Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
TRẦN THỊ THU TRANG
VẬN DỤNG LÝ THUYẾT SÁNG TẠO
TRONG DẠY HỌC SINH HỌC TẾ BÀO
(SINH HỌC 10)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
(SINH HỌC 10) Chuyên ngành: LL & PP dạy học Sinh học
Mã số: 60.14.01.11 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học : PGS.TS Nguyễn Phúc Chỉnh
THÁI NGUYÊN, 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dƣới sự
hƣớng dẫn của PGS.TS Nguyễn Phúc Chỉnh. Các số liệu, kết quả nêu trong
luận văn này là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công
Phúc Chỉnh – ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn giúp đỡ em trong suốt quá trình thực
hiện và hoàn thành luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ, giảng viên trong tổ bộ môn PP
giảng dạy sinh học, Khoa Sinh – KTNN, trƣờng ĐH Sƣ phạm Thái Nguyên,
cùng tập thể cán bộ giảng viên khoa Sau đại học, Đại học Thái Nguyên đã tạo
điều kiện thuận lợi cho em trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại
trƣờng.
Cảm ơn những ngƣời thân trong gia đình và bạn bè đã quan tâm giúp đỡ
động viên tôi trong quá trình học tập, thực hiện và hoàn thành đề tài.
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2014
Tác giả luận văn
Trần Thị Thu Trang Số hóa bởi Trung tâm Học liệu MỤC LỤC
Trang
1.3.2. Khái niệm sáng tạo 20
1.3.3. Khái niệm tƣ duy sáng tạo 21
1.3.4. Các yếu tố ảnh hƣởng tới năng lực tƣ duy sáng tạo của học sinh 21
1.3.5. Các biện pháp rèn luyện tƣ duy sáng tạo 26
1.4. Cơ sở thực tiễn của đề tài 27
1.4.1. Điều tra thực trạng dạy - học kiến thức sinh học tế bào ở trƣờng phổ
thông 27
1.4.2. Khả năng lĩnh hội kiến thức của HS 28
Kết luận chƣơng 1 29
Chƣơng 2 VẬN DỤNG LÝ THUYẾT SÁNG TẠO VÀO DẠY HỌC PHẦN
SINH HỌC TẾ BÀO ( SH 10) 30
2.1. Phân tích chƣơng trình sinh học tế bào 30
2.1.1. Cấu trúc nội dung chƣơng trình Sinh học 10 cơ bản 30
2.1.2. Đặc điểm nội dung phần Sinh học tế bào (SH10) 34
2.2. Các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản 35
2.3. Vận dụng lý thuyết sáng tạo trong dạy học sinh học tế bào 40
2.3.1. Vận dụng lý thuyết sáng tạo dạy học phần lý thuyết sinh học tế bào . 40
2.3.2. Vận dụng lý thuyết sáng tạo hƣớng dẫn học sinh giải bài tập sinh học
tế bào 42
Kết luận chƣơng 2 54
Chƣơng 3 THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 55
3.1. Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm 55
3.2. Nội dung và phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm 55
3.2.1. Nội dung thực nghiệm 55
3.2.2. Phƣơng pháp thực nghiệm 56
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
3.3. Kết quả thực nghiệm sƣ phạm 59
3.3.1. Lựa chọn tiêu chí đánh giá 59
5
HS
Học sinh
6
NLST
Năng lực sáng tạo
7
NST
Nhiễm sắc thể
8
NTST
Nguyên tắc sáng tạo
9
NXB
Nhà xuất bản
10
SH
Sinh học
11
SHTB
Sinh học tế bào
12
SGK
Sách giáo khoa
13
TB
Tế bào
14
TDST
Tƣ duy sáng tạo
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1: Nguồn kiến thức của TRIZ 14
Hình 1.2: Sơ đồ khối chƣơng trình giải các bài toán 17
Hình 1.3: Mô hình tính nhạy bén của tƣ duy 23
Hình 3.1. Biểu đồ tần suất điểm kiểm tra 61
Hình 3.2. Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm kiểm tra 62 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Xuất phát từ nhiệm vụ đổi mới PPDH
Giáo dục - đào tạo luôn đƣợc xem là nhân tố quan trọng, quyết định cho
sự phát triển kinh tế nhanh, mạnh và bền vững. Thế kỉ XXI đƣợc xem là thế kỉ
của công nghệ thông tin và truyền thông, sự phát triển nhƣ vũ bão của cuộc
cách mạng khoa học - công nghệ đã làm cho khối lƣợng tri thức của nhân loại
tăng lên một cách nhanh chóng. Để không bị tụt hậu trong chặng đƣờng thế kỉ
này, giáo dục cần phải có sự đổi mới để đào tạo ra những con ngƣời năng động,
sáng tạo đáp ứng đƣợc yêu cầu của thời đại.
Nghị quyết TW 2 khoá VIII (12/1996) đã xác định “phải đổi mới phƣơng
pháp giáo dục đào tạo khắc phục lối truyền thụ kiến thức một chiều, rèn luyện
thành nếp tƣ duy sáng tạo của ngƣời học. Từng bƣớc áp dụng các phƣơng pháp
tiên tiến hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học,
tự nghiên cứu của học sinh”. Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành
TW khoá X tiếp tục khẳng định “Tập trung nâng cao chất lƣợng giáo dục - đào
tạo toàn diện, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo
chế, các hoạt động của các quá trình sống diễn ra trong cơ thể, từ đó lựa chọn
các phƣơng pháp, phƣơng tiện dạy học phù hợp
1.3. Xuất phát từ ưu điểm của lý thuyết sáng tạo
Phƣơng pháp luận sáng tạo với hạt nhân là “lý thuyết giải bài toán sáng
chế” (theory of inventive problem solving, viết tắt từ tiếng nga chuyển sang kí
tự la ting là TRIZ) cung cấp cho quá trình tƣ duy một công cụ hữu hiệu giúp
định hƣớng suy nghĩ có hiệu quả cao. Đó chính là chìa khoá cho ngƣời học,
cánh cửa dẫn đến việc điều khiển quá trình suy nghĩ có định hƣớng và khoa học
dẫn đến sự sáng tạo. Bên cạnh việc dạy TRIZ nhƣ một môn học riêng, ta hoàn
toàn có thể áp dụng TRIZ vào quá trình dạy các môn học khác, chẳng hạn nhƣ
sinh học để từng bƣớc giúp định hƣớng và điều khiển tƣ duy ngƣời học.
TRIZ là: các hệ kỹ thuật phát triển tuân theo các quy luật khách quan,
nhận thức đƣợc. Chúng đƣợc phát hiện và sử dụng để giải một cách có ý thức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
những bài toán sáng chế. TRIZ đƣợc xây dựng nhƣ là một khoa học chính xác,
có lĩnh vực nghiên cứu riêng, các phƣơng pháp riêng, ngôn ngữ riêng, các công
cụ riêng [18].
TRIZ cũng có tính linh hoạt, mềm dẻo: cùng một bài toán, một vấn đề có
thể giải quyết theo nhiều cách, giúp ngƣời giải không cảm thấy khó khăn khi
đứng trƣớc bài toán, vấn đề mà muốn giải nó, ngƣời giải cũng phải tƣ duy, suy
luận áp dụng cho bài toán cụ thể [19].
Do đó trong dạy học sinh học tế bào (SH10), hoàn toàn có thể áp dụng
TRIZ nhằm rèn luyện cho học sinh cách suy nghĩ giải quyết vấn đề theo các thủ
thuật, quy luật của TRIZ giúp học sinh phát triển tƣ duy sáng tạo, gắn kết đƣợc
kiến thức đƣợc học vào các bài toán thực tế của cuộc sống.
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: Vận dụng lý thuyết sáng tạo trong
dạy học sinh học tế bào (SH10).
2. Mục đích nghiên cứu
Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lí thuyết TRIZ. Đƣa ra đƣợc một số nguyên
tắc vận dụng lý thuyết sáng tạo trong dạy học SHTB (SH10).
8. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận nội dung chính của luận văn đƣợc
trình bày trong 3 chƣơng
Chƣơng 1 : Cơ sở lý thuyết và thực tiễn của đề tài.
Chƣơng 2: Vận dụng lý thuyết sáng tạo vào dạy học Sinh học tế bào.
Chƣơng 3 : Thực nghiệm sƣ phạm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan tài liệu
1.1.1.Tình hình nghiên cứu TRIZ trên thế giới
Trên thế giới, khoa học sáng tạo phát triển rất sớm, từ thế kỉ thứ III. Nhà
toán học ngƣời Hy Lạp Pappos gọi khoa học này là Ơ-ris-tic, là khoa học về
các phƣơng pháp và quy tắc làm sáng chế, phát minh trong mọi lĩnh vực khoa
học, kĩ thuật, văn học, nghệ thuật, chính trị, triết học, toán, quân sự…
Vào nửa cuối thế kỉ XIX các nghiên cứu tâm lý sáng tạo trong khoa học
kĩ thuật bắt đầu xuất hiện. Đến thế kỉ XX các nghiên cứu đã cho kết quả là khả
năng sáng tạo có ở tất cả những ngƣời bình thƣờng, khoa học sáng tạo Ơ-ris-
tic đƣợc phát triển với chất lƣợng mới với tên gọi là sáng tạo học. Các nhà tâm
lý học đã phát hiện ra phƣơng pháp thử sai và vai trò quan trọng của nhiều yếu
tố tâm lý nhƣ : tính liên tƣởng, trí tƣởng tƣợng,trực giác, tính ì tâm lý. Trong
quá trình tƣ duy sáng tạo. Tại thời điểm đó đã có nhiều phƣơng pháp nhằm
nâng cao năng suất và hiệu quả tƣ duy sáng tạo nhƣ: Phƣơng pháp đối tƣợng
tiêu điểm F. Zwicky, Phƣơng pháp não công của A.Osborn [6]. Mặc dù các
vật lý nổi tiếng về hoạt động sáng tạo, cơ sở lý thuyết của phƣơng pháp phát
triển khả năng sáng tạo của HS trong dạy học vật lý [12].
V. Langue (1978) với “Những bài tập hay về thí nghiệm vật lý” đã đƣa
ra 124 bài tập thí nghiệm bao gồm các bài tập thí nghiệm gần gũi với cuộc sống
mà học sinh có thể làm ở nhiều nơi: Làm ở nhà, làm lúc dạo chơi, làm khi du
lịch hoặc làm trong phòng thí nghiệm [12].
M. E. Tultrinxki (1979) với “Những bài tập nghịch lý và ngụy biện về
vật lý đã chỉ ra những tình huống có vấn đề mà học sinh có thể mắc sai lầm khi
vận dụng nó vào giải quyết vấn đề thông qua các bài tập nghịch lý và ngụy biện
hay, gần gũi với cuộc sống [12].
Ngƣời đầu tiên nghiên cứu về TRIZ trong sinh học là Vitaly Timokhov,
năm 1996 ông cho xuất bản cuốn sách giới thiệu các khái niệm cơ bản liên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
quan tới TRIZ và các ví dụ về biện pháp sáng tạo giải quyết các vấn đề từ sinh
học: bảo vệ môi trƣờng nhờ tạo năng lƣợng xanh, cách tiết kiệm năng lƣợng
xanh, phát triển môi trƣờng sinh thái [24], [25].
Năm 2000, Julian FV Vincent và Darrell Mann tiến hành dự án dạy
học TRIZ trong sinh học ở đại học. Tác giả giảng dạy lý thuyết TRIZ và 40
nguyên tắc sáng tạo cho 2 sinh viên ngành sinh học và yêu cầu 2 sinh viên
này và nhóm sinh viên (8 ngƣời) tìm ra các mâu thuẫn cho sáu vấn đề đƣợc
đƣa sẵn và nêu hƣớng giải quyết các mâu thuẫn đó trong 2 giờ. Kết quả cho
thấy: việc vận dụng các nguyên tắc sáng tạo nhƣ hệ thống tƣ duy đã giúp hai
sinh viên đƣa ra đƣợc các giải pháp bổ sung hay trong khi đó các giải pháp
của nhóm sinh viên đƣa ra đều dựa trên cơ sở kiến thức tự nhiên [22].
Năm 2004, Frances Stuart, Darrell Mann, Dr David J Hill với mục đích
là để đánh giá việc sử dụng của TRIZ nhƣ là một phƣơng tiện để tạo các giải
pháp giảm thiểu tác động sinh thái của con ngƣời tới môi trƣờng sống của sinh
vật, các tác giả đã đƣa thông tin sinh thái cho các chuyên gia phi sinh thái đƣợc
tạo [16].
Từ năm 2002 đến 2009, tác giả Phan Dũng đã nghiên cứu phƣơng pháp
luận sáng tạo (giải quyết vấn đề và ra quyết định) áp dụng trong khoa học – kỹ
thuật dựa trên nền tảng cơ sở lý thuyết giải quyết vấn đề sáng tạo (TRIZ). Năm
2010, tác giả Phan Dũng đã cho xuất bản bộ sách "Phƣơng pháp luận sáng tạo
và đổi mới" gồm 10 tập (do NXB Trẻ ấn hành) trình bày về TRIZ làm tài liệu
cho những ai quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu học tập về lĩnh vực khoa học sáng
tạo [4], [5], [7], [8], [9].
Nguyễn Thị Thu Thảo (2010), Vận dụng TRIZ xây dựng hệ thống bài tập
sáng tạo dùng cho dạy học Vật lý phần “Từ trƣờng và cảm ứng điện từ” lớp 11
THPT nhằm bồi dƣỡng tƣ duy sáng tạo cho học sinh [14].
Nguyễn Ngọc Anh Thƣ (2011), vận dụng thuật toán ARIZ là algorit vào
trong dạy học hóa học. Cụ thể, tác giả kết hợp sử dụng grap và algorit vào dạy
học chƣơng “Hidrocacbon” trong chƣơng trình sách giáo khoa hóa học 11. Tác
giả đã xây dựng hệ thống các grap nội dung về các hidrocacbon và vận dụng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
vào quá trình dạy học bài mới của chƣơng, đồng thời tác giả cũng xây dựng và
vận dụng algorit để hƣớng dẫn HS giải bài tập hidrocacbon và vận dụng vào
quá trình thí nghiệm nhận biết các chất hidrocacbon [15].
Năm 2011, Vũ Thị Minh nghiên cứu và vận dụng các nguyên tắc sáng tạo
của TRIZ thiết kế các bài tập sáng tạo trong dạy học phần cơ học (vật lý 10)
nhằm giúp HS nâng cao khả năng tƣ duy sáng tạo, nhận biết và giải các bài tập
sáng tạo [12].
Hoàng Thanh Tâm (2013), đề tài “Vận dụng TRIZ vào dạy học bài tập quy
luật di truyền( Sinh học 12)” [13].
Từ những kết quả nghiên cứu trong nƣớc và nƣớc ngoài, đã đặt ra vấn đề
cấp thiết đó là phải làm thế nào để bồi dƣỡng năng lực TDST và đánh giá đƣợc
năng lực TDST của học sinh trong chƣơng trình SHPT nói chung và trong phần
Mục đích của phƣơng pháp này là đƣa ra và nghiên cứu tất cả các phƣơng
án một cách có hệ thống về nguyên tắc, bằng việc phân đối tƣợng thành từng
phần, đa dạng hóa chúng rồi kết hợp trở lại nhằm bao quát đƣợc những phƣơng
án bất ngờ, độc đáo.
Nội dung phƣơng pháp: ngƣời ta liệt kê tất cả các đặc trƣng của đối tƣợng,
mỗi đặc trƣng là một cột sau đó liệt kê tất cả các phƣơng án cải tiến có thể có
cho từng đặc trƣng. Sau đó ngƣời ta kết hợp mỗi phƣơng án ở từng cột với
nhau để tạo ra các phƣơng án cải tiến cho đối tƣợng.
Song do kiểu kết hợp đó nên phƣơng pháp này có thể có rất nhiều phƣơng
án mà không thể đánh giá hết đƣợc [1], [4].
* Sử dụng các phép tƣơng tự (Synectics) do W.Gordon (Mỹ) đề xuất năm 1952
Gordon thành lập nhóm Synectics đầu tiên giải các bài toán sáng chế.
Những nhóm Synectics là những nhóm ngƣời có nghành nghề khác nhau, đƣợc
tập hợp lại với nhau với mục đích cố gắng giải một cách sáng tạo các bài toán
bằng việc luyện tập không hạn chế tƣởng tƣợng và kết hợp những yếu tố không
liên hệ với nhau.
* Phƣơng pháp kết hợp mạnh (Strong association methods) do U.Gordon
phát triển lên từ phƣơng pháp tập kích não vào năm 1960.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Cơ sở của phƣơng pháp này vẫn là tập kích não nhƣng những ngƣời trong
nhóm ra ý tƣởng phải bắt buộc sử dụng bốn thủ thuật đặc biệt theo nghĩa
“tƣơng tự”. Tƣơng tự trực tiếp: các bài toán tƣơng tự nhƣ bài toán đã cho đã
đƣợc giải quyết nhƣ thế nào? Tƣơng tự phân thân (phép thấu cảm): đặt mình
vào vị trí, hoàn cảnh của đối tƣợng đang xem xét sau đó mới suy luận. Tƣơng
tự tƣợng trƣng: hãy dùng hình ảnh phát biểu bản chất một vấn đề một cách
ngắn gọn trong vài từ. Tƣơng tự tƣởng tƣợng: các nhân vật thần thoại sẽ giải
bài toán, vấn đề này nhƣ thế nào? [1].
Trong các phƣơng pháp, phƣơng pháp luận sáng tạo TRIZ là một lý
nhƣng đó chƣa phải là phƣơng pháp tối ƣu giúp hoàn thiện tƣ duy của mỗi
ngƣời. Cần phải có một công cụ lao động giúp suy nghĩ hiệu quả hơn thay cho
suy nghĩ thử và sai tự nhiên và thô sơ. Đó chính là cơ chế định hƣớng giúp
ngƣời giải định hƣớng đúng để đi đến lời giải. Khi có công cụ trong tay thì việc
tƣ duy giải quyết vấn đề không phải chỉ dành cho thiên tài mà chia đều cho mọi
ngƣời bình thƣờng, ai cũng có thể đi đến lời giải một cách khoa học [14].
1.3.2.2. Ý tưởng cơ bản và nguồn gốc TRIZ – lý thuyết giải bài toán sáng chế
Phƣơng pháp thử và sai với nhiều nhƣợc điểm không đáp ứng yêu cầu của
sự phát triển và giải quyết các vấn đề hiện đại. Hiện nay trên thế giới có khá
nhiều phƣơng pháp luận sáng tạo đƣợc xây dựng trên cơ sở tiếp cận khác nhau
đã nêu trên nhƣ: phƣơng pháp công não, phƣơng pháp đối tƣợng tiêu điểm,
phƣơng pháp phân tích hình thái. Tuy nhiên, các phƣơng pháp đó đều không
tránh khỏi những yếu điểm rất cơ bản đó là chúng vẫn giữ chiến thuật cũ (mặc
dù có cải tiến chút ít của phƣơng pháp thử và sai). Các phƣơng pháp này không
bắt đầu từ những quy luật phát triển khách quan của hệ thống tƣ duy, kỹ thuật
và không lợi dụng đƣợc các điểm mấu chốt, đặc thù của các dạng bài toán nên
hiệu quả tƣ duy sáng tạo của các phƣơng pháp này không cao và khó áp dụng
với các bài toán, vấn đề yêu cầu tính sáng tạo cao [1].
Ngƣợc lại, TRIZ hiệu quả hơn các phƣơng pháp cũ bởi tính khoa học.
TRIZ đã khoa học – công nghệ hóa lĩnh vực tƣ duy sáng tạo giải quyết vấn đề
và ra quyết định.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Ý tƣởng cơ bản dẫn đến việc xây dựng TRIZ là khoa học có nhiệm vụ
phát hiện ra các quy luật, khoa học sáng tạo cũng không nằm ngoài quy tắc
chung đó. Sáng tạo tạo ra sự phát triển nên đi tìm các quy luật sáng tạo là đi tìm
quy luật của sự phát triển. Quan niệm đi tìm quy luật sáng tạo không phải là
các quy luật tâm sinh lý mà là đi tìm quy luật của sự phát triển nói chung nhằm
xây dựng cơ chế định hƣớng trong tƣ duy sáng tạo. Sự phát triển của nền văn
Hình 1.1: Nguồn kiến thức của TRIZ
- Phép duy vật biện chứng cung cấp phƣơng pháp luận nghiên cứu
các quy luật chung nhất về sự phát triển trong cả ba lĩnh vực: tự nhiên, xã
hội, tƣ duy.
- Các thông tin về patent là những thông tin tin cậy về sự phát triển.
- Các lý thuyết hệ thống, thông tin, điều khiển học, ra quyết định, các
phƣơng pháp dự báo cung cấp thông tin về sự phát triển trong nhiều lĩnh vực
làm cơ sở cho TRIZ.
- Các yếu tố tâm sinh lý phù hợp với ngƣời sử dụng TRIZ cần đƣợc quan
tâm. Vì thế tâm lý học sáng tạo là một trong những nguồn kiến thức của TRIZ.
- Những sáng chế khoa học mức cao thƣờng sử dụng các hiệu ứng khoa
học độc đáo ít ngƣời biết đến. Vì thế TRIZ còn đặt mục đích xây dựng cơ sở
kiến thức, các phƣơng tiện giúp nhà sáng chế tra cứu và sử dụng hiệu ứng khoa
học một cách thuận tiện.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
- Ngoài ra TRIZ còn phê phán các phƣơng pháp luận sáng tạo khác nhằm
thừa kế ƣu điểm và khắc phục các khuyết điểm.
TRIZ thể hiện tính khoa học ở hƣớng tiếp cận hệ thống, tức là các yếu
tố, thành phần trong mỗi sự vật, sản phẩm hay vấn đề đều có liên quan và tác
động lẫn nhau và mỗi sản phẩm đều có lịch sử, xu hƣớng phát triển dựa trên sự
kế thừa ƣu điểm của cái cũ và hạn chế hoặc loại bỏ các nhƣợc điểm cũ để tạo ra
Dựa trên việc giải quyết mâu thuẫn nhỏ, các vấn đề sẽ đƣợc giải quyết nhanh
gọn hơn.
Ba tính năng trên có thể đƣợc coi là một cách tƣ duy biện chứng.
Vì vậy, bản chất của TRIZ đối với việc giải quyết vấn đề sáng tạo: TRIZ
cung cấp một cách tƣ duy biện chứng, nghĩa là vấn đề đƣợc hiểu nhƣ một hệ
thống, phân tích mối quan hệ giữa các thành phần trong hệ thống, đƣa ra các
giải pháp lý tƣởng và giải quyết mâu thuẫn của hệ thống để giải quyết vấn đề.
Ngƣời giải đƣợc tiếp cận quy trình giải quyết vấn đề dƣới dạng thuật toán
từ đơn giản đến phức tạp đảm bảo tính tƣơng hợp giữa các bài toán. Trong
TRIZ, các bài toán đƣợc phân thành 5 mức; từ các bài toán đơn giản ở mức 1
và 2, đòi hỏi ít thời gian và công sức để giải, có khi chỉ cần vận dụng công thức
hay các phƣơng pháp cũ đã giải đƣợc bài toán. Các bài toán mức 3, mức 4, mức
5 phức tạp hơn, đòi hỏi nhiều thời gian, công sức để giải. Do đó, với mỗi loại
bài toán có quy trình giải riêng.
Tính sáng tạo của TRIZ còn đƣợc thể hiện bởi ngƣời giải đƣợc tiếp cận
với các công cụ tƣ duy có tính định hƣớng cao. Do TRIZ có một hệ thống công
cụ và kỹ thuật hoàn chỉnh giúp tƣ duy sáng tạo và đổi mới.
Hệ thống công cụ và kỹ thuật của TRIZ gồm hai loại. Loại công cụ đầu
tiên giúp giải quyết vấn đề dựa trên nền tảng kiến thức từ các thành tựu khoa
học bao gồm :
9 quy luật phát triển hệ thống
40 nguyên tắc (thủ thuật) sáng tạo cơ bản giúp khắc phục các mâu thuẫn
kĩ thuật.