BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Đoàn Thị Ngọc Lan
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LẬP DÀN Ý MẪU CHO ĐỀ
VĂN NGHỊ LUẬN Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Đoàn Thị Ngọc Lan
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LẬP DÀN Ý MẪU CHO ĐỀ
VĂN NGHỊ LUẬN Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học Văn
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN THANH BÌNH
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
Học viên thực hiện
Đoàn Thị Ngọc Lan
2
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ......................................................................... 5
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 6
1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................................. 6
2. Lịch sử vấn đề.................................................................................................................. 8
3.Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu ................................................................................. 9
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................. 9
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................... 9
6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài ...................................................... 10
7. Cấu trúc luận văn.......................................................................................................... 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN................................................ 11
1.1. Cơ sở lý luận ............................................................................................................... 11
1.1.1. Cơ sở lý luận dạy học ............................................................................................ 11
1.1.2. Cơ sở tâm lý học và giáo dục học ......................................................................... 14
1.2. Cơ sở thực tiễn ........................................................................................................... 17
1.2.1. Những hạn chế chủ yếu của học sinh khi viết văn nghị luận ................................ 17
1.2.2. Một số ví dụ cụ thể ................................................................................................ 18
1.2.3. Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế ................................................................... 21
1.2.4. Tình hình lập dàn ý của học sinh........................................................................... 26
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
K
Khá
NLXH
Nghị luận xã hội
NLVH
Nghị luận văn học
LLVH
Lý luận văn học
PPDH
THPT
Trung học phổ thông
VHS
Văn học sử
VD
Ví dụ
5
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 của Đảng và Nhà nước đã khẳng
định phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện
đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỉ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần
của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được
giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng cao; tạo tiền đề vững
chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau. Chiến lược cũng đã xác định rõ một trong ba
đột phá là phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập
trung vào việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát
triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ. Sự phát triển của đất
nước trong giai đoạn mới sẽ tạo ra nhiều cơ hội và thuận lợi to lớn, đồng thời cũng phát sinh
nhiều thách thức đối với sự nghiệp phát triển giáo dục.
Trong “Chiến lược phát triển giáo dục 2010 – 2020”, Đảng và Nhà nước cũng xác
là hai trục tích hợp chủ yếu, trong đó đọc-hiểu là hoạt động tự chiếm lĩnh văn bản của học
sinh, làm văn là hoạt động tự tạo lập văn bản của học sinh.
Nhìn lại thực tiễn dạy học Ngữ văn thời gian qua, có thể nhận thấy khá rõ một điều:
trong khi lĩnh vực đọc-hiểu văn bản đã thu hút được nhiều sự quan tâm chú ý của giới
nghiên cứu và đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận thì lĩnh vực tạo lập văn bản (Làm
văn) vẫn đang gặp phải nhiều vướng mắc, chất lượng làm văn của HS vẫn chưa thực sự khả
quan.
Khi gặp một đề văn, người viết cần phải hình dung ra một dàn ý cơ bản. Đề bài làm
văn thì vô cùng đa dạng nhưng giữa các đề trong cùng một kiểu đề thì lại có sự thống nhất
tương đối về khung ý mà ta gọi là dàn ý mẫu (hay dàn ý cơ bản). Trong quá trình dạy học
làm văn, GV không thể giúp HS xây dựng dàn ý cho mọi đề văn nghị luận mà chỉ có khả
năng hướng dẫn HS xây dựng một cách thành thạo cácdàn ý mẫu (khung ý) cho các kiểu
dạng đề. Trên cơ sở của những dàn ý mẫu này, HS có thể xây dựng những dàn ý cụ thể tuỳ
theo yêu cầu của đề văn. Việc rèn luyện kỹ năng xây dựng dàn ý mẫu sẽ góp phần hình
thành và phát triển tư duy thiết kế cho HS. C.Mác đã từng viết trong bộ Tư bản: “Con nhện
thực hiện các thao tác giống các thao tác của người thợ dệt, con ong xây tổ sáp làm cho mỗi
nhà kiến trúc phải hổ thẹn. Nhưng ngay một nhà kiến trúc tồi từ đầu đã khác một con ong cừ
nhất ở chỗ, trước khi dùng sáp xây tổ, nhà kiến trúc đã xây nó trong đầu của mình rồi.”. Dàn
ý mẫu chính là khung thiết kế cơ bản nhất tương ứng với từng kiểu dạng đề làm văn mà HS
phải định hình trước khi triển khai thành những dàn ý tương ứng với từng đề văn cụ thể.
Hơn nữa, qua thực tế giảng dạy và thực nghiệm điều tra, người viết nhận thấy một trong
những khó khăn, lúng túng lớn nhất của HS khi viết văn nghị luận không chỉ là làm thế nào
7
để xác định được những ý cơ bản (dàn ý mẫu) của một đề văn cụ thể mà còn ở chỗ làm thế
nào để xác định được một khung ý cho một kiểu dạng đề nhất định.
Chính vì vậy, chúng tôi quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài Rèn luyện kỹ năng
lập dàn ý mẫu cho đề văn nghị luận ở Trung học phổ thông mong góp phần làm sáng tỏ
hơn những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng các dàn ý mẫu và cụ thể hoá cơ chế
phần đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn nói chung,
Làm văn nói riêng.
3.Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm thực hiện những nhiệm vụ và mục đích sau:
– Góp phần giải quyết một trong những vấn đề trọng tâm của việc đổi mới phương
pháp dạy học làm văn hiện nay: hướng dẫn HS xây dựng các dàn ý mẫu cho các kiểu dạng
đề làm văn nghị luận trong chương trình THPT.
– Nghiên cứu những ưu thế và tính khả thi của hướng đi này trong việc vận dụng vào
thực tế dạy học làm văn, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.
– Đề xuất một quy trình, cách thức tổ chức hoạt động dạy học và thử nghiệm vận
dụng vào thực tế khi tiến hành dạy học một số bài học làm văn ở trường THPT.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ và mức độ của luận văn, đề tài giới hạn đối tượng và phạm vi
nghiên cứu như sau:
– Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng các dàn ý mẫu trong hoạt động dạy
học làm văn.
– Vận dụng các dàn ý mẫu vào việc tổ chức hoạt động dạy học làm văn trong chương
trình THPT.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu vấn đề mà luận văn đặt ra, trong quá trình thực hiện, người viết kết
hợp, vận dụng linh hoạt phương pháp nghiên cứu lí thuyết và phương pháp nghiên cứu thực
nghiệm, cụ thể là:
– Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng để nghiên cứu lịch sử vấn đề và
phát hiện, rút ra những kết luận cần thiết về cơ sở lí luận thông qua việc tìm hiểu các tư liệu,
giáo trình, các bài nghiên cứu thuộc các lĩnh vực Giáo dục học, Tâm lý học, Ngôn ngữ học,
Lý luận và Phương pháp dạy học văn,… có liên quan trực tiếp đến phạm vi đề tài.
– Phương pháp điều tra, khảo sát: được sử dụng để thu thập những tư liệu thực tế về
10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Cơ sở lý luận dạy học
Ngữ văn là một trong những môn học có vị trí hết sức quan trọng trong số các môn
học ở nhà trường phổ thông. Đây là bộ môn đi đầu về việc áp dụng nguyên lí tích hợp ba
phân môn Tiếng Việt, Văn học và Làm văn; trong đó, Làm văn được xem là một phân môn
thực hành tổng hợp tất cả những kiến thức, kỹ năng của Văn học và Tiếng Việt.
Xung quanh vấn đề đổi mới PPDH, nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học làm văn
đã có nhiều chuyên luận, bài báo, báo cáo khoa học. Nhìn chung, các ý kiến đều đề cao việc
rèn luyện kỹ năng trong quá trình hướng dẫn tạo lập văn bản.
Ngoài ra, những năm gần đây, nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và phát huy
toàn diện cho HS về kiến thức cũng như kỹ năng, đề thi Văn cũng có nhiều đổi mới. Một đề
thi thường có hai phần: NLXH (3 điểm) và NLVH (5 điểm). Đây là một khó khăn cho HS vì
NLXH đòi hỏi lối viết sắc sảo, tư duy xã hội sâu rộng, khiến người viết phải huy động vốn
hiểu biết đến năng lực trình bày một vấn đề xã hội nào đó cho giàu sức thuyết phục. Ngược
lại, NLVH đòi hỏi vốn văn học chắc chắn, lối viết thiên về cảm xúc; là trình bày những
nhận xét, đánh giá của mình về giá trị nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm cụ thể nào
đó. Đó là những nhận xét, đánh giá phải xuất phát từ nội dung (đề tài, chủ đề, tư tưởng, cảm
hứng nghệ thuật... ) và từ nghệ thuật ( ngôn từ, kết cấu, tình huống...) của tác phẩm mà
người viết phải tự phát hiện và khái quát. HS sẽ phải tự mình dung hòa hai cách viết, hai lối
tư duy khác nhau trong cùng một bài thi. Vì vậy, để tiết kiệm thời gian, tránh được lỗi triển
khai các ý thiếu hệ thống (ý trùng lặp; ý rời rạc, lan man; ý lộn xộn), lỗi triển khai các nội
dung thiếu chính xác và lỗi văn bản (thiếu nội dung); việc giúp HS luyện kỹ năng xây dựng
dàn ý mẫu là việc làm cần thiết.
Quan điểm đổi mới phương pháp dạy học chương trình Ngữ văn THPT là phải biết
kết hợp nhiều phương pháp trong dạy học.Đã có nhiều bài báo, các hội thảo khoa học và
những phương tiện thông tin bàn bạc về nội dung SGK, về việc cần phải đổi mới cách dạy.
nhưng, nhiều người hay nghi ngờ việc dùng mẫu với lý do tạo nên thói quen bắt chước,
thiếu tính sáng tạo. Có thể xem, đó chỉ là suy nghĩ phiến diện, một chiều.Nếu ta xem mẫu
dưới khía cạnh rèn luyện tư duy nghiên cứu, tiết kiệm thời gian, sử dụng trực quan, ta sẽ
thấy mẫu rất có lợi” [6, tr.32].Bản thân mỗi GV sẽ có những cách triển khai bài giảng, cách
đánh giá, kiểm tra khác nhau trong cùng một bài dạy. Thế nhưng, mỗi GV vẫn phải tuân
theo một chuẩn mực chung mà SGV hoặc sách Hướng dẫn chuẩn kiến thức, kĩ năng môn
Ngữ văn quy định.
Trong bài viết Đổi mới chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn sau 2015-Một vài đề
xuất về nội dung và phương pháp, TS. Nguyễn Văn Tùng đã nhận thấy: cần phải tạo lập cho
12
HS một phương pháp phân tích tác phẩm, một tư duy tích cực và chủ động để có thể giải
quyết được mọi trường hợp. Học văn cũng giống như học toán. Giống như dạy toán, dạy
văn cần phải cung cấp cho các em những “công thức” văn học, giúp các em hiểu bản chất
của những công thức đó, hướng dẫn các em vận dụng những công thức đó vào giải quyết
những trường hợp tác phẩm văn học cụ thể. Học như thế là học một biết mười.Đó là cách
học để HS có thể lấy “cái bất biến” ứng dụng vào “cái vạn biến”.
PGS. Đỗ Ngọc Thống cho rằng: để lập được dàn ý nhanh và tốt, HS cần trang bị cho
cá nhân mình một vốn ý mẫu học được từ các tiết dạy học đọc-hiểu mà GV giảng dạy trên
lớp; từ những bài nghị luận mẫu của một số tác giả có uy tín. Qua những cách viết, bài văn
mẫu đó, các em sẽ học được cách lập dàn ý của họ bằng cách tóm tắt bài văn ấy thành một
dàn ý mẫu:
-
Mở bài có luận đề là gì?
-
Thân bài gồm những luận điểm và luận cứ nào
khả năng đảm bảo đủ ý cho bài viết là một điều khó khăn; nói chi đến việc diễn đạt suy
nghĩ, ý kiến cá nhân dưới hình thức một bài văn nghị luận cho thật chính xác, rõ ràng, mạch
lạc... thì quả thật là một điều không dễ dàng gì. Hơn nữa chúng ta nhận thấy hiện nay trong
thực tế có nhiều việc không thể không dạy theo mẫu (nhất là ở giai đoạn đầu của việc học
tập). Có dựa theo mẫu, làm theo mẫu, các em mới có thể hình thành được khái niệm, nhất là
các kỹ năng thao tác, để sau đó các em làm theo.
Sau khi GV hướng dẫn HS rèn luyện lập dàn ý mẫu, các em sẽ dễ dàng phỏng tác và
sáng tạo theo ý của mình nhưng vẫn không thể lạc đề, sai thể loại, sai mục đích yêu cầu. Có
thể nói, khi đã làm đúng hoặc gần đúng như dàn ý mẫu, thì lúc đó sản phẩm tạo ra là chính
của các em chứ không còn là của người khác nữa. Như vậy, nhìn từ góc độ này, việc dạy và
làm theo mẫu vẫn cần thiết và không hề thủ tiêu tính năng động của HS. Ngoài ra, dàn ý
mẫu khiến các em tự tin hơn khi viết bài; tùy từng đề văn mà tạo ra ý mới và loại bỏ những
ý cũ.
1.1.2. Cơ sở tâm lý học và giáo dục học
K.Đ. Usinxki (1824-1873) cho rằng muốn dạy học được tốt cần hiểu biết đặc điểm
tâm sinh lý lứa tuổi của HS.Tương tự, A. Distervec (1780-1866) cũng yêu cầu người thầy
giáo phải dựa vào cơ sở tâm sinh lý của HS. Đó là một nguyên tắc cơ bản, là “sao Bắc Đẩu
của nền tảng sư phạm, chung quanh nó quay tròn tất cả các phương pháp, tất cả các cách
thức giáo dục, đó là lý tưởng chúng ta luôn hướng tới”.
HS không thể thuộc lòng văn mẫu nhưng có thể ghi nhớ dàn ý mẫu.Cơ sở của sự
ghi nhớ này là tâm lý học về trí nhớ.Theo tác giả Nguyễn Trọng Hoàn, ghi nhớ luôn luôn
mang tính chọn lọc. Con người không thể ghi nhớ tất cả những gì đã xảy ra trong cuộc sống
mà tùy theo động lực, mục đích, hứng thú và phương tiện hoạt động mà đối tượng nào sẽ
được lựa chọn trở thành biểu tượng trong trí nhớ. Trong cuốn Rèn luyện tư duy sáng tạo
trong dạy học tác phẩm văn chương, Nguyễn Trọng Hoàn đã chia quá trình ghi nhớ thành:
ghi nhớ máy móc và ghi nhớ ý nghĩa. Để nhớ một dữ liệu, người ta chỉ cần nhớ nguyên xi
mà không quan tâm đến ý nghĩa của nó, đó là ghi nhớ máy móc. Ghi nhớ ý nghĩa là ghi nhớ
14
bảo tính chính xác, ngắn gọn, phù hợp với đối tượng... Đôi khi GV sẽ cung cấp sẵn cho HS
15
một số mô hình ý cơ bản.Tuy nhiên, nếu HS có thể tự tạo cho mình một mô hình riêng thì sẽ
dễ học, dễ nhớ hơn.
Những gì HS tri giác được cũng có thể coi là một dạng kiến thức nhưng chỉ là những
kiến thức đơn giản bên ngoài. Vì vậy, HS phải được hướng dẫn các thao tác tư duy như: so
sánh, đối chiếu, phân tích... để tìm ra những ý đáp ứng đề văn dựa trên dàn ý mẫu. Đây là
giai đoạn thông hiểu tài liệu-là giai đoạn chiếm lĩnh kiến thức.Ở đây nhận thức đòi hỏi phải
có một tư duy cao hơn. Chẳng hạn, khi đã được GV hướng dẫn lập dàn ý mẫu kiểu bài nghị
luận về một ý kiến bàn về văn học bằng cách khai thác mẫu quan điểm sáng tác của Thạch
Lam; trên cơ sở thông hiểu tài liệu đó, HS nhận ra: để giải quyết đề văn có cùng kiểu này thì
cần phải trải qua quá trình giải thích, chứng minh, phân tích và bàn luận ý kiến.
Trong quá trình nhận thức, học tập, HS không những cần nắm được tri thức mà còn
phải biết vận dụng vào thực tiễn.Đây là giai đoạn đòi hỏi cao nhất về tính tích cực, sự nỗ lực
hết mình của HS.Chính vì vậy, việc vận dụng ý mẫu vào các đề văn cụ thể phải được rèn
luyện, trao dồi thành những kỹ năng.
Làm văn là một môn thực hành hiểu trên ý nghĩa toàn bộ quá trình dạy học.Chúng ta
đều biết hoạt động và thao tác là những khái niệm trung tâm của lý thuyết hoạt động trong
tâm lý học.Xây dựng dàn ý mẫu cũng là một hoạt động.Để thành thạo trong hoạt động này,
HS cần được rèn luyện để đạt đến sự thành thạo.Xưa nay, giảng dạy Làm văn thường quan
tâm đến việc hình thành kỹ năng cho HS khi tiếp xúc với đề văn.Không có kỹ năng tìm hiểu
đề, tìm ý để hình thành kỹ năng xây dựng dàn ý mẫu, HS sẽ khó tạo lập được văn bản. Dạy
kỹ năng do vậy có lịch sử hàng trăm năm cả ở lĩnh vực tâm lý và giáo dục. Nói đến kỹ năng
là quan tâm đến khả năng của một người có thể áp dụng những hiểu biết của mình vào thực
hiện tốt một công việc nào đó. Tiến hành công việc đến mức trôi chảy, thuần thục, tốc độ,
tinh thông, rất ít sự can thiệp của tư duy, gần như là tự động hóa là đặc điểm của một người
có kỹ năng trong công việc anh ta đang thực hiện. Để đạt được kỹ năng xây dựng dàn ý
nay; những bài văn “cười ra nước mắt” vẫn đều đều xuất hiện sau mỗi kì thi tốt nghiệp
THPT hoặc tuyển sinh đại học – cao đẳng. Tuy nhiên, trong những hạn chế đó, chúng tôi
muốn lưu ý đến kĩ năng của HS trong việc xây dựng dàn ý nói chung, dàn ý mẫu nói riêng.
Trong thực tế, nhiều HS lớp 12, dù đã gần kì thi tốt nghiệp vẫn không biết cách thức
làm một bài văn nghị luận.Đây quả là một vấn đề đáng quan tâm hiện nay, đặc biệt là đối
với những HS đang ôn thi. Trong quá trình khảo sát cho luận văn, một số câu hỏi của HS
đã được chúng tôi ghi nhận lại như sau:
“Xin cô hướng dẫn cách thức làm một bài văn nghị NLVH về phương diện nghệ
thuật của một tác phẩm (ví dụ như làm rõ những đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm hay đoạn
trích truyện).Em đọc đề thi đại học thấy có dạng đề này nên hơi lo”. (Phan Thảo Uyên)
“Ở bài văn NLVH về tác phẩm thơ, truyện, em có nhất thiết phải giới thiệu tác giả,
hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm hay không?”. (Nguyễn Thị Yến)
17
“Đã gần đến những kì thi mang tính quyết định của cuộc đời minh, kiến thức văn học
và kiến thức xã hội xem như tích lũy gần đủ, Tuy nhiên, khi viết bài, em không có đủ thời
gian để diễn đạt trọn vẹn ý của minh; thậm chí GV không hiểu em đang viết những gì”.
(Trần Thị Lan)
“GV trên lớp hướng dẫn cho bọn em kiến thức đọc-hiểu văn bản nghệ thuật rất kĩ
lưỡng.Thế nhưng, mặc dù đã được học rất kĩ về bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh nhưng khi
gặp dạng đề phân tích hoặc cảm nhận về nghệ thuật bài thơ này thì em lại chẳng biết viết
gì.Cô giúp em với”. (nhóm HS lớp 12A5)
Qua việc khảo sát những ý kiến trên, chúng ta rút ra kết luận chung là các em HS này
chưa nắm được hoặc không có ý thức lập dàn ý khái quát của từng kiểu đề, loại đề. Từ đó,
dẫn đến việc viết lan man, không đủ thời gian, mất điểm vì thiếu ý... Đây cũng có thể coi là
một phần thiếu sót của PPDH làm văn hiện nay.
1.2.2. Một số ví dụ cụ thể
Phần mở bài
Khi viết phần mở bài NLVH, cần phải có ý mẫu (ý cơ bản) về: tác giả, tác phẩm,
kiến thức văn chương phong phú, mang trong người tâm hồn và xúc cảm thơ văn. Tuy
nhiên phần mở bài này chỉ đạt 0.25/0.5 vì thiếu trích dẫn câu nói của F. Sile.
Một mở bài của NLXH-kiểu nghị luận về một tư tưởng, đạo lý ẩn trong một câu danh
ngôn, một câu ngạn ngữ... muốn đạt chuẩn thì phải có các ý mẫu sau:
+ Lời dẫn dắt, giới thiệu tư tưởng, đạo lý cần bàn luận
+ Trích dẫn nguyên văn câu danh ngôn, câu ngạn ngữ...
Phần thân bài
Việc triển khai bài viết ở phần thân bài bằng cách nêu các luận điểm (ý lớn) và làm
rõ luận điểm bằng các luận cứ (ý nhỏ) cũng không thực hiện được đầy đủ.Đây là hạn chế
phổ biến nhất của HS.Thậm chí, đôi lúc, phần thân bài chưa giải quyết hết yêu cầu của đề
văn.
Chẳng hạn với đề NLVH trên: Phân tích tâm trạng nhân vật bà cụ Tứ trong truyện
ngắn Vợ nhặt của Kim Lân. Từ đó nhận xét về giá trị nhân đạo của tác phẩm này.
Một HS đã viết phần thân bài như sau:
Bà cụ Tứ là người mẹ già nghèo khổ, bất hạnh nhưng cũng là một người mẹ giàu tình
yêu thương.Tâm trạng tinh tế, phức tạp của bà cụ Tứ sau khi Tràng có vợ được Kim Lân
miêu tả hết sức sinh động, khéo léo.
Ngạc nhiên là tâm trạng đầu tiên.Với bà, việc Tràng dẫn người đàn bà về nhà là một
việc bất thường, khác lạ, gây ra sự ngỡ ngàng, đẩy bà vào thế bị động.Tràng lấy vợ là một
việc trọng đại, bà ngạc nhiên bởi sự thay đổi lớn trong gia đình.Tác giả đã diễn tả sự ngạc
nhiên của bà cụ qua một loạt những câu hỏi mà bà tự đặt ra cho mình.Bao nhiêu câu hỏi là
19
bấy nhiêu nghi ngờ, lạ lẫm.“Quái sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Người đàn bà
nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u? Ai thế
nhỉ?”.Hình như bà cũng chẳng biết nên vui hay nên buồn, nên cười hay nên khóc. Nỗi khổ
sở, sự nghèo đói đã thắm quá sâu vào tâm can bà. Bà cảm thấy có tội với con, những câu bà
tự nhủ giống như lời tự thú đau đớn của con người.
Sau khi hiểu ra cớ sự, khi có thời gian ngẫm về cuộc đời mình, bà mới khóc. Giọt
đề văn yêu cầu nghị luận về mặt nội dung (diễn biến tâm lí của nhân vật) nhưng phần nghệ
thuật xây dựng những diễn biến tâm lí đó HS cũng cần phải đề cập sơ qua. Đó là nghệ thuật
độc thoại nội tâm và ngôn ngữ đối thoại tinh tế. Ngoài ra, ở bài viết này HS triển khai thiếu
yêu cầu nghị luận của đề bài: giá trị nhân đạo của tác phẩm được thể hiện gián tiếp qua việc
miêu tả diễn biến tâm trạng của bà cụ Tứ. Đó chính là, dù đã gần đất xa trời, dù đã già nua
nhưng niềm tin, khát vọng sống vẫn được thắp sáng trong tâm hồn của bà cụ Tứ. Đến đây,
chúng ta nhận ra dụng ý nghệ thuật sâu sắc của Kim Lân: Triết lý tình thương vượt lên mọi
khổ đau.
Phần kết bài
Các em chưa biết cách nêu nhận định, đánh giá chung trong phần kết bài. Do đó,
cũng chưa mở ra được hướng suy nghĩ mới sau khi nghị luận.
Các ý mẫu cần có ở phầnkết bài của đề NLVH trên là:
+ Đánh giá: Là hình ảnh tiêu biểu cho những bà mẹ Việt Nam nghèo khổ giàu lòng
nhân ái.
Qua nhân vật bà cụ Tứ, có thể thấy rõ những biểu hiện của giá trị nhân đạo: Cảm
thông, thương xót; trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của người nông dân.
+Khẳng định: Giá trị nhân đạo toát lên từ nhân vật bà cụ Tứ đã tạo nên sức hấp
dẫn, sức sống đặc biệt cho tác phẩm.
Trong thực tế, khi chấm bài viết của HS với chính đề văn này, đa phần HS đều thiếu
ý đánh giá hoặc ý khẳng định-vốn thể hiện mối liên hệ giữa hai vấn đề nghị luận (tâm lý bà
cụ Tứ và giá trị nhân đạo).
1.2.3. Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế
-
Các em chưa coi trọng bộ môn so với các môn khoa học tự nhiên nên chưa đầu tư,
chưa có thái độ đúng đắn; chưa có thói quen chuẩn bị bài trước khi đến lớp, chưa chịu khó
tìm hiểu để mở mang kiến thức.
-
Như vậy, các loại kiến thức trong bộ môn Ngữ văn có mối liên hệ mật thiết với
nhau.Theo PGS.Đỗ Ngọc Thống, trong giờ đọc-hiểu nên dành khoảng 5 phút nhắc HS cách
phân tích, cảm nhận một tác phẩm văn chương cùng với việc nêu hoặc ghi bảng phụ một
dàn ý cơ bản khi phân tích văn học.Nếu có dư thời gian, GV sẽ hướng dẫn HS một dàn ý
chi tiết hơn để HS tự ghivào trong vở. Mặt khác, trong giờ làm văn, GV sẽ phải sử dụng
những tác phẩm cụ thể để minh họa cho lý thuyết và thực hành khai thác.
Với đề văn: Phân tích chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam được biểu hiện qua
nhân vật Dít (truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành) và nhân vật Chiến (truyện
ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi)- (đoạn trích trong SGK lớp 12).
HS cần phải huy động tích hợp kiến thức đọc-hiểu của hai tác phẩm Rừng xà nu và
Những đứa con trong gia đình với khái niệm lý luậnvề chủ nghĩa anh hùng cách mạng và
một dàn ý cơ bản của kiểu đề phân tích nhân vậttự sự gồm:
• Xuất thân
• Ngoại hình
22
• lời nói
• Hành động cử chỉ
• Cách cư xử, mối quan hệ
• Cách nhìn-cách nghĩ-cách cảm
• Tính cách
• Tâm trạng
• Số phận
• Nhận xét của nhân vật khác
Kiến thức lý luận văn học:
Đó là một nguyên lí đạo đức, một nguyên lí tinh thần chi phối cuộc sống con người
và được biểu hiện nổi bật trong những thử thách lớn lao, khắc nghiệt của dân tộc.
Mỗi cá nhân khác nhau nhưng đều là những người con của thời đại với tinh thần bất
khuất, hành động dũng cảm, một lòng một dạ bảo vệ cách mạng...