Sáng Kiến Kinh Nghiệm Hệ Thống Bài Tập Rèn Luyện Kỹ Năng Lập Dàn Ý Bài Văn Tự Sự Cho Học Sinh Lớp 6 - Pdf 40

SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO HÀ NỘI
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO QUẬN BA ĐÌNH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LẬP DÀN Ý
BÀI VĂN TỰ SỰ CHO HỌC SINH LỚP 6

Người thực hiện: Hà Thị Ngọc
Trường THCS Giảng Võ

Hà Nội, năm 2011


SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LẬP DÀN Ý
BÀI VĂN TỰ SỰ CHO HỌC SINH LỚP 6
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:
Trong giao tiếp muốn có được một bài văn hiệu quả cao (dù là văn bản
viết tay hay văn bản nói), bên cạnh giá trị nội dung và nghệ thuật, một yếu tố
không kém phần quan trọng là cách sắp xếp các nội dung đó vào một bố cục phù
hợp với hiện thực, với suy nghĩ, với quy luật tiếp nhận của người đọc (người
nghe) và với đặc trưng của kiểu loại văn bản; thao tác này chính là kỹ năng lập
dàn ý.
Lập dàn ý còn gọi là lập đề cương, xây dựng bố cục, là khâu then chốt là
mắt xích quan trọng trong việc tạo lập văn bản.
Ở cấp trung học cơ sở, tập làm văn là môn học chiếm vị trí quan trọng và
việc lập dàn ý là bước không thể thiếu đối với học sinh trước khi tạo văn bản.
Bởi có như vậy các em mới có thời gian tư duy, chủ động sáng tạo lập kế hoạch
để định ra trình tự và trọng tâm của bài viết trong một thời gian nhất định. Tuy
nhiên thực trạng hiện nay trong nhà trường phổ thông, việc rèn luyện kỹ năng

Đề xuất nội dung, phương pháp và cách thức rèn luyện kỹ năng lập dàn ý
cho bài văn tự sự.
Tổ chức thực nghiệm dạy – học để kiểm tra khả năng thực thi và hiệu của
của các giải pháp đã được đề xuất.
IV. Phương pháp nghiên cứu:
Trong khi tiến hành viết sáng kiến kinh nghiệm để thực hiện những nhiệm
vụ và mục đích đã đề ra, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu sau:
1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Chúng tôi tập hợp các tài liệu có
liên quan đến văn tự sự và kỹ năng lập dàn ý bài văn tự sự ở lớp 6 để nghiên
cứu.
2. Phương pháp điều tra thực tiễn giáo dục: Khảo sát thực tế là điều không
thể thiếu khi thực hiện đề tài này chúng tôi dùng phương pháp điều tra thực tiễn

3


để tìm hiểu việc dạy và học đối với giáo viên và học sinh. Qua đó để thấy thực
trạng của việc dạy và học làm văn ở lớp đầu cấp THCS.
3. Phương pháp thực nghiệm dạy học: Chúng tôi tiến hành phương pháp
thực nghiệm giảng dạy ở một số lớp 6 tại trường THCS Giảng Võ để rút ra
những kết luận cụ thể về tính thực thi của đề tài.
B. PHẦN NỘI DUNG
I. Những yêu cầu cơ bản của kỹ năng lập dàn ý.
Muốn lập dàn ý cho bài văn phải nắm được các yêu cầu cơ bản của dàn ý.
1. Dàn ý phải đáp ứng đúng những yêu cầu về nội dung, hình thức, thể
loại, mục đích, đối tượng và về cả những giới hạn mà đề bài xác định. Yêu cầu
này đòi hỏi người viết phải bám sát đề tài, phải dựa vào kết quả của giai đoạn
phân tích và tìm hiểu đề, phải dựa vào hướng đi mà đề bài đã quy định.
2. Dàn ý phải đảm bảo tính chặt chẽ và hợp logic: Những nội dung, những
sự việc phải được sắp xếp theo một trình tự và có quan hệ mật thiết với nhau.

- Dàn ý chi tiết
Dàn ý đại cương: là loại dàn ý nêu lên những ý chính, ý lớn và những ý bộ
phận triển khai cho các ý chính đó.
Dàn ý chi tiết: là loại dàn ý được phát triển tiếp tục các ý bộ phận ở dàn ý
sơ lược thành các ý chi tiết hơn, phong phú hơn.
Thông thường trên lớp vì thời gian có hạn nên giáo viên thường hướng
dẫn học sinh làm dàn ý sơ lược. Nhưng trong quá trình luyện tập nhất là các bài
tập ở nhà giáo viên nêu yêu cầu học sinh làm dàn ý chi tiết.
Đối với bài văn tự sự, do đặc trưng của loại hình, việc lập dàn ý có thể
được trình bày theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo quan niệm của mỗi người và
theo từng loại sách khác nhau. Sau khi tham khảo ở một số tài liệu chúng tôi nêu
ra mô hình tổng quát như sau:
Mở bài:
- Giới thiệu hoàn cảnh phát sinh câu chuyện.
- Giới thiệu nhân vật chính của chuyện.
Thân bài: Trình bày diễn biến các sự việc.
5


- Sự việc 1: Sự việc mở đầu.
- Sự việc 2: Sự việc thắt nút (sự việc cao trào, sự việc đỉnh điểm).
- Sự việc 3: Sự việc mở nút (sự việc kết thúc).
Kết luận:
- Khép lại câu chuyện
- Nêu ý nghĩa của câu chuyện.
Từ mô hình tổng quát chúng ta có các mô hình dàn ý sơ lược và dàn ý chi
tiết như sau:
1. Mô hình dàn ý sơ lược
Mở bài: Giới thiệu hoàn cảnh, nhân vật, sự việc.
Thân bài: Diễn biến của sự việc.

người viết có thể vận dụng một cách linh hoạt các dạng khác nhau tuỳ thuộc vào
cách kể chuyện, nội dung câu chuyện và yêu cầu của các dạng đề khác nhau.
III. Rèn luyện kỹ năng lập dàn ý bài văn tự sự cho học sinh lớp 6 qua
hệ thống bài tập
Để xây dựng được các kỹ năng kể chuyện cho học sinh, phải xuất phát từ
một hệ thống bài tập. Muốn hình thành hệ thống bài tập cần xác định các yêu
cầu cụ thể:
- Hệ thống bài tập phải hướng vào đích: bất cứ một quá trình giao tiếp nào
thì đích cũng là yếu tố đầu tiên đặt ra. Hệ thống bài tập trong văn tự sự tập trung
vào đích là hình thành kỹ năng cho học sinh, chỉ có trên cơ sở như thế thì mới có
thể xây dựng được hệ thống bài tập cho phù hợp. Đặc biệt quá trình khảo sát
cũng cho ta thấy ở phổ thông kỹ năng yếu nhất hiện nay của học sinh là: kỹ năng
lập dàn ý và kỹ năng hành văn. Vì vậy vấn đề đặt ra là hệ thống bài tập phải vừa
hình thành được kỹ năng, đồng thời vừa phải khắc phục được các kỹ năng còn
thiếu, còn yếu của học sinh.
- Hệ thống bài tập trong văn tự sự nói chung và lập dàn ý nói riêng là phải
đảm bảo tính khoa học, tính thống nhất và chính xác: kỹ năng lập dàn ý là một
trong kỹ năng cơ bản cần trang bị cho học sinh ngay từ khi các em biết tạo lập
văn bản và cần phải liên tục trong suốt quá trình ngồi trên ghế nhà trường. Vì
thế hệ thống bài tập rèn luyện cho kỹ năng này phải đảm bảo tính khoa học, tính
7


thống nhất và tính chính xác. Tính khoa học, tính thống nhất và tính chính xác
được thể hiện ngay trong yêu cầu về nội dung, về mức độ, về khái niệm, về thuật
ngữ, về cấu trúc và về cách trình bày. Thống nhất giữa bài tập và lý thuyết; về
kỹ năng, thống nhất giữa bài tập và bài tập, thống nhất giữa lý thuyết làm văn
nói chung với lý thuyết kỹ năng lập dàn ý nói riêng và thống nhất giữa kỹ năng
lập dàn ý với các kỹ năng khác. Bảo đảm tính thống nhất là một trong những
yêu cầu rất quan trọng đối với tư duy khoa học cũng như rèn luyện kỹ năng cho

cho việc rèn luyện, hình thành kỹ năng lập dàn ý kiểu bài văn tự sự cho học sinh
lớp 6.
Khi rèn luyện kỹ năng lập dàn ý thì việc xây dựng hệ thống bài tập là vấn
đề trọng tâm và có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Trong khi dạy và học Ngữ văn,
cụ thể hơn là khi dạy và học kiểu bài văn tự sự, dựa vào đặc trưng của thể loại,
vào nội dung từng câu chuyện mà chia thành nhiều loại bài tập khác nhau.
Theo quan điểm tích hợp, tích cực đồng thời để phát huy khả năng tư duy
và sáng tạo cho học sinh chúng tôi đưa ra hệ thống bài tập gồm một số dạng như
sau:
1. Bài tập lập dàn ý từ một văn bản có sẵn: Nghĩa là từ một văn bản có
sẵn yêu cầu học sinh nhận biết, xác định bố cục của từng phần (Mở bài, thân bài,
kết luận). Chúng tôi lần lượt trình bày hai loại văn bản cho trước: văn bản kể
chuyện đời thường và văn bản kể chuyện tưởng tượng.
* Bài tập lập dàn ý từ văn bản kể chuyện đời thường
Giáo viên: Chọn một văn bản rồi yêu cầu học sinh dựng lại dàn ý đó từ
văn bản đó. Để làm được điều này học sinh cần thực hiện các bước:
+ Căn cứ vào văn bản, xác định hệ thống ý và bố cục.
+ Lập dàn ý với hệ thống đã xác định.
Sau đây là ví dụ: Hãy dựng lại dàn ý từ một bài văn sau đây:
Một khi đi đâu xa, vắng mẹ, hoặc khi mẹ đi công tác, ngồi một mình
nhiều lúc lòng tôi cứ nao nao trống trải. Nhớ đến mẹ, tôi không sao quên được
những gì mẹ đã hy sinh cho riêng tôi.
Năm vào lớp 6 tôi là một đứa trẻ ốm yếu, mỗi ngày đến trường phải có mẹ
đưa đón, nhưng hôm ấy bỗng dưng trời đổ mưa thật to rồi kéo dài mấy giờ. Từ
9


cơ quan mẹ vội chạy đến trường để đón tôi. Cái áo mưa chỉ đủ che cho một
người, mẹ dứt khoát để cho tôi che. Mẹ nói: “Mẹ dầm mưa quen rồi”, tôi ngay
thơ che áo mưa mà không chút ngập ngừng. Về đến nhà trời đã tối sẫm thế mà

6 về người mẹ. Đoạn văn cuối cùng nêu cảm nghĩ của nhân vật tôi đối với người
mẹ.
Có thể khái quát thành dàn ý như sau:
Mở bài: Người kể chuyện (nhân vật tôi) kể về người mẹ thân yêu của
mình.
Thân bài: Kể diễn biến các sự việc
- Kỷ niệm của nhân vật tôi ở năm lớp 6: Hàng ngày mẹ thường đưa đón
em đến trường.
- Tuy rất mệt nhưng mẹ vẫn vui và luôn động viên em.
- Gặp trời mưa mẹ bị cảm và phải nằm viện.
- Nhìn khuôn mặt xanh xao, mệt mỏi em thấy lòng đau nhói.
Kết luận: Cảm xúc sâu lắng của nhân vật tôi khi nghĩ về người mẹ kính
yêu của mình.
Ý nghĩa của truyện: Thông qua cảm nhận của nhân vật tôi câu chuyện ca
ngợi tấm lòng thương con của người mẹ.
* Bài tập lập dàn ý từ văn bản kể chuyện tưởng tượng.
Yêu cầu: Từ văn bản sau đây hãy lập dàn ý rồi trả lời các câu hỏi ở cuối
bài.
Sơn Tinh và Thuỷ Tinh cùng đến hỏi Mỵ Nương con gái Vua Hùng làm
vợ. Ai cũng có tài nên Vua Hùng không biết chọn người nào. Vua mời quần
thần đến bàn bạc. Cuối cùng vua nói: Hai chàng đều vừa ý ta nhưng ta chỉ có
một người con gái, vậy ngày mai ai mang sính lễ đến trước và theo đúng yêu cầu
của ta, ta sẽ gả con gái cho. Sính lễ phải đầy đủ các nguyên vật liệu, các phương
tiện để xây một ngôi nhà đẹp nhất để làm nhà hạnh phúc cho con gái ta.
Hôm sau mới tờ mờ sáng Sơn Tinh đã đem đầy đủ lễ vật đến rước Mỵ
Nương về núi. Thuỷ Tinh đến sau nổi giận đùng đùng mang quân đuổi theo.
Thuỷ Tinh hô mưa, gọi gió làm thành giông bão dâng nước cuộn cuộn đánh Sơn

11


12


- Hoàn cảnh và tình huống phát sinh câu chuyện: Vua Hùng kén rể, cùng
một lúc có hai vị thần tài giỏi đến cầu hôn.
- Trong phần diễn biến của chuyện gồm có các sự việc:
+ Sơn Tinh đem lễ vật đến trước cưới được Mỵ Nương.
+ Thuỷ Tinh đến sau tức giận, đuổi theo cướp Mỵ Nương.
+ Cuộc chiến dữ dội giữa hai thần.
* Sơn Tinh không hề nao núng, sử dụng mọi phương tiện hiện đại để
chống lại.
* Thuỷ Tinh thất bại nhưng không quên mối thù với Sơn Tinh.
- Sự việc “ai mang lễ vật đến trước” là cao trào, gây sự hồi hộp chờ đợi
cho người đọc.
- Sự việc kết thúc: Thuỷ Tinh oán nặng thù sâu với Sơn Tinh, hàng năm
đem quân gây chiến.
- Ý nghĩa của chuyện: Ca ngợi sức mạnh chế ngự và chinh phục thiên
nhiên của nhân dân ta.
Giáo viên gợi ý học sinh tìm ra kết cấu ba phần:
Mở bài: Giới thiệu nhân vật Sơn Tinh, Thuỷ Tinh và việc kén rể của Vua
Hùng.
Thân bài: Kể diễn biến tình tiết các sự việc.
- Sơn Tinh đến trước cưới được Mỵ Nương, Thuỷ Tinh nổi giận.
- Cuộc giao chiến ác liệt giữa hai vị thần.
- Kết quả của trận giao chiến.
- Thuỷ Tinh thua cuộc mang oán nặng thù sâu.
Kết bài: Mối thù không đội trời chung của Thuỷ Tinh đối với Sơn Tinh.
2. Bài tập biến đổi dàn ý.
Đây là dạng bài tập nhằm phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của học
sinh, chúng tôi cho học sinh luyện tập theo hai cách:

già.
- Tôi liên tưởng đén cuộc sống ăn bám của cây và nghĩ đến việc lười học
của mình mà chạnh lòng.
Thân bài:
14


- Tôi nhớ lại rất nhiều hôm đang ngồi ở bàn học mà tư tưởng cứ bị phân
tán.
+ Lúc thì bạn Lan đến rủ đi chơi.
+ Hôm thì cùng các bạn kéo nhau đi đá bóng.
- Mải chơi tôi không còn tâm trí nào học bài.
+ Bài tập cô ra không làm được, lý thuyết chưa thuộc.
+ Tôi luôn bị điểm kém và rất xấu hổ.
- Bỗng hình ảnh của mẹ cùng với đôi vai gầy làm tôi bừng tỉnh.
+ Không đi chơi nữa.
+ Ở nhà ôn bài xong, tôi làm việc giúp đỡ mẹ.
+ Được sự giúp đỡ của cô giáo chủ nhiệm và các bạn trong lớp, tôi tiến bộ
rất nhiều.
- Cuối năm tôi đạt học sinh giỏi toàn diện.
Kết bài:
- Cầm tấm giấy khen trên tay tôi rưng rưng cảm động.
- Tôi tự hứa với lòng mình sẽ cố gắng học thật chăm.
* Bài tập biến đổi dàn ý chi tiết thành dàn ý sơ lược
Mục đích của kiểu bài tập này nhằm hình thành khả năng tóm lược, khái
quát các ý trọng tâm, trọng điểm, các ý chính từ những câu, những đoạn trong
bài văn.
Cho đề bài và dàn ý mẫu sau đây:
Đề bài: Em hãy kể về tâm sự của một cuốn sách bị bỏ quên.
Đây là dạng đề kể chuyện tưởng tượng. Ngôi kẻ là quyển sách (ngôi thứ

- Tôi luôn là người bạn tốt để giúp đỡ cậu chủ tôi trong mọi hoàn cảnh.
- Khi cậu chủ lên lớp 7 tôi trở thành người thừa bị lãng quên.
- Tôi rất buồn và trách cậu chủ.
Kết bài: Lời nhắn nhủ của tôi muốn nói với mọi người: Đừng giống như
cậu chủ tôi.
3. Bài tập hoàn chỉnh dàn ý:
Mục đích của dạng bài tập này nhằm nhắc lại những lý thuyết cơ bản khi
“Tìm hiểu dàn bài của bài văn tự sự” để rèn luyện kỹ năng lập dàn ý theo bố cục
16


ba phần (mở bài, thân bài, kết bài). Nêu nhiệm vụ và nhấn mạnh vai trò không
thể vắng mặt của từng phần.
Giáo viên giới thiệu dàn ý không đạt yêu cầu, yêu cầu học sinh sửa chữa
và hoàn chỉnh dàn ý, học sinh cần thực hiện các bước sau:
Bước 1: Đọc và xác định yêu cầu của bài.
Bước 2: Phát hiện các lỗi của dàn ý.
Bước 3: Sửa chữa và hoàn chỉnh dàn ý.
* Bài tập hoàn chỉnh phần mở bài
Cho đề bài sau: Hãy kể lại một lỗi lầm của em.
Dựa vào đề tài trên em hãy hoàn chỉnh phần mở bài cho dàn ý sau đây.
Mở bài:
Thân bài: Diễn biến sự việc.
- Giới thiệu vài nét về mình.
- Hoàn cảnh mắc lỗi (giờ kiểm tra lịch sử).
- Nguyên nhân mắc lỗi:
+ Do mải chơi, không học bài.
- Hành động phạm lỗi.
+ Mở vở, rồi chối cãi là không mở.
+ Viết bản tường trình sai lệch với sự thật.

+ Dựng lại hình dáng Mai An Tiêm.
+ Mai An Tiêm kể lại nguyên nhân bị đầy ra đảo hoang và vượt qua được
gian khổ.
+ Cảm nghĩa của em về Mai Am Tiêm.
- Phương hướng kể:
+ Kể lại cuộc gặp gỡ giữa em với một nhân vật trong truyện cổ tích nghĩa
là phải dựng lại cuộc đối thoại giữa em với nhân vật ấy.
+ Để tạo ra được sự gặp gỡ lý thú, tốt nhất là tưởng tượng ra một giấc mơ.
+ Phải dựng lại diện mạo nhân vật theo phong thái cổ xưa thì mới đúng là
nhân vật trong truyện cổ tích.
Từ các nội dung đã tìm được chúng ta có phần thân bài như sau:
Thân bài: Diễn biến câu chuyện.
18


- Dựng lại diện mạo của Mai An Tiêm.
+ Một người đàn ông cao lớn vạm vỡ, đóng khố, búi tóc củ hành, khuôn
mặt chữ điền.
+ Em rất ngạc nhiên và nhận ra đó là Mai An Tiêm.
- Qua cuộc trò chuyện làm nổi bật lên những phẩm chất:
+ Đức tính thẳng thắn, trung thực của Mai An Tiêm.
+ Nguyên nhân Mai An Tiêm bị đầy ra đảo hoang.
+ An Tiêm vượt qua gian nan vất vả.
+ An Tiêm trở về đất liền và tình cảm của An Tiêm đối với Vua Hùng.
* Bài tập hoàn chỉnh phần kết luận
Đề bài: Em hãy chuyển bài thơ “Đêm nay Bác không ngủ” của Minh Huệ
(Văn học 6, tập 1) thành một câu chuyện.
Dàn bài sau đây còn thiếu phần kết luận. Em hãy làm nốt để hoàn chỉnh
cho dàn bài.
Mở bài: Giới thiệu nhân vật, hoàn cảnh diễn ra câu chuyện.

Các dạng bài tập này chúng tôi sẽ tiến hành phối hợp trong giờ luyện tâp.
4. Bài tập lập dàn ý từ đề bài cho trước.
Trong các tài liệu tham khảo và SGK từ trước tới nay đây là dạng bài tập
quen thuộc ta thường gặp nhưng thuộc dạng bài tập khó, đòi hỏi học sinh phải
nắm vững kiến thức về lý thuyết cũng như vận dụng một cách thành thạo và kỹ
năng làm văn. Dạng bài tập này yêu cầu người viết từ một đề bài cho trước trải
qua các thao tác làm văn để tạo lập văn bản.
Đối với đề bài văn kể chuyện có rất nhiều kiểu, dạng khác nhau chúng tôi
khái quát thành hai dạng đề cơ bản.
- Dạng đề kể chuyện từ đời sống người và thực, việc thực.
- Dạng đề kể chuyện theo đề tài tưởng tượng.
Căn cứ vào cách phân loại này chúng tôi đưa ra hai hình thức rèn luyện
chính:
* Bài tập rèn luyện kỹ năng lập dàn ý cho dạng bài kể chuyện từ đời thường
Bài tập rèn kỹ năng lập dàn ý từ đề bài kể chuyện danh nhân.
Bài tập rèn luyện kỹ năng lập dàn ý từ đề bài sinh hoạt đời thường.
20


- Rèn luyện kỹ năng lập dàn ý từ đề bài kể chuyện danh nhân.
Giáo viên ra đề sau: Hãy lập dàn ý cho đề tài sau đây:
Em hãy kể chuyện về một danh nhân trong lịch sử nước nhà mà em biết
và kính phục.
Học sinh cần thực hiện các bước sau:
Tìm hiểu đề:
Kiểu đề kể chuyện danh nhân.
Nội dung cần kể:
+ Giới thiệu sơ lược tiểu sử người được kể.
+ Giới thiệu những sự kiện làm nổi bật tài năng tính cách, đạo đức, tâm
hồn của danh nhân.

thường.
Hãy lập dàn ý cho đề bài sau đây:
Một đêm trăng sáng, bà kể chuyện đời xưa cho mọi người nghe. Em hãy
kể lại một kỷ niệm về một gia đình ấm cúng đó.
Học sinh cần thực hiện các bước sau:
Tìm hiểu đề:
- Đây là đề kể chuyện đời thường người thật, việc thật.
- Kể về kỷ niệm cảnh gia đình dầm ấm. Kỷ niệm làm em nhớ mãi.
Gợi ý: Để làm được đề tài này em có thể chọn một kỷ niệm sâu sắc nhất.
Có thể đó là vào một buổi tối sau khi ăn cơm chiều xong, cả nhà em cùng ngồi
ngắm trăng được bà kể lại câu chuyện cổ tích: “Chú Cuội cung trăng”. Kỷ niệm
đó đã gắn bó với em cả quãng đời thơ ấu.
Có thể lập dàn ý như sau:
Mở bài: (Giới thiệu nhân vật và hoàn cảnh).
- Một đêm trăng tuyệt diệu.
- Không khí gia đình em (tôi) thật đầm ấm.
Thân bài: (Phát triển câu chuyện).
- Sau bữa cơm chiều, mọi người trong gia đình ngồi nghỉ ngơi và uống
nước. Bà nằm võng nhai trầu.

22


- Bà nội đố chị em tôi ai ngồi trên mặt trăng? Chị em đoán mỗi người
một khác, bà nội trả lời đó là chú Cuội.
- Bà nội kể chuyện chú Cuội trên cung trăng.
- Ba tôi chăm chú nghe quên cả hút thuốc, mẹ ngồi bên im lặng.
- Câu chuyện hấp dẫn và cuốn hút.
- Câu chuyện kết thúc chị em tôi nhìn lên mặt trăng thấy hình chú Cuội in
đậm trên đó.

- Niềm tự hào của cái giường khi ở cửa hàng.
- Niềm kiêu hãnh của cái giường trên đường về nhà.
- Cái giường bắt đầu cuộc sống mới.
- Cái giường gắn bó và phục vụ cuộc sống của con người.
- Tâm sự đau buồn của cái giường lúc bị ruồng bỏ.
Kết bài: Ước nguyện cuối cùng của cái giường.
- Rèn luyện kỹ năng lập dàn ý từ đề bài kể chuyện đã biết theo một kết
cục mới.
Hãy lập dàn ý cho đề bài: Em hãy viết đoạn kết mới cho truyện “ông lão
đánh cá và con cá vàng”.
Để làm được bài tập này học sinh phải nhớ lại cốt truyện “Ông lão đánh
cá và con cá vàng”. Nhớ lại sự việc kết thúc trong câu chuyện để tiếp nối sự việc
sau vào và tưởng tượng ra một kết cục mới khác với kết cục đã có.
Có thể lập dàn ý sơ lược như sau:
Mở bài: Giới thiệu sự việc và nhân vật.
Là nữ hoàng được một thời gian, mụ vợ lại bắt ông lãi phải đi gặp cá vàng
Thân bài: Diễn biến các sự việc.
- Ông lão đi ra biển rẽ sóng đi vào biển cả.
- Ông lão trở thành khách quý của Long vương.
- Mụ vợ chờ mãi không thấy chồng về, mụ đi tìm ông lão.
- Ông lão đánh cá muốn trở về nhà.
Kết luận: Kết thúc câu chuyện.
Ông lão trở về nhà hạnh phúc với người vợ nghèo năm xưa.

24


Có thể ra thêm bài tập: Từ đàn ý trên em hãy phát triển các ý thành bài
văn hoàn chỉnh bằng lời văn của em.
- Rèn luyện kỹ năng lập dàn ý từ đề bài kể một chuyện cũ theo ngôi kể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status