RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LẬP Ý TRONG KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 11 TRƯỜNG THPT TRẦN HƯNG ĐẠO, HUYỆN TIÊN LỮ, TỈNH HƯNG YÊN - Pdf 14



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

PHẠM VĂN QUANG
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LẬP Ý TRONG KIỂU BÀI
NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG CHO
HỌC SINH LỚP 11 TRƯỜNG THPT
TRẦN HƯNG ĐẠO, HUYỆN TIÊN LỮ,
TỈNH HƯNG YÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2013
Để hoàn thành được khóa luận này, trước tiên em xin chân thành cảm ơn cô
giáo – Thạc sĩ Nguyễn Thùy Dung đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và giúp đỡ em
rất nhiều trong quá trình làm khóa luận. Cảm ơn sự ủng hộ, động viên góp ý của
các thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ văn và các bạn sinh viên lớp K50 – ĐHSP
Văn –GDCD.
Trong quá trình làm khóa luận, em cũng luôn nhận được sự giúp đỡ và tạo
điều kiện về cơ sở vật chất, tài liệu tham khảo của thư viện và một số Phòng,
Ban, Khoa trực thuộc Trường Đại Học Tây Bắc.
Đồng thời, em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô ở trường THPT
Trần Hưng Đạo, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên đã tạo điều kiện giúp đỡ em
trong quá trình làm khóa luận.
Cuối cùng, cho phép em một lần nữa được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
sự động viên, giúp đỡ của các thầy cô giáo, các bạn sinh viên và các đơn vị nói
trên, đặc biệt cho em gửi lời cảm ơn chân thành đến Cô giáo – Thạc sĩ Nguyễn
Thùy Dung.

Sơn La, tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Phạm Văn Quang
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 5

luận xã hội đối với học sinh THPT 25
2.1.1. Yêu cầu mô hình ý 25
2.1.2. Quy trình chung khi làm một bài văn nghị luận về một hiện tượng đời
sống 27
2.2. Rèn luyện kỹ năng lập ý cho bài văn nghị luận về một hiện tượng đời
sống 27
2.2.1. Rèn luyện kỹ năng lập ý qua việc tích hợp với giờ đọc văn 27
2.2.2. Rèn luyện kỹ năng lập ý trong phân môn làm văn 29
2.2.2.1. Rèn luyện kỹ năng lập ý trong giờ lý thuyết làm văn 29
2.2.2.2. Rèn luyện kỹ năng lập ý trong giờ thực hành làm văn 31
2.2.2.3. Rèn luyện kỹ năng lập ý trong giờ trả bài làm văn 32
2.2.3. Rèn luyện kỹ năng lập ý qua giải các bài tập về nhà 35
2.2.3.1. Một số nguyên tắc cơ bản khi xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kỹ
năng lập ý ở nhà 35
2.2.3.2. Thực hành lập ý cho một số đề bài tiêu biểu 36
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM 43
3.1. Thực nghiệm dạy học 43
3.1.1. Mục đích của thực nghiệm 43
3.1.2. Yêu cầu thực nghiệm 43
3.1.3. Đối tượng thực nghiệm 43
3.1.4. Nội dung thực nghiệm 44
3.1.5. Cách thức thực hiện 44
3.1.6. Cách thức đánh giá 44
3.1.7. Đánh giá kết quả 45
3.1.8. Thực nghiệm khả năng lập ý của học sinh 45

3.1.8.1. Phép đo 1: Đánh giá năng lực lập ý của học sinh qua dàn ý 45
3.1.8.2. Phép đo 2: Đánh giá năng lực lập ý của học sinh qua bài làm hoàn
chỉnh 48
KẾT LUẬN 52

phải tìm và sắp xếp cho thích hợp. Đó được coi là một thao tác rất quan trọng để
chuẩn bị cho việc viết bài nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống.
1.2. Qua quá trình khảo sát thực tiễn dạy học ở trường THPT Trần Hưng
Đạo, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, chúng tôi thấy tình hình học tập môn Ngữ
văn không mấy được khả quan. Bởi phần lớn các em đều có thiên hướng về các
khối tự nhiên, khoa học kỹ thuật,… và quan niệm Ngữ văn là một môn không
mấy quan trọng nên không quan tâm và chú ý tới. Do vậy, khả năng viết bài của
các em còn kém, thiếu ý, lặp ý, lộn xộn, sơ sài và còn rất lan man trong việc giải
quyết các vấn đề đặt ra. Nhưng tại sao lại có tình trạng như thế xảy ra? Có thể
nói rằng nghị luận xã hội là một loại văn bản khó trong đó kiểu bài nghị luận về
một hiện tượng đời sống có yêu cầu rất cao, đòi hỏi học sinh phải tư duy, suy
nghĩ và biết vận dụng sáng tạo những kiến thức từ thực tế vào quá trình viết bài
mà không thể chép được từ một tài liệu có sẵn.
Hơn nữa, kiểu ra đề của bài nghị luận xã hội phong phú và đa dạng hơn so
với nghị luận văn học. Trong khi đó, tài liệu phục vụ cho việc dạy và học kiểu

2
bài nghị luận xã hội còn hạn chế và chất lượng chưa cao nên chưa đáp ứng được
yêu cầu dạy và học của thầy và trò ở ngoài nhà trường phổ thông. Đặc biệt, vấn đề
cần bàn bạc về một hiện tượng đời sống lại càng không phải dễ dàng gì. Bởi trong
cuộc sống đang diễn ra hiện nay đặt ra rất nhiều vấn đề, rất nhiều những hiện
tượng cần phải bàn bạc, có những hiện tượng tích cực nhưng cũng có những hiện
tượng tiêu cực diễn ra trong đời sống. Đòi hỏi các em cần phải trình bày suy nghĩ,
chính kiến của mình một cách nghiêm túc, chín chắn và chính xác về một vấn đề,
một hiện tượng có ý nghĩa xã hội đặt ra cho mình, lứa tuổi của mình. Không phải
các em thích viết gì thì viết, viết tùy tiện như trong sinh hoạt hàng ngày mà các
em cần phải có những suy nghĩ, nhận thức để tìm ra và sắp xếp các ý theo một trật
tự hợp lý. Những điều đó đã khẳng định rằng lập ý là một khâu rất quan trọng
trong khi làm một bài văn nghị luận. Có thể nói, lập ý là nền móng của cả bài
viết, nền móng có chắc chắn, bền vững thì mới xây dựng được một căn nhà hoàn

Văn nghị luận đã được hình thành từ trong thi cử thời phong kiến. Trong xã
hội phong kiến, văn nghị luận được coi là một môn học rất quan trọng và được
đưa vào trong quá trình thi cử, chẳng hạn như văn sách, kinh nghĩa. Có thể nói,
văn nghị luận là một loại văn bản đã ra đời từ rất sớm, nhằm mục đích phục vụ
cho thi cử. Còn đến thời kỳ thực dân Pháp xâm lược nước ta với tư cách là sang
nước ta để “khai hóa dân trí” tại các nhà trường Pháp – Việt, văn nghị luận cũng
được đưa vào giảng dạy, nhưng lý thuyết về việc lập ý cho văn nghị luận chưa
được khai thác sâu. Cách dạy học về lập ý của thầy và trò ở thời kỳ này chủ yếu
là mang tính khuôn mẫu, công thức. Giáo viên áp đặt đối với học sinh trong
giảng dạy văn nghị luận nên học sinh không thể bày tỏ được những quan điểm,
suy nghĩ và những chính kiến của mình. Lý do dẫn đến những điều đó là do tính
quy phạm và thể lệ của trường thi gây nên. Như vậy, văn nghị luận lại không
mang đúng với bản chất của nó là đưa ra những quan điểm, chính kiến của
người viết, không phải là việc bàn bạc những vấn đề đặt ra trong xã hội mà chỉ
là sự dập khuôn máy móc mà thầy áp đặt đối với học sinh.
Đề cập đến kỹ năng lập ý phải nói đến tác giả Phan Kế Bình qua cuốn
“Việt Hán văn khảo”[3]. Trong cuốn Việt Hán văn khảo, ông đã đề cập tới kỹ
năng lập ý trong mục “Thể cách văn chương và luận về phép làm văn”. Ngoài
ra, ông còn trình bày thêm về quá trình lập ý phải tuân thủ theo ba bước cụ thể
như sau:
- Lập định chủ yếu.
- Cấu tứ.
- Bố cục.
Trong đó, lập định chủ yếu tức là việc xác định ý chính yếu không thể thiếu
trong một bài viết còn cấu tứ làm phần xác lập ý cho bài văn, nhưng đây là
những ý chính – nhỏ hơn. Cuối cùng là thao tác để đưa các ý trên vào một hệ
thống có trật tự và đảm bảo tính mạch lạc về cả nội dung và hình thức.
Còn đối với Giáo sư Dương Quảng Hàm trong cuốn “Việt Nam văn học sử
yếu”[ 5], ông cũng dành hẳn chương chín để nêu lên đặc điểm và cách thức làm
các lối văn cử nghiệp viết bằng chữ nho. Như vậy, người viết như đã được đặt ra

giả vẫn chưa đưa ra được các bước và thao tác được dùng trong văn nghị luận xã
hội mà chỉ có các bước, các thao tác giành chung cho cả nghị luận xã hội và
nghị luận văn học. Vì vậy, mặc dù tác giả có đề cập tới kĩ năng lập ý nhưng vẫn
chưa có sự phân chia một cách rõ ràng trong từng kiểu bài nghị luận.
Đề cập tới lập ý trong kiểu bài nghị luận xã hội một cách hoàn chỉnh nhất
có thể kể đến cuốn Làm văn 11 do Trần Thanh Đạm chủ biên[4]. Tác giả đã đưa
2 bước của lập ý:

5
Bước 1: Tìm hiểu đề bài với các thao tác cụ thể sau:
- Đọc kĩ và phát hiện các yêu cầu của đề bài.
- Xác định thể loại.
- Xác định phạm vi tư liệu.
- Xác định các yêu cầu mà đề bài phải đáp ứng.
Bước 2: Tạo dựng ý:
- Định hướng thái độ đối với vấn đề nêu nên ở đề bài.
- Tìm và lựa chọn ý.
- Sắp xếp các ý theo một trình tự hợp lí.
- Tìm dẫn chứng.
Thực tế lại cho thấy rằng những bước và thao tác tác giả đưa ra còn rất
chung chung rất khó có thể vận dụng vào thực tiễn giảng dạy trong nhà trường.
Có thể thấy được rằng kĩ năng lập ý là một trong những kĩ năng cơ bản,
quan trọng và rất cần thiết đối với học sinh. Tuy nhiên, kĩ năng này chủ yếu
được đề cập trong nghị luận văn học, còn các tài liệu về lập ý trong nghị luận xã
hội còn rất nhiều hạn chế. Song sự đóng góp của tất cả những nhà nghiên cứu
đều đáng được ghi nhận, công lao to lớn đó đã đóng góp rất nhiều vào việc
nghiên cứu khoa học nhằm phát triển nền khoa học nước nhà.
3. Phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Văn nghị luận bao gồm nghị luận văn học và nghị luận xã hội, mỗi một loại
lại đem đến một ý nghĩa riêng, một tầm quan trọng riêng và những đặc trưng riêng.

tượng đời sống.
Ngoài ra, chúng tôi nhận thấy việc rèn luyện kỹ năng lập ý cũng chính là
góp phần hình thành đầu óc thiết kế, một thứ lao động có ý thức. Bởi vì, trong
quá trình lập ý muốn có ý hay thì phải suy nghĩ, phải tìm hiểu, tìm tòi thì mới
tìm được những ý hay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, chúng tôi đã sử dụng những phương pháp chủ yếu để phục
vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài. Đó là những phương pháp sau:
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Trong luận văn của chúng tôi, thực nghiệm là một yếu tố rất quan trọng bởi
qua quá trình thực nghiệm thì mới khẳng định được tính khách quan của những
phương pháp mà luận văn đã đề xuất. Tuy nhiên, chúng tôi cũng không bác bỏ
những vai trò mà phương pháp nghiên cứu lý thuyết đã đem lại. Bởi có những định
hướng về mặt lý thuyết thì học sinh mới có thể làm một bài thực hành tốt được.
Trên cơ sở đó, chúng tôi sử dụng để làm tài liệu cho việc khẳng định tính
đúng đắn và khoa học của khóa luận.
7
5.2. Phương pháp khảo sát thực tế
Ngoài việc vận dụng lý thuyết vào để nghiên cứu song “học phải đi đôi với
hành” nên chúng tôi đã sử dụng phương pháp khảo sát thực tế để tự kiểm tra,
đánh giá những phương pháp mà luận văn đã đề xuất.
5.3. Phương pháp thống kê - phân loại
Sau khi thực hiện phương pháp khảo sát thực tế, chúng tôi còn tiếp tục sử
dụng phương pháp thống kê – phân loại để tổng hợp những kết quả thực nghiệm
vừa thu được. Qua đó, có thể nhận thấy được tỉ lệ khá – giỏi, đạt yêu cầu –
không đạt yêu cầu, kết quả đạt được sau khi thực nghiệm.
5.4. Phương pháp thực nghiệm

một bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống. Ngoài ra, chúng tôi còn đề
xuất một số biện pháp nhằm rèn luyện kỹ năng lập ý cho học sinh như: Rèn
luyện kỹ năng lập ý trong giờ đọc văn, rèn luyện kỹ năng lập ý trong phân môn
Làm văn, rèn luyện kỹ năng lập ý qua giải các bài tập về nhà.
Chương 3. Thực nghiệm
Ở chương 3, chúng tôi đã tiến hành dạy thực nghiệm nhằm mục đích để
kiểm tra, đánh giá tính khả thi của những phương pháp đã đề trên để rèn luyện
kỹ năng lập ý cho học sinh.
3. Kết luận
7. Đóng góp của khóa luận
Trong việc nghiên cứu khoa học, chúng tôi biết rằng đây là một công việc
không hề dễ dàng gì song chúng tôi cũng muốn đóng góp một phần công sức
nhỏ nhoi của mình vào việc nghiên cứu khoa học để khoa học ngày càng phát
triển hơn nữa. Chúng tôi cũng mong muốn rằng khóa luận này của chúng tôi có
những đóng góp nhất định cho việc nghiên cứu khoa học vào việc hệ thống một
cách tương đối trọn vẹn các tài liệu đề cập tới lập ý cho kiểu bài nghị luận về
một hiện tượng đời sống. Từ đó, luận văn có thể áp dụng vào quá trình dạy học
cho học sinh THPT nói chung, học sinh lớp 11 nói riêng. Như vậy, lập ý có một
vai trò rất quan trọng trong việc dạy và học ở THPT.
Khoá luận của chúng tôi còn đưa ra những lý thuyết về kĩ năng lập ý và tổ
chức dạy thử nghiệm cho học sinh lớp 11 tại trường THPT Trần Hưng Đạo,
huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Do đó, chúng tôi có cơ sở để đưa ra giải pháp để
khắc phục những hạn chế mà học sinh còn gặp phải trong khi viết một bài văn
nghị luận về một hiện tượng đời sống.
Hơn nữa, luận văn còn mang tính tham khảo cho giáo viên và học sinh
nhằm phục vụ cho mục đích hỗ trợ cho việc dạy và học văn nghị luận ở ngoài
nhà trường phổ thông.

9
PHẦN NỘI DUNG

kiến của mình nhằm thuyết phục người đọc và người nghe.
Hơn nữa, văn nghị luận còn là loại chuyên dùng để bàn bạc, bình luận về
một vấn đề nào đó. Bởi nghị luận còn có nghĩa là bàn để cho ra sự phải trái hay
là bàn bạc một cách có phương pháp về một vấn đề nào đó.

10
Cho nên, nghị luận còn được dùng làm vũ khí chiến đấu trong cách mạng,
cho nên phong cách nghị luận cũng là phong cách của ngôn ngữ chính luận. Dạy
văn nghị luận cho học sịnh cũng là việc đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực
mới để phục vụ cho công cuộc bảo vệ và phát triển đất nước theo hướng xã hội
chủ nghĩa.
Mặt khác, nghị luận còn nhằm mục đích giải quyết các vấn đề về xã hội
chính trị hay văn học. Để giải quyết vấn đề đó, văn nghị luận phải đứng trên lập
trường của chủ nghĩa Mac – Lênin, quan điểm duy vật biện chứng cho nên dạy
học văn nghị luận cũng là điều kiện giáo dục hoàn thiện việc rèn luyện tư duy,
hoàn chỉnh quá trình nhận thức của học sinh, đồng thời có tác dụng rèn luyện
bản lĩnh, lập trường, tư tưởng góp phần bồi dưỡng nhân cách con người mới,
con người xã hội chủ nghĩa.
Nói tóm lại, mục đích cuối cùng của văn nghị luận là tạo ra những tác động
tích cực đến con người và những mối quan hệ của con người với con người
trong xã hội. Giúp cho con người và xã hội ngày càng hoàn thiện hơn nữa.
Trong văn nghị luận, có sự phân chia ra thành hai bộ phận chính là: nghị
luận văn học và nghị luận xã hội. Trong đó, nghị luận xã hội là một loại văn bản
không còn gì xa lạ đối với học sinh trong nhà trường phổ thông. Đây cũng là
một bộ phận văn học có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc dạy học và trong
thi cử. Theo như Từ điển Hán- Việt, “ nghị luận” là dùng lý luận để phân tích ý
nghĩa phải trái, bàn bạc mở rộng vấn đề. Còn “ xã hội” trước hết là một tập thể
người cùng sống, gắn bó với nhau trong quan hệ sản xuất và các quan hệ khác.
Cũng có thể hiểu, xã hội là những gì thuộc về quan hệ giữa người với người về
các mặt kinh tế, chính trị, triết học, lịch sử, ngôn ngữ [10,5]. Qua đó, chúng ta

nào cần sắp xếp trước thì xếp trước, ý nào sau thì phải sắp xếp sau, các ý có ý
nghĩa tương đương thì phải sử dụng những kí hiệu giống nhau, không được lộn
xộn, phải đảm bảo tính mạch lạc của văn bản.
Văn nghị luận xã hội đòi hỏi mang màu sắc về chính trị - xã hội. Do vậy
học sinh cần phải có những hiểu biết về chính trị, pháp luật, hay những kiến thức
cơ bản về truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức dân tộc, hay những thông tin
thời sự cập nhật… Để viết được bài nghị luận xã hội hay, học sinh cần nắm
vững những kiến thức về mặt xã hội để bài viết mang tính khách quan hơn.
Nghị luận xã hội trong nhà trường phổ thông bao gồm 3 dạng chính:
- Bàn về một vấn đề tư tưởng, đạo lý thông qua những nhận xét, phán đoán
về tinh thần, tình cảm, đạo lý, lối sống…
- Bàn về một hiện tượng, con người, sự việc có thật trong cuộc sống ở mọi
phương diện và mọi khía cạnh của nó.
- Bàn về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học.
Mỗi một dạng lại mang những nét đặc trưng riêng, tuy nhiên chúng đều
thuộc vào một phong cách ngôn ngữ, đó là phong cách ngôn ngữ chính luận.
Trong những dạng bài nghị luận xã hội đó thì kiểu bài nghị luận về một hiện
tượng đời sống là kiểu bài nghị luận rất đặc trưng, có vai trò rất quan trọng trong
việc dạy và học văn nghị luận xã hội. Ở dạng này thì thường nêu lên một hiện

12
tượng, một vấn đề có tính thời sự được dư luận xã hội trong nước và nước ngoài,
cũng như cộng đồng quốc tế quan tâm. Có những hiện tượng tích cực song cũng
có những hiện tượng tiêu cực để làm sáng tỏ vấn đề đó. Văn nghị luận xã hội đã
đem những vấn đề đó ra để bàn bạc, để rồi đi tới kết luận khẳng định hay là bác
bỏ những hiện tượng đó.
Vì vậy, nghị luận xã hội đã đóng góp một vai trò rất quan trọng và trở
thành một bộ phận không thể nào thiếu được trong việc dạy và học văn nghị
luận xã hội trong nhà trường phổ thông.
1.1.2. Quan niệm về lập ý trong bài nghị luận xã hội về một hiện tượng

chính của văn bản, xác định được phương hướng cho bài làm nhờ đó mà tránh
được tình trạng xa đề, lạc đề, lặp ý hay thiếu ý,… để đảm bảo tính mạch lạc và
thống nhất cho văn bản cần trình bày. Ngoài ra, dàn ý còn giúp cho học sinh có
thể phân phối thời gian trong khi làm bài để tránh tình trạng thiếu thời gian, hay
những chỗ cần chú trọng triển khai thì lại làm sơ qua, chú trọng vào những chỗ
không cần thiết. Lập ý là một quá trình rất quan trọng không thể bỏ qua được,
nếu mà lập ý mà sai hay thiếu thì sẽ dẫn đến bài làm đi sai hướng hay không
hoàn chỉnh. Do vậy, trong khi lập ý học sinh phải hết sức chú ý không được chủ
quan hay xem nhẹ quá trình này.
1.1.2.2. Bản chất lập luận của việc lập ý
Một bài văn nghị luận có thực sự thành công hay không phải phụ thuộc vào
khả năng thuyết phục người đọc bởi bài viết của mình. Muốn như vậy phải đảm
bảo bài viết phải có lí lẽ rõ ràng, rành mạch, phải tìm được hệ thống dẫn chứng
chính xác, xác đáng, giàu sức thuyết phục. Việc định ra một hệ thống ý phải dựa
trên cơ sở nền tảng là các yếu tố về lí lẽ và dẫn chứng. Một hiện tượng xảy ra
trong đời sống xã hội thường có rất nhiều những ý kiến khác nhau, có thể là
đồng tình mà cũng có thể là bác bỏ, bởi mỗi một người lại có một ý kiến riêng,
có những cái nhìn ở những bình diện khác nhau. Nhưng dù ở góc độ hay bình
diện nào thì cái đích cuối cùng của người viết vẫn là phải đưa ra một kết luận
nào đó. Con đường từ lí lẽ để đi đến một kết luận, đó là cả một quá trình được
gọi là lập luận. Lập luận là việc đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt người đọc đi
đến kết luận mà người viết đưa ra. Đó cũng chính là quan hệ giữa luận điểm,
luận cứ với kết luận mà người viết định đưa ra. Việc lựa chọn, sắp xếp các ý
thành hệ thống phụ thuộc vào kết luận, chịu sự chi phối của kết luận.
1.1.2.3. Bản chất tư duy của việc lập ý
Văn nghị luận giúp cho quá trình nhận thức sâu sắc và mạnh mẽ. Vì vậy,
việc lập ý cũng là việc tác động sâu sắc đến quá trình tư duy. Lập ý được coi là
một hoạt động, là kết quả của quy luật tư duy, quá trình tư duy và hoạt động tư
duy. Công việc lập ý bình thường phải rèn luyện chia thành nhiều bước nhỏ,
người viết buộc phải thể hiện trên giấy để có thể kiểm tra, chỉnh sửa và bổ sung.

nghĩa nhất định, nhưng lại không thể thống nhất được về các bước lập ý trong
văn nghị luận. Vì vậy, cần phải tìm ra một quan điểm để thống nhất giữa những
quan niệm đó.
Chính vì vậy, chúng tôi đã dựa vào bản chất và mục đích của các thao tác
để tạo ra khái niệm. Mỗi một thao tác lại có bản chất và mục đích khác nhau.
Lập ý có bản chất và mục đích là định ra những nội dung cơ bản, những ý
nghĩa cơ bản và cách thức để triển khai những nội dung cơ bản, những ý nghĩa
cơ bản ấy được sắp xếp vào bố cục gồm có 3 phần chính là mở bài, thân bài và
kết bài nhằm mục đích làm sáng tỏ vấn đề cần nghị luận.
Bản chất và mục đích của tìm hiểu đề là để tìm hiểu, để phân tích đề bài
mục đích là tìm ra sự chỉ dẫn cho việc tìm ý. Tìm hiểu đề là cơ sở cho việc tìm
ý, có tìm hiểu đề một cách tỉ mỉ, chính xác thì mới có thể tìm ý đúng được.

15
Còn tìm ý lại có bản chất và mục đích là nêu ra tất cả những ý chính liên
quan tới nội dung mà bài viết cần làm sáng tỏ. Lập ý là một quá trình để đi tìm
luận điểm, luận cứ của bài viết nhằm làm sáng tỏ luận đề.
Bản chất và mục đích của lập dàn ý là có thể sắp xếp các ý đã tìm được
theo một hệ thống nhất định và theo một trật tự hợp lý để có thể làm sáng tỏ vấn
đề cần nghị luận( hay làm sáng tỏ luận đề).
Mỗi một thao tác lại có những bản chất và mục đích khác nhau, nhưng
chúng đều có một mục đích chung đó là nhằm làm sáng tỏ luận đề của đề bài
nêu ra. Mặc dù vậy, chúng ta cũng không thể đồng nhất chúng lại với nhau,
không thể đánh đồng lập ý với phân tích đề, tìm ý và lập dàn ý.
Lập ý là quá trình bao gồm từ lúc học sinh bắt đầu đọc đề bài cho đến khi
làm thành một bài hoàn chỉnh. Vì vậy, lập ý có thể coi là một quá trình bao gồm
có 3 bước: phân tích đề( hay tìm hiểu đề), tìm ý và lập dàn ý. Tất cả những thao
tác trên đều nhằm mục đích phục vụ cho việc lập một dàn ý rồi tiếp tục triển
khai viết thành một bài hoàn chỉnh. Tuy nhiên, một bài làm có một dàn ý đích
thực thì chỉ có thể hình thành khi mà vấn đề đặt ra ở đề bài được giải quyết trọn

- Nêu các biểu hiện hoặc các mặt đúng sai của vấn đề cần nghị luận
- Nêu và phân tích tác dụng và tác hại
- Nêu và phân tích nguyên nhân, tư tưởng và nguyên nhân xã hội sâu
xa của sự vật, hiện tượng
- Bày tỏ quan điểm, thái độ khen chê, đồng tình hay bác bỏ với sự vật,
hiện tượng và đề ra phương hướng hành động của bản thân
Bước 3: Lập dàn ý
1. Mở bài: Xác định kiểu mở bài (trực tiếp, gián tiếp,…)
2. Thân bài:
- Sắp xếp các luận điểm, luận cứ theo một trình tự hợp lý
- Xác định mức độ triển khai luận điểm, luận
3. Kết bài: Xác định kiểu kết bài ( mở, đóng)
1.1.2.5.1. Phân tích đề
Phân tích đề (tìm hiểu đề) là sự tiếp xúc trực tiếp với đề, đọc và nghiền
ngẫm để nhận thức đúng và đủ các ý nghĩa và yêu cầu của đề bài.
Ở bước phân tích đề chúng ta cần thực hiện những thao tác cụ thể sau:
(1) Đọc kỹ đề bài
Đây là thao tác trước tiên cần thực hiện. Cần đọc một cách kỹ lưỡng, suy
nghĩ xem đề bài nói về vấn đề gì, chú ý không bỏ sót một chi tiết nào để tránh
những sai sót không đáng có. Sau khi đọc kỹ đề bài, bước đầu cần hình thành
một ấn tượng chung, một ý niệm đại thể, một nhận thức sơ bộ về vấn đề đặt ra.

17
(2) Xác định kiểu và dạng đề bài
Đối với kiểu bài nghị luận về một hiện tượng trong đời sống, chúng ta có
thể quy vào hai dạng chính: Dạng đề nổi và dạng đề chìm.
Dạng đề nổi là dạng đề mà yêu cầu về nội dung (luận đề) có thể bao gồm
cả thao tác nghị luận chính, phạm vi và tài liệu nghị luận được nêu ra trực tiếp
và rõ ràng ngay trong đề bài.
Dạng đề chìm là dạng đề mà yêu cầu về nội dung (luận đề) có thể bao gồm

(4) Xác định thao tác nghị luận chính
Thao tác nghị luận chính là thao tác mà người viết bài nghị luận phải sử
dụng thường xuyên và chủ đạo nhất trong quá trình làm bài của mình. Thông
thường khi viết một bài văn nghị luận chúng ta phải sử dụng rất nhiều thao tác,
tuy nhiên trong các thao tác chúng ta sử dụng sẽ có một thao tác chính. Nếu
không chú ý đến vấn đề này, chúng ta rất dễ bị lạc về thể loại mà bài viết yêu
cầu. Thực tế làm bài của học sinh có rất nhiều trường hợp như thế xảy ra.
(5) Xác định phạm vi, tư liệu nghị luận
Khi xác định được phạm vi nghị luận và tư liệu nghị luận, người viết sẽ
tránh được tình trạng lan man – đề cập đến nội dung mà đề bài không yêu cầu,
cũng như tình trạng chưa thực hiện hết những khía cạnh mà đề bài yêu cầu.
Đồng thời biết tìm và sử dụng hợp lý nguồn tư liệu trong đời sống xã hội để
phục vụ có hiệu quả và đúng yêu cầu mà đề bài đề ra. Đối với nghị luận xã hội
về một hiện tượng đời sống thì nguồn tư liệu hầu như không giới hạn, chỉ có
điều người viết lưu ý sử dụng các tư liệu thuộc về xã hội phải nhiều hơn các tư
liệu về văn học nghệ thuật trong một bài văn mà thôi.
1.1.2.5.2. Tìm ý
Tìm ý là chỉ ra, nêu ra tất cả các ý chính liên quan tới nội dung mà bài viết
cần làm sáng tỏ dựa vào luận đề. Có thể hiểu rằng, tìm ý là việc triển khai luận
đề thành các luận điểm. Chính vì thế khi tìm ý phải lấy luận đề làm trung tâm để
tiến tới và hình thành các luận điểm, đồng thời bám sát vào kiểu và dạng đề bài
mà hình thành luận điểm.
Đối với kiểu đề nghị luận về một hiện tượng trong đời sống, xác định luận
điểm chính bằng cách thực hiện tuần tự những việc sau:
- Mô tả, kể lại sự việc, hiện tượng một cách khái quát, ngắn gọn
- Giải thích (từ ngữ, hình ảnh, thuật ngữ, chi tiết, khái niệm, câu trích dẫn,
câu chủ đề,…)
- Nêu các biểu hiện hoặc các mặt đúng, sai của vấn đề cần nghị luận
- Nêu và phân tích tác dụng, tác hại
- Nêu và phân tích nguyên nhân tư tưởng và nguyên nhân xã hội sâu xa của

các ý nhỏ) rồi chưa phải đã kết thúc quá trình lập ý, chưa phải đã là một dàn ý
“tối ưu” (nhất là khi ý nghĩ ngổn ngang, ồ ạt kéo tới, người viết chỉ mới kịp ghi
lại). Chính vì thế chúng ta cần phải có thao tác lựa chọn và sắp xếp ý tức là phải
có thao tác lập dàn ý. Việc lựa chọn và sắp xếp ý phụ thuộc vào hai yếu tố chủ
quan và khách quan.
Yếu tố khách quan là do bản thân bản thân nội dung luận đề của bài viết có
logic nội tại của nó. Logic này buộc người viết phải lựa chọn ý này mà không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status