1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
HOÀNG THỊ THANH
VẬN DỤNG LÍ THUYẾT LẬP LUẬN TRONG
DẠY HỌC VĂN BẢN NGHỊ LUẬN
Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học
(Bộ môn Ngữ văn)
HÀ NỘI - 2011 3
CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT 1. CM
Cách mạng
2. ĐTTN
Đối tượng thực nghiệm
3. GV
Giáo viên
4. HCM
Hồ Chí Minh
5. HĐ
Hoạt động
Trang
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Lịch sử vấn đề
4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
9
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
9
5. Phương pháp nghiên cứu
9
6. Cấu trúc luận văn
10
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA
VIỆC VẬN DỤNG LÝ THUYẾT LẬP LUẬN TRONG DẠY
HỌC VĂN BẢN NGHỊ LUẬN 11
1.1. Cơ sở lý luận
11
1.1.1. Một số vấn đề về lý thuyết lập luận
11
1.1.2. Bản chất ngữ dụng của lập luận
21
1.1.3. Khái quát văn bản nghị luận
31
1.2. Cơ sở thực tiễn
2.3. Hiệu quả của việc vận dụng lý thuyết lập luận trong dạy học
văn bản “Bình Ngô đại cáo” và “Tuyên ngôn độc lập”
75
Chƣơng 3: THIẾT KẾ GIÁO ÁN VÀ THỰC NGHIỆM
76
3.1. Thiết kế giáo án
76
3.2. Thực nghiệm
106
3.2.1. Mục đích thực nghiệm
106
3.2.2. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm
107
3.2.3. Kế hoạch thực nghiệm
108
3.2.4. Triển khai thực nghiệm
109
3.2.5. Đánh giá kết quả thực nghiệm
111
3.2.6. Kết quả rút ra qua thực nghiệm.
113
KẾT LUẬN
114
TÀI LIỆU THAM KHẢO
118
đề nào đấy. Nếu không có lập luận, thì vấn đề đó sẽ trở nên thiếu tính thuyết
phục, khiến người đọc không tin vào những điều mà người nói muốn dẫn dắt
người đọc hướng tới. Như vậy, sẽ không đạt được đích của giao tiếp. Cho 2
nên, đã là văn nghị luận là phải lập luận và lập luận phải chặt chẽ, sáng rõ.
Đặc điểm của lập luận là người viết sử dụng ngôn ngữ để nêu vấn đề, trình
bày lí lẽ và qua đó đánh giá sự đúng – sai, đưa ra các phán đoán, nêu ra kiến
giải, phát biểu ý kiến, thể hiện rõ lập trường, quan điểm của bản thân.Việc
trình bày lí lẽ được người viết thể hiện thông qua các phương thức tư duy
lôgic như khái niệm, phán đoán, suy lí và hệ thống các dẫn chứng nhằm đạt
được mục đích khiến người đọc tin theo. Bởi vậy, lập luận được sử dụng rất
nhiều trong các văn bản, nhằm để thuyết phục người đọc. Lập luận là đặc
trưng cơ bản của văn bản nghị luận. Lập luận như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt
trong bài văn nghị luận ở trường phổ thông.
Dạy văn bản nghị luận cho học sinh chính là dạy cho các em các thao
tác lập luận.Việc sử dụng tốt các thao tác lập luận sẽ giúp học sinh tạo lập
được những văn bản nghị luận hay, đầy tính sáng tạo. Đây cũng chính là mục
đích cuối cùng của việc dạy các thao tác lập luận cho học sinh. Qua đó chúng
ta có thể đánh giá được năng lực hoàn thành từng thao tác lập luận cụ thể trong
quá trình tạo lập văn bản của học sinh. Chính vì vậy mà sách giáo khoa (SGK)
Ngữ Văn từ THCS đến THPT đã đưa các thao tác lập luận thành từng nội dung
cụ thể (Ở SGK Làm văn trước đây các thao tác này không được học một cách
rõ ràng, cụ thể), nhằm giúp học sinh có cái nhìn rõ hơn, hiểu sâu hơn bản chất
bản chất của từng thao tác lập luận, và từ đó biết cách kết hợp các thao tác lập
luận đó vào quá trình tạo lập văn bản.
1.2. Nghiên cứu về lý thuyết lập luận ngày càng được quan tâm; những thành
tựu của nó đòi hỏi phải được tích hợp và ứng dụng vào dạy học văn bản, nhất
là vào vệc đề xuất các phương pháp, hình thức rèn luyện kỹ năng lập luận
trình bày trên các phương tiện thông tin đại chúng của chúng ta , như truyền
hình, phát thanh, báo chí …, nhiều khi thiếu sức thuyết phục. Vì sao vậy? Câu
trả lời có thể khác nhau, song một thực tế không thể phủ định được là : Trong
rất nhiều ngành nghề, muốn trở thành những chuyên gia hàng đầu, làm việc
có hiệu quả thì cần học những cách lí lẽ , lập luận 4
Vận dụng lý thuyết lập luận trong văn bản nghị luận không chỉ để rèn
luyện năng lực cho lập luận trong văn bản, mà đồng thời góp phần rèn luyện
tư duy cho học sinh.
Từ những lý do nói trên, việc vận dụng lý thuyết lập luận trong văn bản
nghị luận là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình giảng dạy văn nghị luận
bậc phổ thông trung học. Với đề tài này, chúng tôi thấy đây là một trong
những việc làm trọng tâm thiết thực nhất nhằm góp phần thực hiện có hiệu
quả mục đích dạy học văn bản nghị luận ở nhà trường phổ thông hiện nay.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Xét trên phương diện tư duy
Ngay từ thời cổ đại, từ thế kỉ thứ V trước công nguyên, người ta đã chú
ý nghiên cứu về lập luận. Có truyền thuyết rằng, vùng đất Sicile vốn do hai
bạo chúa thống trị. Họ chiếm đất đai và chia cho binh sĩ của mình. Nhưng
vào năm 467 TCN (trước công nguyên) một cuộc nổi dạy đã lật đổ hai bạo
chúa này. Nhiều người tuyên bố từng là chủ sở hữu những mảnh đất trước
đây bị cướp đoạt. Thế là có những cuộc kiện cáo liên miên tại toà. Trong tình
hình đó, Corax và học trò của ông là Tisias đã viết một tài liệu về “phương
pháp lí lẽ” khi nói trước toà. Có lẽ, đó là văn bản đầu tiên của nhân loại đề
cập tới phương thức lập luận [Plantin, 1996].
Buổi đầu, sự lập luận được coi là một lĩnh vực thuộc phạm vi của thuật
hùng biện - một “nghệ thuật nói năng”. Nó được trình bày trong “Tu từ học”
(A: Rhetoric) của Aristote. Tiếp sau đó, sự lập luận cũng được trình bày trong
trình tư duy.
2.1. Xét trên phương diện ngôn ngữ
Trước đây, lập luận được nghiên cứu trong tu từ học và lôgic học. Hai
nhà ngôn ngữ học Pháp: Oswald Ducrot và Jean Claude Anscombre đã đặc
biệt quan tâm tới bản chất ngữ dụng học của lập luận. 6
Sử dụng ngôn ngữ trong khi nói viết con người mới tiến hành được lập
luận để hiện thực hóa tư tưởng, tình cảm của mình. Chính vì vậy, vấn đề lập
luận từ lâu cũng được đặt ra trong Ngôn ngữ hoc. Dựa vào tác phẩm Tu từ
học – công trình đầu tiên nghiên cứu lập luận của Aristore, người ta thấy rằng
lúc đầu nó được coi là thuộc phạm vi của thuật hùng biện. Về sau lập luận
được trình bày trong các phép suy luận của lôgic hình thức, trong “ngụy biện”
tranh cãi ở các tòa án, trong các bài diễn thuyết và các cuộc thi hùng biện.
Cuối cùng, với tính cách là một hành động ngôn ngữ, một thao tác ngôn ngữ,
lập luận đã trở thành một đối tượng nghiên cứu của chính ngôn ngữ học.
Từ nửa sau của thế kỷ XX, lập luận được nhiều nhà ngôn ngữ học quan
tâm, đặc biệt là các tác giả: S.Tolmin (1958), Grize (1982) và O.Ducrot
(1983)[40]. Những năm 70, người ta chú ý đến nghiên cứu lập luận thực tế,
lập luận mà con người dùng để thuyết phục người khác. Các tác giả Johnson
and Blair (1977), Preeman (1988), Govier (1985) là những người có nhiều
đóng góp về hướng nghiên cứu này. Nghiên cứu lập luận trên góc độ hoạt
động ngôn ngữ, người ta đã tập trung miêu tả cấu trúc ngôn ngữ của lập luận,
phân biệt lập luận theo lôgic với lập luận thuyết phục, các yếu tố ngôn ngữ
thực hiện sự lập luận, các chiến lược lập luận, các lý lẽ về sự thuyết phục.
Theo hướng nghiên cứu này người ta đi đến quan niệm: “lập luận là đưa ra
những lý lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết
luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới”[24,tr260]. Như vậy, ở đây lập luận
đã được xem xét trên bình diện hoạt động ngôn ngữ nhằm hướng tới giao tiếp
quả…trong các cấu trúc lập luận của ngôn ngữ. Ngôn ngữ học cũng đã chú
trọng nghiên cứu các loại lý lẽ của lập luận thuyết phục và sự thực hiện nó
qua các biểu thức, hoặc qua các yếu tố nói trên của tiếng việt. Nhờ vậy, người
ta đi đến xây dựng được các khái niệm: Lập luận, đặc tính của quan hệ lập
luận, “tác tử lập luận”, “kết tử lập luận”, cấu trúc lập luận, cơ sở của lập luận.
Cuối cùng, lý thuyết lập luận trong ngôn ngữ đã được đưa vào nhà trường dạy
cho học sinh phổ thông trung học. 8
Những thành tựu nghiên cứu về lập luận trên góc độ hoạt động ngôn ngữ
cũng có tác dụng góp phần làm hoàn thiện hơn lý thuyết lập luận nói chung,
tạo thêm các điều kiện để đi vào nghiên cứu và xây dựng lý thuyết lập luận
trong làm văn nhất là trong văn nghị luận. Tuy nhiên, những nghiên cứu đó
tuy cung cấp được rất nhiều dữ kiện để xây dựng tốt các lời nói liên kết
nhưng chưa phải đã tạo ra được đầy đủ các tiền đề lý luận cho toàn bộ hoạt
động dạy học văn nghị luận. nhất là cho việc tạo lập các văn bản nghị luận
hoàn chỉnh, chặt chẽ, sâu sắc, thuyết phục.
Văn nghị luận không những là một hoạt động tư duy, hoạt động ngôn ngữ
mà còn là một hoạt động tư tưởng, tình cảm nhằm vào việc thuyết phục người
nghe. Lập luận trong văn nghị luận, do đó “một mặt. cần giữ được vẻ đặc thù
của loại văn này, mặt khác, phải là sự vận dụng cách thức suy luận mà
logic học nghiên cứu, cũng như cách diễn đạt nó bằng ngôn từ mà ngôn
ngữ học chỉ ra” [138, tr 14]. Rõ ràng, lập luận trong một hoạt động như vậy
luôn luôn phải dựa trên nhiều căn cứ : (1) Lôgic học, (2) Ngôn ngữ học, (3)
Tâm lý học nhận thức…
2.3. Xét trên phương diện văn bản nghị luận
Văn bản nghị luận là một loại văn có từ rất sớm. Theo tác giả Nguyễn
Quốc Siêu thì văn nghị luận có mầm mống từ thời nhà Thương, hình thành
chính thức vào thời chiến quốc trong không khí của “trăm nhà đua tiếng” và
Ngoài ra luận văn còn có nhiệm vụ khảo sát khả năng thực thi việc ứng
dụng kiểu bài này bằng thực nghiệm sư phạm, để thấy được những vấn đề mà
luận văn đề xuất có khả năng thực thi đến đâu và có hiệu quả như thế nào?
trong thực tế dạy học văn bản nghị luận ở trường phổ thông hiện nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong khi tiến hành làm luận văn để thực hiện tốt nhiệm vụ mà luận
văn đề ra ở trên tôi sử dụng một số phương pháp sau:
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Chúng tôi tiến hành tập hợp các tài liệu có liên quan đến lý thuyết lập
luận nói chung và các văn bản nghị luận nói riêng. Đặc biệt chúng tôi nghiên
cứu các tài liệu chuyên sâu về lý thuyết lập luận. 10
5.2. Phương pháp điều tra, khảo sát
Khảo sát, điều tra là phương pháp không thể thiếu khi nghiên cứu đề tài
này. Chúng tôi dùng phương pháp điều tra, khảo sát để tìm hiểu việc dạy học
kiểu văn bản nghị luận thông qua việc vận dụng lý thuyết lập luận ở trường
phổ thông hiện nay. Đặc biệt với phương pháp này chúng tôi sẽ điều tra được
nhận thức của giáo viên và học sinh về kiểu bài nghị luận một vấn đề xã hội
trong văn bản văn học, để từ đó chúng ta có thể đưa ra những giải pháp phù
hợp cho việc giảng dạy những kiểu bài này.
5.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp thực nghiệm giúp chúng ta bước đầu đưa những vấn đề mà
luận văn đề xuất vào thực tế dạy học ở một số trường Trung học phổ thông.
Từ phương pháp này chúng ta có thể rút ra những kết luận cần thiết cho luận
văn.
Ngoài những phương pháp trên chúng tôi còn sử dụng một số phương
pháp khác như phương pháp thống kê - phân loại, phương pháp phân tích đối
chiếu so sánh. Đây là những phương pháp được sử dụng kêt hợp với các
- Nhà của ông Nhuận có hai tầng.
- Con mèo này màu đen.
- Trời nhiều mây.
Có số lượng thấp. Trong giao tiếp thông thường, ít khi chúng ta miêu tả
để miêu tả. Thường thường, chúng ta miêu tả một cái gì đấy là để hướng
người nghe tới một cái gì đấy nằm ngoài sự vật, hiện tượng, sự kiện được
miêu tả.
Cái mà người nói hướng người nghe tới qua thông tin miêu tả có thể là một
thái độ, một tình cảm, một sự đánh giá, một nhận định hay một hành động
nào đó cần phải thực hiện. Nói vắn tắt, cái mà thông tin miêu tả hướng tới là
một kết luận nào đó rút từ thông tin miêu tả đó.
Lập luận là đưa ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết
luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới. 12
Có thể biểu diễn quan hệ lập luận giữa các phát ngôn (nói đúng hơn là giữa
nội dung các phát ngôn) như sau:
p → r
p là lí lẽ, r là kết luận (p, r có thể được diễn đạt bằng các phát ngôn u1, u2,
v.v…)
Trong quan hệ lập luận, lí lẽ được gọi là luận cứ (argument). Vậy có thể nói
quan hệ lập luận là quan hệ giữa luận cứ (một hoặc một số) với kết luận.
Luận cứ có thể là thông tin miêu tả hay là một định luật, một nguyên lí xử thế
nào đấy. Ví dụ:
- Con mèo này màu đen (p) (nên) rất dễ sợ (r)
p là một thông tin miêu tả.
- Mệt mỏi thì phải nghỉ ngơi (p) mà cậu thì đã làm việc liền 8 tiếng rồi
(q) → cậu phải nghe nhạc một lát (r).
Ở ví dụ này, chúng ta có hai luận cứ, p là một nguyên lí sinh hoạt và q là nhận
cùng một kết luận. Đơn giản nhất là lập luận sau đây của 3 nhân vật hội thoại
Sp1, Sp2, Sp3.
Sp1: Đi Đồ Sơn làm gì, vừa đông vừa chật chội, nước biển lại đục.
Sp2: Gần thành phố, thực phẩm ở đó đắt lắm. Giá khách sạn cao mà
chưa chắc đã còn phòng mà thuê.
Sp3: Năm nào cũng đi biển, chán lắm rồi.
Sp1: Không đi Đồ Sơn thì đi đâu? Sa Pa nhé!
Sp2, Sp3: Hoan hô Sa Pa.
Ba người nêu ra 3 loạt luận cứ tất cả đều dẫn đến kết luận “không đi Đồ Sơn”.
Những cuộc hội thoại trong đó các nhân vật cùng hỗ trợ nhau dẫn tới
cùng một kết luận sau này sẽ được gọi là những hội thoại đồng hướng. Các
cuộc hội thoại đồng hướng lập luận phức hợp là những hội thảo thí dụ như về
phòng chống ma túy, bảo vệ môi trường, v.v…
Trong một cuộc tranh luận, các nhân vật hội thoại có thể đưa ra những lập
luận dẫn tới những kết luận ngược nhau. Chúng ta nói những lập luận đó là 14
nghịch hướng với nhau. Mỗi lập luận nghịch hướng là một phản lập luận
(contre-argumentation) đối với nhau. Diễn ngôn độc thoại hay song thoại không
phải chỉ có một lập luận mà thường là sự phối hợp của một số lập luận (và phản
lập luận), các lập luận đó diễn tiến để dẫn đến kết luận cuối cùng, đích của toàn
bộ diễn ngôn. Lập luận thường vận động trong diễn ngôn. Nghiên cứu mặt động
của diễn ngôn chủ yếu là nghiên cứu vận động lập luận của nó. Tuyên ngôn độc
lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hệ thống của những lập luận bộ phận, các lập
luận đó liên kết với nhau, lập luận trước dẫn đến lập luận sau, tất cả tạo nên một
vận động đi tới kết luận cuối cùng:
“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành
một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh
thần và lự lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc
Hoa 3: Sao mày cực đoan thế? Mày không tin à?
Tâm 4: Bịa đặt. Tao mà yêu vào thì chỉ có học dốt đi thôi. Yêu là phải lo
lắng này, suy nghĩ này, mệt cả người. Rồi không may nó bỏ thì
có phải ốm cả tháng ý chứ. Tao chả dại mà đâm đầu vào đấy.
Hoa 4: Yêu cũng có cái hay chứ. Được dựa dẫm sướng quá còn gì.
Tâm 5: Ôi dào, tao thèm vào ý. Mà tao thấy thanh niên bây giờ toàn
thằng dở hơi, tinh tướng. Anh cứ tưởng anh có cái xe máy là to
lắm đấy, đi đâu mặt cũng vênh vác lên.
Hoa 5: Thôi tao chẳng thèm nói với mày nữa. Mày bảo thủ lắm. Mày
làm như ai cũng xấu cả.
Tâm 6: Chứ còn gì nữa, mày muốn yêu thì đi mà yêu. Tao thì chịu thôi.
Hoa 6: Nói thế thôi chứ bây giờ ai rồ dại mà đi yêu đương. Có muốn yêu
bây giờ cũng chẳng có ma nào nhòm ngó. Yêu cũng phải tùy
từng lúc chứ. 16
Tâm 7: Tao thì cứ phải học xong đã.
Hoa 7: Ừ…
Trong cuộc đối thoại này, từ Tâm 1 đến Tâm 6, từ Hoa 1 đến Hoa 5 từng
đôi lời thoại lập thành từng cặp lập luận phản lập luận. Mặc dầu Tâm và
Hoa có những ý kiến khác nhau về chuyện yêu đương trong lúc còn đi học
nhưng cuối cùng họ cũng đi đến một kết luận (Hoa 6) dù là kết luận có tính
miễn cưỡng. Từ Hoa 6 trở đi, không còn phải lập luận nữa, lập luận của từng
người (Hoa 6 và Tâm 6 rồi Hoa 7), đồng hướng với nhau. Trên đây là tóm
lược vận động lập luận của từng người và của toàn bộ cuộc hội thoại. Lập
luận có vận động thì cuộc hội thoại mới không dẫm chân tại chỗ, mới có tính
năng động.
Trong một lập luận, kết luận có thể ở vị trí đầu, vị trí giữa hoặc cuối
của luận cứ. Ở Tâm 1, kết luận: Yêu đương bây giờ nhạt nhẽo đứng trước luận
những kết luận hàm ẩn bộ phận.
Một chàng trai nói với một cô gái như sau:
Anh yêu em vì tình yêu của anh đối với em nên anh sẽ yêu em mãi mãi.
Lập luận này có kết luận là anh yêu em mãi mãi, đặc biệt quan yếu trong kết
luận này là từ mãi mãi. Bằng kết luận này, chàng trai muốn “thông báo” cho
cô gái biết lòng thủy chung của mình (mãi mãi). Quan hệ lập luận ở đây như
thế nào? Lập luận này hàm ẩn một luận cứ: Đó là luận cứ “tình yêu của anh
đối với em không bao giờ tàn phai”. Luận cứ này hàm ẩn. Có thể khôi phục
các thành phần hàm ẩn của luận cứ này như sau:
Anh yêu em vì tình yêu của anh đối với em (chứ không phải vì tình yêu
của em đối với anh).
mà Tình yêu của anh đối với em sẽ là mãi mãi (vì là của anh nên anh biết
là nó sẽ mãi mãi).
cho nên Anh sẽ yêu em mãi mãi.
Điều quan trọng là, dù kết luận hay luận cứ có thể hàm ẩn nhưng về
nguyên tắc, người nói phải thế nào cho người nghe căn cứ vào ngữ cảnh, vào
ngôn cảnh, vào ngữ huống có thể tự mình suy ra mà nắm bắt lấy kết luận (hay 18
luận cứ) ẩn. Rất nhiều những kết luận hay luận cứ hàm ẩn do hành vi ngôn
ngữ gián tiếp tạo ra. Thí dụ, chàng trai có thể thực hiện hành vi từ chối đi xem
bằng một lời trì hoãn. Nếu chàng trai nói: Đoàn này ở lại Hà Nội những một
tháng kia mà, chúng ta không cần đi xem hôm nay. thì hành vi thông báo việc
hoãn này còn ở lại Hà Nội một tháng không có hiệu lực từ chối gián tiếp nữa.
Cũng như hành vi ở lời hứa của đứa bé Hôm nay con được điểm mười về
toán. sẽ mất hiệu quả gián tiếp “đòi hỏi” nếu nó tường minh hóa hành vi đòi
hỏi bằng phát ngôn, thí dụ: Mẹ mua kem cho con đi. Về mặt lập luận, hành vi
ở lời gián tiếp thường là kết luận mà nội dung của những phát ngôn ngữ vi
tường minh là luận cứ. Vì người nói đoán rằng người nghe của mình có thể tự
trai. Có thể biểu diễn mô hình lập luận đó như sau:
Lập luận bộ phận 1
Đoàn còn ở
lại một tháng (p1) → Hôm nay
chưa cần đi (r1)
Lập luận bộ phận 2
em đi xem
bị gò bó (p2) → Anh không
muốn em đi
hôm nay (r2)
Không có diễn ngôn nào không phải là lập luận, lập luận đơn giản hay
phức hợp. Tư tưởng chủ đề của toàn bộ diễn ngôn có thể xem là R lớn và tư
tưởng chủ đề của từng đoạn hợp thành diễn ngôn là những r. Mỗi đoạn văn là
một lập luận bộ phận, tất cả hợp lại lập luận lớn, chung cho toàn bộ diễn
ngôn. Một cách hết sức đơn giản, có thể xem các câu chủ đề (tường minh hay
hàm ẩn) của từng đoạn của diễn ngôn là các r mà các ý trình bày trong đoạn
phải dẫn tới. Cần chú ý trong một diễn ngôn, không phải tất cả các kết luận
bộ phận r (tức lập luận bộ phận) đều đồng hướng có nghĩa là đều dẫn tới R.
Để cho diễn ngôn có sức thuyết phục, có khi người nói, người viết phải đưa ra
các phản lập luận để rồi bác bỏ phản lập luận đó (thí dụ trong lời thoại của cô
Kiều đã dẫn, câu lục bát:
Hôm nay anh
không đi (R) 20
Vẻ chi một đóa yêu đào,
Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh.
là một phản lập luận so với kết luận tổng thể là: Chàng phải tình lại, đừng có
bờm xơm! Phản lập luận này đưa ra để rồi bị phản bác ngay:
của một lập luận là nhân tố hành vi mượn lời cho nên không thuộc phạm vi
nghiên cứu của ngữ dụng học.
1.1.2. Bản chất ngữ dụng của lập luận
Trong lôgic có phép quy nạp và diễn dịch. Quy nạp hay diễn dịch đều
là đi từ luận cứ đến kết luận. Nếu đi từ luận cứ cục bộ đến kết luận khái quát
thì ta có quy nạp, nếu đi từ một tiền đề (premise) khái quát để suy ra kết luận
cục bộ thì ta có diễn dịch. Nói tới lập luận thường là nói tới suy luận theo diễn
dịch và ta thường nghĩ ngay đến lôgic, đến lí luận, đến diễn ngôn nghị luận.
Đúng là, trong văn nghị luận, tức là loại văn bản làm việc với các ý
kiến có vấn đề then chốt là lập luận. Tuy nhiên, lập luận có mặt khắp nơi,
trong bất cứ diễn ngôn nào, đặc biệt trong các diễn ngôn đời thường. Thí dụ,
khi mua bán, người mua phải lập luận để kết luận giá món hàng mà mình trả
là phải chăng còn người bán lại phải lập luận rằng giá món hàng mình nêu ra
cho khách là hợp lí. Hơn thế nữa, không phải chỉ khi nào cần phải lí luận,
tranh luận với nhau chúng ta mới lập luận. Khi chúng ta kể lại một sự kiện,
miêu tả một hiện thực, chúng ta cũng thực hiện một vận động lập luận. Như
vậy có nghĩa là cần phân biệt lập luận lôgic với lập luận đời thường.
Ở mục I.1. chương I chúng ta đã nói ngữ dụng là lĩnh vực của ngữ nghĩa
không thể đánh giá được theo tiêu chuẩn đúng – sai lôgic. Chứng minh bản
chất ngữ dụng của lập luận đời thường là chứng minh rằng nó không bị chi
phối bởi các quy tắc, các tiêu chuẩn đánh giá của lập luận lôgic và chứng
minh rằng giá trị các nội dung miêu tả được đưa vào trong lập luận đời
thường không phải ở chỗ các nội dung này đúng hay sai so với thực tế mà là ở
giá trị của nó đóng góp vào lập luận với tư cách là những luận cứ của lập luận