luận nói riêng dàn ý đích
thực của bài văn chỉ có thể được hình thành khi đề tài (đề bài) được giải quyết
một cách trọn vẹn, nghĩa là bài văn đã hoàn thành về cơ bản. Cho nên mọi dàn ý
trước khi lập ra trước khi viết thành bài văn chỉ là những đề cương dự đoán, tạm
phác thảo ra để viết có phương hướng và có kế hoạch mà thôi. Có thể coi đó là
dàn ý để làm việc. Trong quá trình viết, một mặt người viết bám sát dàn ý đã
phác thảo, mặt khác tiếp tục suy nghĩ, điều chỉnh và phát triển một số ý mới và
phù hợp.Từ dàn ý ban đầu (đề cương phác thảo) đến dàn ý đích thực (dàn ý cuối
cùng) là một khoảng cách lớn; là cả một con đường dài dặc, đầy gian khổ, vấp
váp và nhầm lẫn. Dạy học lập dàn ý trong nhà trường, chủ yếu là dạy cách lập
dàn ý ban đầu (dàn ý để làm việc).
1.1.3.3. Quy trình lập dàn ý kiểu bài nghị luận về tư tưởng, đạo lý
Với quan niệm lập dàn ý là toàn bộ những việc, những thao tác được thực
hiện trước khi bắt tay vào viết thành bài văn hoàn chỉnh, căn cứ vào thực tế học
tập của học sinh trường THPT Trần Hưng Đạo –Tiên Lữ - Hưng Yên cũng như
khả năng ứng dụng của loại dàn ý chi tiết (dàn ý bao gồm luận đề, luận điểm và
luận cứ) và loại dàn ý đại cương (dàn ý chỉ bao gồm luận đề, luận điểm) chúng
tôi đưa ra quy trình lập ý cho loại dàn ý đại cương gồm những bước sau:
 Bước 1: Phân tích đề
(1) Đọc kỹ đề bài

14
(2) Xác định kiểu và dạng đề bài
(3) Xác định vấn đề cần nghị luận (luận đề)
(4) Xác định thao tác nghị luận chính

Ở bước thao tác phân tích đề, chúng ta cần phải thực hiện những thao tác
cụ thể sau:
(1) Đọc kỹ đề bài
Đây là thao tác trước tiên cần thực hiện. Cần đọc một cách chăm chú, có
suy nghĩ xem đề bài nói về vấn đề gì, chú ý không bỏ xót một chi tiết nào để
tránh những sai xót không đáng có. Sau khi đọc kỹ đề bài, bước đầu cần hình
thành một ấn tượng chung, một ý niệm đại thể, một nhận thức sơ bộ về vấn đề
đặt ra.
(2) Xác định kiểu và dạng đề bài
Do nằm trong văn nghị luận xã hội nên kiểu bài nghị luận về một tư tưởng,
đạo lý cũng có hai dạng đề cơ bản là: đề nổi và đề chìm.
Dạng đề nổi là dạng đề mà yêu cầu về nội dung (luận đề) (có thể bao gồm
cả thao tác nghị luận chính, phạm vi và tài liệu nghị luận) được nêu ra trực tiếp
rõ ràng ngay trong đề bài. Ví dụ một số đề bài sau:
- Tục ngữ có câu: “Có chí thì nên”. Vận dụng tư liệu từ lịch sử, từ đời sống
thực tế và từ văn học nghệ thuật, hãy bình luận về vai trò, ý chí, nghị lực trong
cuộc sống?
- Nói về vai trò và tác dụng của sách trong đời sống tinh thần của con
người, nhà văn M. Go-rơ-ki có viết: “Sách mở rộng trước mắt tôi những chân
trời mới”. Hãy giải thích và bình luận ý kiến trên.
Dạng đề chìm là dạng đề mà yêu cầu về nội dung (luận đề) (có thể bao gồm
cả thao tác nghị luận chính, phạm vi và tai liệu nghị luận) không được nêu ra
trực tiếp và rõ ràng ngay trong đề bài. Ví dụ một số đề bài sau:
- Suy nghĩ của anh/chị về lời phát biểu của một nhạc sĩ: Năm 20 tuổi, tôi
nói: “Tôi và Mô-da”. Năm 30 tuổi, tôi nói “Mô-da và tôi”. Năm 40 tuổi, tôi nói:
“Chỉ có Mô-da”.
- Đức Phật dạy: “Giọt nước chỉ hòa vào biển cả mới không cạn mà thôi”.
Anh/ chị nghĩ gì vê lời dạy trên?
Mỗi kiểu đề bài và dạng đề bài sẽ có những đặc trưng khác nhau, yêu cầu
khác nhau và cách làm khác nhau. Vì thế, xác định kiểu đề bài và dạng đề bài là

(1) Xác định các từ ngữ, chi tiết then chốt: Sách, mở rộng những chân trời mới
(2) Giải thích ý nghĩa của những từ ngữ, ý nghĩa then chốt vừa tìm được:
Mở rộng những chân trời mới là mở rộng thêm nhiều điều, nhiều kiến thức mới
(3) Đặt ý nghĩa của các từ ngữ, chi tiết then chốt vào trong chỉnh thể của
đề bài và khái quát thành luận đề: Sách giúp chúng ta có thêm nhiều kiến thức
mới về mọi lĩnh vực của cuộc sống. Hoặc có thể đưa ra một luận đề khái quát
hơn: Vai trò và tác dụng của sách trong đời sống của mỗi người.
(4) Xác định thao tác nghị luận chính

17
Thao tác nghị luận chính là thao tác mà người viết bài nghị luận phải sử
dụng thường xuyên và chủ đạo nhất trong quá trình làm bài của mình. Thông
thường khi viết một bài văn nghị luận chúng ta phải sử dụng rất nhiều thao
tác, tuy nhiên trong các thao tác chúng ta sử dụng sẽ có một thao tác chính.
Nếu không chú ý đến vấn đề này, chúng ta rất dễ bị lạc về thể loại mà bài viết
yêu cầu.
Ví dụ: Đức Phật dạy: “Giọt nước chỉ hòa vào biển cả mới không cạn mà
thôi”. Hãy trình bày suy nghĩ của anh/chị về lời dạy trên?. Thao tác nghị luận
chính là: Bình luận.
(5) Xác định phạm vi, tư liệu nghị luận
Khi đã xác định được phạm vi nghị luận và tư liệu nghị luận, người viết sẽ
tránh được tình trạng lan man –đề cập đến những nội dung đề bài không yêu cầu,
cũng nư tình trạng chưa thực hiện hết những khía cạnh mà đề bài yêu cầu. Đồng
thời biết tìm và sử dụng hợp lý nguồn tư liệu trong đời sống xã hội, trong văn
học…để phục vụ có hiệu quả và đúng với yêu cầu mà bài làm đề ra. Đối với nghị
luận xã hội nói chung và nghị luận về một tư tưởng đạo lý nói riêng thì tài liệu
không giới hạn, chỉ có điều người viết lưu ý sử dụng các tư liệu thuộc về xã hội
nhiều hơn các tư liệu thuộc về văn học, nghệ thuật trong một bài văn mà thôi.
Ví dụ: Nhà văn M. Go-rơ-ki có viết: “Sách mở rộng trước mắt tôi những
chân trời mới”. Hãy nêu quan niệm của em về ý kiến trên.

- Giải thích thế nào là tính trung thực
- Nêu tác dụng của tính trung thực (bằng lý lẽ và dẫn chứng thực tế)
- Nêu và phân tích các khía cạnh biểu hiện của tính trung thực trong cuộc
sống
- Khẳng định tính trung thực là một đức tính quan trọng, cần thiết đối với
mỗi con người
- Rút ra phương hướng và bài học cho bản thân trong cuộc sống.
Ví dụ: Đức Phật dạy: Giọt nước chỉ hoà vào biển cả mới không cạn mà
thôi”. Hãy trình bày suy nghĩ của anh chị về lời dạy trên?. Dựa vào những việc
gợi ý tìm ý (tìm luận điểm) cho kiểu đề nghị luận về một tư tưởng, đạo lý, chúng
ta có thể tìm những ý sau:
- Giải thích khái niệm cá nhân và tập thể
- Nêu và phân tích vai trò của cá nhân
- Nêu và phân tích vai trò của tập thể
- Nêu và phân tích mối quan hệ qua lại giữa cá nhân và tập thể
- Nêu nhận thức, thái độ, hành động và bài học của bản thân.
 Bước 3. Lập dàn ý
Dàn ý được coi là bản phác thảo về nội dung của một bài văn, là sự tổng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status