BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
PHẠM KIỀU ANH
RÈN LUYỆN CÁC THAO TÁC LẬP LUẬN
TRONG DẠY HỌC LÀM VĂN NGHỊ LUẬN
Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học
bộ môn Văn và Tiếng Việt
Mã số:
62.14.01.11
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
GS. TS. LÊ A
HÀ NỘI, 2012
Bảng viết tắt trong luận án
1.BGD &ĐT:
Bộ Giáo dục và Đào tạo
2. BT:
Bài tập
3.CCGD:
11.SGV:
Sách giáo viên
12.THCS:
Trung học cơ sở
13.THPT:
Trung học phổ thông
14. Th.s:
Thạc sỹ
15.TTLL:
Thao tác lập luận
16.VBNL:
Văn bản nghị luận
17. [143,63]:
[ sách số, trang]
18. [127]:
mới từ các quy tắc của lôgic. Phán đoán, kết luận khoa học được tạo ra từ
những quy tắc lôgic thông qua các thao tác của tư duy và được thể hiện theo
một cách thức lập luận nhất định. Bởi vậy, lập luận chính là con đường để tổ
chức nhận thức khoa học. Lôgic học đã xác lập rõ các quy luật của tư duy, quy
tắc của lập luận cũng như những tiền đề thiết yếu để thu được nhận thức chân
lý như tính chân thực, quy tắc của lôgic lập luận [23], [28]...Như vậy, trong
lôgic học, có thể nhận thấy lập luận là yếu tố không thể thiếu của bất kì suy
luận nào. Nó vừa là cách thức, là thao tác tìm ra nhận thức chân lý mới, vừa là
quá trình dẫn dắt con người đi đến và kiểm nghiệm độ xác thực của chân lý ấy.
Với đặc trưng đó, khi nghiên cứu lôgic học, các nhà khoa học đã tìm ra những
phương pháp lập luận như: phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp, suy
luận trực tiếp, suy luận gián tiếp, suy luận loại suy. Hơn nữa, cũng trong lôgic
học, các nhà khoa học còn chỉ ra những cách thức tổ chức lập luận như: phân
tích, chứng minh, bác bỏ, tổng hợp...Có thể nói những cách thức tổ chức lập
luận trên đây gắn liền với các hoạt động của tư duy lôgic, và cũng là con đường
giúp con người đi đến với nhận thức chân lý.
1.1.2. Quan niệm về lập luận trong ngôn ngữ học
Lập luận cũng là một trong những nội dung quan trọng của việc nghiên
cứu ngôn ngữ học. Tìm hiểu lập luận với tư cách là đối tượng của ngôn ngữ,
các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra những quan niệm khác nhau. Nhà nghiên cứu
Nguyễn Đức Dân, khi bàn về lập luận, cho rằng: đó là “một hoạt động, một
thao tác ngôn ngữ, qua đó người nói đưa ra một hay một số phát ngôn làm
luận cứ mà cấu trúc ngôn ngữ và nội dung của chúng đưa người nghe tới
những chuỗi liên kết dẫn tới một kết luận nào đó. Lập luận là một hoạt động
bằng lôgic ngôn từ mà người nói thể hiện nhằm tác động đến quần chúng” [23,
21]. Theo quan niệm này, có thể nhận thấy lập luận chính là các hành động
ngôn ngữ được con người thực hiện để nêu ra những nhận xét, suy luận hay
chỗ sâu để xem giới hạn, nó là cái giỏ để bắt trăm điều suy nghĩ, là thước đo
cân nhắc vạn sự [37]. Trong nhận xét trên, tác giả Lưu Hiệp chỉ rõ những đặc
trưng cơ bản của VBNL: phân biệt đúng - sai, phải - trái, tìm hết lý lẽ, truy cứu
ở cái chỗ vô hình, khoan xuyên vật cứng để cho thông, khơi chỗ sâu để xem
giới hạn, nó là cái giỏ để bắt trăm điều suy nghĩ, là thước đo cân nhắc vạn sự.
Để tạo ra một văn bản đáp ứng được các đặc trưng ấy, người viết phải tổ chức:
lời phù hợp mà ý chặt chẽ, luận giống như việc bổ củi, quý ở chỗ chẻ được lý
ra, người ngụy biện đi ngược ý nghĩa mà nói lấy được thì đọc văn tuy thấy hay
đấy nhưng xét lại thì hóa ra dối trá. Nói một cách khác, tính chính xác của
VBNL được tạo ra qua hành động lập luận. Mặc dù trong VBNL, lập luận được
coi là hành động ngôn ngữ, nhưng lập luận trong ngôn ngữ và lập luận trong
VBNL không hoàn toàn đồng nhất. Bởi trong ngôn ngữ, lập luận được xem xét
trong một mẩu, đoạn hoặc trong phát ngôn cụ thể. Trên cơ sở đó, các nhà ngôn
ngữ tìm ra cấu trúc, ý nghĩa cũng như dụng ý sử dụng chúng khi giao tiếp. Còn
trong VBNL, lập luận là hành động ngôn từ được người tạo lập thực hiện trong
suốt quá trình nghị luận. Nó không chỉ là một câu, một đoạn mà là hành động
trong toàn bộ văn bản. Nói một cách khác, mỗi VBNL là một chuỗi các hành
động ngôn ngữ được người tạo lập tạo ra nhằm tổ chức nội dung luận bàn (từ
nội dung khái quát tới những nội dung cụ thể thông qua luận điểm, luận cứ và
luận chứng), đồng thời thể hiện dụng ý riêng của bản thân. Vì thế, lập luận là
sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ nội dung văn bản, là một trong những căn cứ để
đánh giá giá trị của bài văn nghị luận.
Hơn nữa, lập luận còn là hành động của tư duy logic. Khi thực hiện
hoạt động nghị luận, tận dụng những quy tắc về nhận thức chân lý trong logic,
người tạo lập tổ chức sắp xếp các yếu tố của lập luận để dẫn dắt người tiếp
nhận đi đến với chân lý khoa học, nhằm đạt được các mục đích khác nhau như
tuyên truyền, giáo dục, nhận thức xã hội, giao lưu truyền bá hay truyền cảm bồi
dưỡng. Dù mục đích tạo lập khác nhau, nội dung nghị luận khác nhau nhưng
bản thân. Để thỏa mãn những nhu cầu đó, con người thực hiện hành động dựa
trên phương tiện trong những điều kiện xác định. Mỗi phương tiện quy định
cách thức hành động. Cốt lõi của cách thức ấy chính là thao tác. Bởi vậy, thao
tác là đơn vị nhỏ nhất của hoạt động. Đó là thành phần cấu tạo của hành động.
Trong cấu trúc hoạt động, thao tác là nhân tố thuộc về phía chủ thể thực hiện
hoạt động, nó giúp cho chủ thể tiến hành tạo ra các sản phẩm nhằm đáp ứng
mục đích cụ thể, mục đích cuối cùng của hoạt động
Có thể hình dung cấu trúc vĩ mô của hoạt động bằng sơ đồ sau:
Chủ thể
Khách thể
Hoạt động cụ thể
Động cơ
Hành động
Mục đích
Thao tác
Phương tiện
Sản phẩm
Sơ đồ 1: Cấu trúc vĩ mô của hoạt động (Theo [115, 60])
Như vậy, hành động và thao tác là hai yếu tố cơ bản được con người sử dụng
để thực hiện hoạt động. Hai yếu tố này có quan hệ chặt chẽ với chủ thể con
người. Bởi thế, A. A. Leonchiep cho rằng trong dòng liên tục của các hoạt
động khác nhau tạo nên đời sống cá nhân, nếu ta lấy ra một hoạt động bất kỳ,
rằng bất cứ một đối tượng, một sự vật nào cũng đều do nhiều bộ phận hợp
thành, mỗi bộ phận lại có những đặc trưng và tính chất riêng biệt của nó. Bởi
vậy, muốn hiểu đúng bản chất đối tượng, ta cần nắm vững đặc trưng của từng
bộ phận. Để làm được việc đó, chúng ta thực hiện phân tích. Về bản chất, đó là
hành động chia cắt, xẻ, tách nhỏ đối tượng nhằm tạo ra cơ sở để khảo sát, tìm
hiểu, khám phá đối tượng. Như vậy, phân tích là một thao tác của tư duy lôgic.
Nó là con đường giúp con người tiếp cận với các yếu tố và nhận thức thế giới
khách quan.
Khi tạo lập VBNL, để nội dung nghị luận được trình bày khoa học,
khách quan, người viết phải thực hiện TTLL phân tích. Như vậy, phân tích là
TTLL được người viết sử dụng nhằm dẫn dắt người tiếp nhận hiểu hơn từng
đặc điểm, từng biểu hiện, qua đó có cách nhìn chính xác, khách quan đối với của
nội dung được bàn luận. Nhờ có TTLL này, người tạo lập thể hiện cách thức
tiếp cận đối tượng, rút ra những hiểu biết của bản thân và dẫn dắt người tiếp
nhận đi đến các phán đoán, kết luận khoa học, và nhận thức đúng nội dung nghị
luận. Chẳng hạn, trong ngữ liệu sau:
“Để thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ và phát triển cho tâm hồn, trí tuệ
không gì thay thế được việc đọc sách.
Cuốn sách tốt là người bạn giúp ta học tập, rèn luyện hằng ngày.
Sách mở mang trí tuệ, hiểu biết cho ta, dẫn dắt ta vào những chỗ sâu
sắc, bí ẩn của thế giới xung quanh, từ sông ngòi rừng núi cho đến vũ trụ bao
la. Sách đưa ta vào những thế giới cực lớn, như thiên hà hoặc cực nhỏ, như thế
giới các hạt vật chất.
Sách đưa ta vượt thời gian, tìm về với những biến cố lịch sử xa xưa hoặc
chắp cánh cho ta tưởng tượng tới ngày mai, hoặc hiểu sâu sắc hơn hiện tại.
Sách văn học đưa ta vào thế giới của những tâm hồn người đủ các thời
đại để ta thông cảm với những cuộc đời, chia sẻ những niềm vui, nỗi đau dân
tộc và nhân loại.
phải dựa vào những căn cứ về nội dung, về ý nghĩa hay hình thức biểu hiện để
các khía cạnh được phân tách có tính chính xác, khoa học. Mặt khác, các yếu
tố, các bộ phận phải được phân chia theo cấp bậc. Theo đó, khi sắp xếp, người
viết dựa vào cấp bậc của các yếu tố để trình bày nội dung theo trật tự nhằm tạo
mạch lạc trong diễn đạt.
Phải lựa chọn những dẫn chứng, lý lẽ phù hợp với từng bộ phận, từng
khía cạnh. Khi lập luận, chúng ta cần phải căn cứ vào mục đích để lựa chọn
cách thức tổ chức lý lẽ và dẫn chứng cho thích hợp.
Trong VBNL, TTLL phân tích không đơn thuần chỉ là tách nhỏ các mặt
nội dung để mà còn cần phải xác lập mối liên hệ giữa chúng để có cơ sở khái
quát lại toàn bộ nội dung đã trình bày trước đó, từ đó rút ra nhận thức chân lý.
Muốn nhìn nhận đối tượng trong sự thống nhất hữu cơ của nó thì cần phải tổng
hợp.
1.3.2.2. Thao tác lập luận so sánh
So sánh là một thao tác tư duy được con người sử dụng thường xuyên
trong cuộc sống hàng ngày. Về bản chất, đó là sự đối chiếu hai hay nhiều đối
tượng, nhiều sự kiện, nhiều hiện tượng với nhau dựa trên một mối liên hệ nào
đó, nhằm làm nổi bật được đối tượng đang được xem xét, đánh giá. Từ đặc
trưng của so sánh, khi sáng tạo nghệ thuật, các nghệ sĩ đã tạo ra biện pháp tu từ
so sánh - một trong những biện pháp giúp người nghệ sĩ có thể tạo ra những
hình tượng nghệ thuật. So sánh tu từ được thực hiện theo cơ chế các sự vật,
hiện tượng được xem xét đối chiếu dựa trên những mối liên hệ tương đồng nhất
định nhằm mục đích chính là tạo ra những hình tượng nghệ thuật. Ví dụ:
Con yêu mẹ bằng con dế.
(Xuân Quỳnh)
đấu, tâm địa tầm thường. Còn trong truyện Thánh Gióng, đức Phù Đổng Thiên
Vương của ta đẹp không phải ở hình thể mà đẹp bởi đức tính. Đấy là một vị
thần trí dũng kiêm toàn, đạo đức không gợn một hạt bụi, mọi ý nghĩ và hành
động đều tập trung vào việc cứu dân cứu nước. Như vậy từ việc so sánh hình
ảnh hai vị thần trong truyện, tác giả Nguyễn Đổng Chi đã nêu ra những nét đối
lập trong vẻ đẹp của hai nhân vật để rồi chứng minh cho vẻ đẹp bất diệt của
đức Phù Đổng Thiên Vương - vẻ đẹp ấy toả sáng lung linh, huyền ảo với nhiều
ý nghĩa mới mẻ sâu xa. Thánh Gióng - hình ảnh một vị thần đẹp người, đẹp nết,
trí dũng kiêm toàn, sống và hành động vì nghĩa lớn nhưng lại rất bình dị, khiêm
nhường. Câu kết của đoạn trích chính là kết quả được rút ra từ hành động so
sánh trước đó. Nhờ có so sánh, ta có thể hiểu đúng hơn vẻ đẹp của Thánh
Gióng - đó là vẻ đẹp được nhận thấy từ chiều sâu tâm hồn, từ những hành
động, việc làm cũng như tinh thần của ngài. Vẻ đẹp ấy không toát ra từ cơ bắp,
thân hình mà đó là cái đẹp hài hòa trong nhân cách, trong đạo đức của con
người. Không chỉ có vậy, khi đánh giá vẻ đẹp của Thánh Gióng, nhờ có so sánh
mà lời lẽ đánh giá của tác giả vừa dung dị lại vừa khách quan, thuyết phục.
Như vậy, TTLL so sánh đã thực sự giúp cho người viết triệt để làm nổi bật nội
dung đang được bàn luận, có điều kiện bộc lộ tâm trạng, tình cảm cũng như
thái độ đối với nội dung nghị luận.
Tóm lại, trong VBNL, so sánh là một TTLL được người tạo lập dùng để
tìm ra sự giống nhau hoặc khác nhau giữa các đối tượng, và qua sự so sánh ấy
để dẫn dắt người tiếp nhận đi đến một ý kiến, nhận định nào đấy đối với nội
dung được bàn luận. Nói một cách khác, đó là cách người lập luận thực hiện
nhằm dẫn dắt người tiếp nhận đến với một chân lý một kết luận nào đấy về nội
dung nghị luận. Cũng bởi thế, so sánh thể hiện rõ mục đích cũng như tính lập
luận trong văn nghị luận. Tính lập luận của so sánh có thể được thực hiện bằng
một câu, nhưng cũng có thể được người viết trình bày trong một đoạn văn hoặc
cả bài văn. Việc sử dụng TTLL này trong một câu, một đoạn hay thậm chí cả
bài đều gắn với mục đích và dụng ý của người viết. Khi sử dụng TTLL so sánh,
Để rút ra nhận định về giá trị của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, Cố Thủ
tướng Phạm Văn Đồng đã mượn hình ảnh các vì sao trên bầu trời để so sánh.
Không chọn hình dáng hay độ đậm nhạt của ngôi sao khi được nhìn thấy trong
thực tế mà tác giả đã chọn ánh sáng của những ngôi sao ấy để làm yếu tố so
sánh. Đó là thứ ánh sáng được tác giả xác định ở các đặc trưng: khác thường,
phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng. Và những
đặc trưng ấy có những nét tương đồng với biểu hiện của thơ văn Nguyễn Đình
Chiểu trong nền văn học dân tộc. Từ đó, tác giả Phạm Văn Đồng đã rút ra một
nhận định, một kết luận về giá trị thơ văn Nguyễn Đình Chiểu.
Không giống với so sánh tương đồng hoàn toàn, so tương đồng có dị
biệt lại bắt đầu từ việc người viết chọn những yếu tố, những chi tiết, những
hình ảnh có đặc điểm khác biệt nhau về hình thức hay giá trị để chỉ ra những nét
riêng của nội dung được bàn luận. Điều đó được thể hiện trong ví dụ sau: “Yêu
người, đó là một truyền thống cũ. “Chinh phụ ngâm”, “Cung oán ngâm khúc”,
đã nói đến con người. Nhưng dù sao cũng là mới bàn đến một hạng người. Với
“Kiều”, Nguyễn Du đã nói đến cả xã hội người. Với “Chiêu hồn” thì cả loài
người được bàn đến [...] “Chiêu hồn”, con người trong cái chết. “Chiêu hồn”,
con người trong từng giới, từng loài, “mười loài là những loài nào” với những
nét cộng đồng phổ biến, điển hình của từng loài một”. [...].
Tôi muốn nói đến bài văn “Chiêu hồn”, một tác phẩm có một không hai
trong nền văn học chúng ta. (Nghĩ mà xem, trước “Chiêu hồn” chưa hề có bài
văn nào đem cái “run rẩy mới” ấy vào văn học. Sau “Chiêu hồn”, lại càng
không). Nếu “Truyện Kiều” nâng cao lịch sử thơ ca, thì “Chiêu hồn” đã mở
rộng địa dư của nó qua một vùng xưa nay ít ai động tới: cõi chết”. [53,79]
Trong ngữ liệu trên, người viết xuất phát từ một điểm: yêu người - một
truyền thống trong văn thơ dân tộc. Tuy nhiên, để đánh giá biểu hiện và giá trị
của truyền thống ấy trong các tác phẩm cụ thể, người viết đã đi sâu xem xét
cách biểu hiện của lòng yêu người trong một số tác phẩm. Nhờ có TTLL so
nhận thấy vai trò của TTLL bác bỏ trong ngữ liệu sau:
“... Học để làm gì? Câu hỏi ấy nghe ra thật tầm thường cũ rích, tuồng
như không ai để ý đến, nhưng cứ như những câu trả lời của các học giả xưa
nay thì có một câu vắn tắt mà có thể bao quát được toàn thể và công dụng sự
học là:
Học để làm người.
Theo câu nói ấy, có lẽ cãi lại rằng: Vậy thì không học không làm người
được sao? Kìa như ông Hán Cao Tổ không học mà làm một ông vua anh hùng,
ông Hoắc Quang không học mà làm được công nghiệp lớn. Bên Âu Tây, nhiều
nhà đại chính trị đại sáng tạo hoặc trọn đời ở trong các mỏ lớn, các công
xưởng mà làm được công việc to lớn đó thì sao? Còn ở trên đời biết bao người
vào trường nọ, đậu bằng kia, đào mãi trong trăm ngàn bộ sách, miệng nói ra
rành là chuyện văn hào đông tây, mà xét đến phẩm cách tính chất, có điều mất
cả tư cách làm người nữa. Thế thì câu nói “học để làm người” không phải là
không đúng sao?” [78]
Ngữ liệu trên được trích trong một bài luận đăng trên báo Tiếng dân, số
282, ngày 17/5/1930. Cả bài luận được tác giả dùng để bàn về một hoạt động
quan trọng, thiết yếu đối với cuộc sống mọi cá nhân trong xã hội - hoạt động
học tập. Bàn về học tập, tác giả đưa ra một chân lý: Học để làm người. Đây là
một chân lý đúng, song trên thực tế, có người lại không đồng quan điểm với
chân lý ấy. Bởi vậy, để bảo vệ quan điểm trên, tác giả Huỳnh Thúc Kháng đã
đưa ra câu hỏi có tính chất lật ngược nhằm tạo ra một tình huống giả định độc
đáo: Vậy thì không học không làm người được sao? Theo câu hỏi trên, chúng ta
nhận thấy hình ảnh hai cá nhân đang đối thoại với nhau, trong đó nhân vật đang
thực hiện hành động tranh luận (giả định) nêu ra câu hỏi phản bác trên. Từ đó,
tác giả mượn các lý lẽ, và đặc biệt là các dẫn chứng cụ thể trong lịch sử để
chứng minh cho tính xác thực của luận điểm. Với những dẫn chứng đã chọn,
tác giả lý giải ý nghĩa của chữ “học”. Học ở đây không chỉ là học theo trường
cứng cỏi được, còn gãy hay không là việc của trời. Sao lại đoán trước là sẽ
gãy mà chịu đổi cứng ra mềm?
Ngô Tử Văn là một anh chàng áo vải. Vì cứng cỏi mà dám đốt cháy đền
tà, chống lại yêu ma, làm một việc hơn cả thần và người. Bởi thế được nổi
tiếng và được giữ chức vị ở Minh ti, thật là xứng đáng. Vậy kẻ sĩ, không nên
kiêng sợ sự cứng cỏi.”[53, 26].
Trong ngữ liệu trên, tác giả Nguyễn Dữ tập trung bàn về quan niệm
“Cứng quá thì gãy”- một quan niệm sống cũng như ứng xử của con người.
Chọn một nhận định chưa thực sự xác đáng, tác giả đã sử dụng lý lẽ và dẫn
chứng để chỉ ra sự lệch lạc đó. Cũng vì thế, nội dung luận bàn được tác giả
Nguyễn Dữ trình bày ở câu mở đầu. Sau đó, tác giả nêu dẫn chứng bằng thái độ
của một lớp người trong xã hội - kẻ sỹ để chỉ ra phần chưa chính xác và biện
giải cho sự lệch lạc trong nhận thức về quan niệm. Vẫn phát triển tiếp nội dung
mạch ý trên, người viết đã lấy một dẫn chứng cụ thể - Ngô Tử Văn, một nhân
vật được coi là “anh chàng áo vải”để chứng tỏ thái độ sống cứng cỏi của nhân
vật này. Từ đó, người viết đã thể hiện thái độ khâm phục của mình: làm một
việc hơn cả thần và người và rút ra lời nhận định: “Vậy kẻ sĩ, không nên kiêng
sợ sự cứng cỏi.”. Như vậy, trong ngữ liệu ngắn, với dụng ý là thể hiện thái độ
không đồng tình với một quan điểm sống, tác giả Nguyễn Dữ đã sử dụng TTLL
bác bỏ để dẫn dắt người đọc đi đến với chân lý về thái độ sống trong cuộc đời.
Khi sử dụng TTLL này, tác giả đã kết hợp với phân tích, bình luận để trình bày
nội dung nghị luận ngắn gọn, súc tích. Tóm lại, bác bỏ là một TTLL được
người nói, người viết thực hiện nhằm đưa ra những lời bàn luận khách quan,
sâu sắc, tránh cái nhìn một chiều, sai trái, khiên cưỡng. Hơn nữa, trong VBNL,
lập luận còn là cách tranh luận ngầm nhằm phản bác những ý kiến không đúng,
từ đó khẳng định điều mà người nghị luận cho là đúng, là chân lý. Bởi vậy,
TTLL bác bỏ được người tạo lập thực hiện nhằm tổ chức lập luận được toàn
diện, giàu tính thuyết phục và hấp dẫn.
“Khí phách y như người chuẩn bị một trận đánh”; hay “... thật là tuyệt diệu
ngay cả ở lúc người anh hùng sắp bị hành hình. Tinh thần người chết tiếp sức
cho người sống nối chí mình. Trong ý nghĩ đó, cái chết anh hùng là bất tử”...đã
thực sự thuyết phục độc giả. Dường như những lời bình ấy đã tạo ra điểm nhấn
khi người viết khẳng định niềm tự hào của bản thân đối với các bậc tiền bối và
bài học giáo dục rút ra từ thực tế lịch sử dân tộc.
Trong hành động lập luận, bình luận thực chất là kết quả cuối cùng của
quá trình suy luận. Nó được thể hiện ở chỗ: đánh giá, bàn luận bao giờ cũng
phải xuất phát từ một nhận định cụ thể; nội dung bình giá luôn là sự đúc rút từ
những phân tích, suy đoán, chứng minh... Nói cách khác, bình luận là sự đúc
rút chân lí, nhận thức từ những cách tiếp cận nội dung nghị luận. Khi thực hiện
bình luận, người viết thực hiện hai động tác cơ bản là luận và bình. Trong đó,
luận là người viết xác định rõ luận điểm, tìm ra các luận cứ, luận chứng nhằm
làm rõ nội dung vấn đề; bình là việc từ những luận cứ, luận chứng, lí lẽ đã nêu,
người viết rút ra đánh giá của mình về nội dung được “luận” trước đó. Đặc
điểm này được bộc lộ trong ngữ liệu sau: "... Nếu bảo luật chỉ tốt cho việc cai
trị chứ không có đạo đức tinh vi, thế là không biết rằng trái luật là tội, giữ
đúng luật là đức. Nếu tận dụng cái lẽ công bằng ở trong luật mà xử sự thì mọi
quyền, pháp đều là đạo đức. Có cái đức nào lớn hơn chí công vô tư không?
Chí công vô tư là đức ở trời. Trong luật cái gì cũng công bằng hợp với đức
trời, như vậy mà không đáng gọi là đạo đức tinh vi sao? Chỉ sợ con người
không tận dụng luật mà thôi. Nếu tận dụng cũng đủ trọn vẹn đạo làm người
rồi, bất tất phải đi tìm cái gì khác” [53, 71].
Ở đoạn trích trên, tác giả Nguyễn Trường Tộ khi bàn về sự cần thiết của
luật pháp đối với xã hội - đã từ thực tế vai trò của luật pháp đối với mọi người
dân, đối với xã hội nêu lên những nhận xét xác đáng về giá trị và vai trò của
luật pháp. Cả đoạn trích được tác giả trình bày về giá trị, ý nghĩa thực tế của
luật pháp. Để dẫn dắt người đọc đi đến với chân giá trị của đạo đức, Nguyễn
tham gia giao thông”... Có thể nói, bình và luận đã thực sự tạo ra những cách
diễn đạt vừa hấp dẫn, vừa xác đáng vừa thể hiện nét riêng trong suy nghĩ và
nhận thức của mỗi người viết. Nói một cách khác, nhờ có bình luận, người viết
mới có thể nêu lên những nhận xét, những suy luận được đúc rút từ thực tế tiếp
cận và khám phá nội dung nghị luận.
Trong VBNL, TTLL bình luận còn là cách người viết dẫn dắt người tiếp
nhận đi đến với những suy nghĩ, nhận thức mới. Có thể nhận thấy điều đó trong
ngữ liệu sau:“ ... Trong cuộc sống có biết bao nhiêu sự cảm ơn có lời và không
lời như thế. Với những người có văn hóa,“cảm ơn” là lời nói được sử dụng
hằng ngày, những lời luôn được cất lên bằng tất cả thái độ lịch sự và tình cảm
chân thực nhất. Nhưng tiếc rằng, vẫn còn không ít thanh niên chưa nghĩ như
vậy. Họ coi cảm ơn chỉ là những lời khách sáo, vì thế, chẳng cần phải nói ra.
Hình như những bạn ấy vẫn nghĩ một cách giản đơn rằng nói lời cảm ơn hay
làm những cử chỉ biểu lộ sự biết ơn là “vẽ chuyện”, chỉ làm mất đi sự thân tình
và tăng thêm xa cách mà thôi.
Thế nhưng, cuộc sống hiện đại và yêu cầu về quy tắc giao tiếp giữa
người với người đòi hỏi chúng ta phải tập làm quen với lời “làm ơn” và sau đó
là “cảm ơn”. Thật hạnh phúc khi ta làm được một việc có ý nghĩa, một điều tốt
đem lại niềm vui, hạnh phúc cho người khác, kéo mọi người lại gần nhau hơn.
Và cũng sẽ hạnh phúc không kém khi chúng ta thấy mình đã không dửng dưng,
bạc bẽo vì đã biết tri ân người giúp đỡ mình bằng những lời nói xuất phát tự
đáy lòng, chân thành, lịch thiệp: “cảm ơn” [ 56, 82].
Ngữ liệu trên được người viết thực hiện nhằm bàn về một hành động cần
thiết trong cuộc sống - hành động “đem mọi người đến gần nhau hơn”. Có thể
nói trong xã hội hiện đại, đây là việc làm cần thiết, bởi khi đời sống xã hội phát
triển, có nhiều khi con người chỉ biết bản thân mình mà không quan tâm tới
cộng đồng. Vậy làm thế nào để mỗi cá nhân biết cách để thể hiện sự gắn bó và
tôn trọng lẫn nhau? Bài viết giới thiệu hành động giúp con người biết cách thể
hiện sự gắn bó và tôn trọng nhau trong cuộc sống. Đó là hành động vốn rất gần
gũi với cuộc sống hàng ngày của con người: nói lời cảm ơn với những người đã
TTLL này, người tạo lập phải có thái độ khách quan, không được xem xét nội
dung thoải mái, phiến diện, mang tính chủ quan, áp đặt; các lời bình giá không
phải được rút ra từ một vài lập luận đơn giản, sơ sài.
- Tùy vào từng cách cấu trúc, bố cục đoạn, bài văn mà để xác định đúng
nội dung được luận, khi luận cần trình bày trung thực, rõ ràng.
- Khi bình, phải nêu và bảo vệ quan điểm của mình, tìm cách thuyết
phục người tiếp nhận đặt niềm tin vào những đánh giá của bản thân. Vì thế, khi
bình luận, cần tránh thái độ cực đoan, không thể hiện quá mức hay không phù
hợp với sự thật. Hơn nữa, người nói, người viết phải khéo léo đưa ra kiến giải
riêng, trình bày những phát hiện mới về ý nghĩa mà nội dung nghị luận đặt ra.
Khi thực hiện bình luận mà không biết lồng ghép với những phát hiện riêng thì
tất yếu tạo ra những lập luận sơ giản, thiếu sức thuyết phục.
Với đặc trưng là dạng lập luận mang tính khái quát, bình luận là TTLL
có vị trí tự do, có thể có mặt ở khắp mọi nơi, mọi chỗ, được sử dụng khi nghị
bàn (cả văn học và cả các vấn đề của đời sống xã hội) và cũng là TTLL có thể
kết hợp với tất cả các TTLL khác.
1.3.3. Sự kết hợp các TTLL trong bài văn nghị luận
Trong VBNL, mỗi TTLL có đặc điểm riêng, và được sử dụng nhằm một
mục đích, một dụng ý riêng của người viết. Tuy nhiên, khi lập luận, các TTLL
lại có thể bổ sung, hỗ trợ cho nhau trong việc tường minh nội dung bàn luận.
Và khi chúng kết hợp với nhau, người viết có thể tạo ra cách diễn đạt chính xác
phù hợp với các chân lý khách quan, khoa học, qua đó gây dựng sự tin tưởng ở
phía người tiếp nhận. Vì vậy, yêu cầu cần thiết đối với người tạo lập là phải căn
cứ vào mục đích, đối tượng nghị luận để lựa chọn và kết hợp các TTLL cho
phù hợp. Mặc dù vậy, việc phối hợp các TTLL cần tuân theo một trình tự hợp
lý. Thông qua một số VBNL, chúng tôi nhận thấy, khi triển khai nội dung nghị
luận, các TTLL thường được sắp xếp theo trình tự sau:
người viết vừa xác định các phương diện của nội dung nghị luận, vừa chỉ ra nét
chung và riêng của từng yếu tố, tạo ra sự sinh động, hấp dẫn cho lời văn nghị
luận. Ta có thể gặp sự kết hợp ấy trong ví dụ sau:
“Chớ tự kiêu tự đại. Tự kiêu tự đại là khờ dại. Vì mình hay, còn nhiều
người hay hơn mình. Mình giỏi, còn nhiều người giỏi hơn mình. Tự kiêu tự đại
tức là thoái bộ. Sông to, bể rộng thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ
lượng của nó rộng và sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn thì một chút nước cũng
đầy tràn, vì độ lượng nó hẹp nhỏ. Người mà tự kiêu tự mãn thì cũng như cái
chén, cái đĩa cạn” [53, 120].
Trong đoạn trích trên, tác giả Hồ Chí Minh đã sử dụng các TTLL như
giải thích, phân tích và so sánh, bác bỏ. Từ một biểu hiện thuộc về đạo đức và
lối sống - là thói tự kiêu tự đại của một số người, Bác đã chỉ ra sự không đúng
đắn trong tư tưởng và trong thực tế của lối sống ấy. Trước hết, Bác lý giải thế