Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THU HÀ
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LẬP Ý Ở KIỂU BÀI
NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI
SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 12 THPT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LẬP Ý Ở KIỂU BÀI
NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI
SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 12 THPT
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học Văn - Tiếng việt
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS. TS Lê A THÁI NGUYÊN - 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC
năng lập ý…………… ………………………………………… 39
2.2.1. Một số nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập……… … …39
2.2.2. Miêu tả hệ thống bài tập…………… ………………………42
2.3. Phƣơng hƣớng sử dụng hệ thống bài tập………… …………68
2.3.1. Vận dụng hệ thống bài tập trong tiết lí thuyết……… ….…68
2.3.2. Vận dụng hệ thống bài tập trong tiết viết bài……………….69
2.3.3. Vận dụng hệ thống bài tập trong tiết trả bài…………………69
CHƯƠNG 3 : THỂ NGHIỆM SƢ PHẠM……………………… 70
3.1 . Mục đích thể nghiệm………… ………………….…….…….70
3.2. Đối tƣợng và địa bàn thể nghiệm………………………….… 71
3.3. Phƣơng pháp thể nghiệm……………… …………… …….72
3.4. Nội dung thể nghiệm………………………………………… 72
3.5. Cách đánh giá kết quả thể nghiệm…………………………….73
3.6. Giáo án thể nghiệm……………………………………………74
3.7. Kết quả thể nghiệm……………………………………… … 88
KẾT LUẬN CHUNG………………… …………………………99
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………… ……… …… 104 Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
MỞ ĐẦU
Không chỉ học sinh mà cả giáo viên cũng gặp lúng túng trong việc rèn kĩ
năng lập ý cho học sinh trong kiểu bài NL về một HTĐS bởi đây là loại văn
bản mới được đưa vào chương trình sách giáo khoa nên chưa có nhiều tài
liệu tham khảo. Hơn nữa, cả giáo viên và học sinh đều ít hứng thú với kiểu
bài này nói riêng và với môn Làm văn nói chung bởi sự khô khan, không
bay bổng mượt mà như những giờ giảng văn.
Xuất phát từ những lí do trên và thông qua thực tiễn dạy học, chúng tôi
chọn đề tài “ Rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một HTĐS cho
học sinh lớp 12 THPT”.
2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1.Đối tƣợng nghiên cứu
Quá trình dạy và học văn nghị luận về một HTĐS đặc biệt lưu ý quá trình
lập ý ở kiểu bài NL về một HTĐS.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Nội dung và biện pháp rèn cho học sinh lớp 12 kĩ năng lập ý ở kiểu bài
NL về một HTĐS.
3. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Văn nghị luận là loại văn có vai trò quan trọng trong đời sống của mỗi
con người và cũng là loại văn có lịch sử lâu đời. Thế nhưng nếu chỉ tính
riêng những bài nghiên cứu, những tài liệu dạy học và kĩ năng lập ý cho
loại bài NLXH thì không phong phú. Bởi vì tuy có phân biệt hai loại NLXH
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
và NLVH nhưng trong thực tế kĩ năng lập ý bao giờ cũng chỉ được trình bày
trong phần kĩ năng làm văn nói chung và chủ yếu ở loại bài NLVH.
Thời kỳ phong kiến cách lập ý cho văn nghị luận được tiến hành chủ yếu
theo cách: Thầy đưa ra các bài văn mẫu, từ những bài văn mẫu này Thầy
căn cứ vào đặc điểm về nội dung và hình thức của từng loại mà phân tích và
giảng giải cho trò. Học trò cứ thế mà luyện tập theo. Có thể thấy, thực chất
trường phổ thông nghị luận về một HTĐS chưa được đưa vào giảng dạy và
chưa được nhiều người chú ý quan tâm.
Trong những năm gần đây, Nghị luận về một HTĐS là loại văn bản chính
thức được đưa vào giảng dạy ở chương trình PT cụ thể là ở kỳ II lớp 9 cấp
THCS và kỳ I lớp 12 cấp THPT. Đây cũng là loại văn NL được đưa vào cơ
cấu trong đề thi của các cấp tuyển sinh và thi tốt nghiệp.
Đây là một loại văn bản rất mới nên chưc có một công trình cụ thể nào đi
nghiên cứu trực tiếp về loại văn bản này . Các kĩ năng làm kiểu bài này cũng
chưa có nhiều tài liệu đề cập đến. Có một số tài liệu nói về loại bài nghị luận
về một HTĐS, cụ thể:
(1) Dạy và học NLXH: Đỗ Ngọc Thống- NXBGD Việt Nam- 2010.
(2) Các dạng đề và hướng dẫn làm bài nghị luận xã hội: Lê A, Nguyễn
Thị Ngân Hoa ( đồng chủ biên)- NXB GD- 2009.
(3) Thực hành làm văn 10, 11, 12: Lê A ( chủ biên)- NXB GD- 2009.
(4) Các tài liệu luyện tập và luyện thi môn Ngữ văn….
Tuy nhiên, chỉ có cuốn “Dạy và học NLXH” của tác giả Đỗ Ngọc Thống-
NXBGD Việt Nam- 2010 và cuốn “Thực hành làm văn 12” của tác giả Lê A
( chủ biên)- NXB GD- 2009 là có bàn đến cách làm dạng bài nghị luận về
một HTĐS nhưng không cụ thể nói đến kĩ năng lập ý ở kiểu bài này.
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
Tóm lại, kĩ năng lập ý cho loại bài nghị luận nói chung là một kĩ năng rất
cơ bản, thiết yếu đối với học sinh. Một số tài liệu có bàn về kĩ năng này
nhưng chủ yếu lại liên quan đến kiểu bài NLVH và NLXH nói chung còn kĩ
năng lập ý trong kiểu bài nghị luận về một HTĐS thì chưa có tài liệu nào
bàn đến một cách cụ thể.
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi thực hiện những phương pháp nghiên cứu
sau:
Xác định cơ sở khoa học của việc rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiểu bài NL về
một HTĐS.
Đề xuất nội dung và biện pháp rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiểu bài NL về
một HTĐS.
Tổ chức thể nghiệm sư phạm để điều chỉnh và đánh giá hiệu quả cũng như
khả năng thực thi của giải pháp được đề xuất.
6. DỰ KIẾN ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Đưa ra một số giải pháp giúp giáo viên và học sinh khắc phục những khó
khăn khi rèn kĩ năng lập ý ở kiểu bài NL về một HTĐS thông qua một hệ
thống bài tập với các dạng cụ thể.
7. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Từ việc xác định mục tiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu
luận văn có cấu trúc như sau:
Chƣơng 1: Cơ sở khoa học của việc rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiểu bài
NL về một HTĐS
1.1 .Nghị luận xã hội và kiểu bài NL về một HTĐS.
1.2 .Ý và kĩ năng lập ý ở kiểu bài NL về một HTĐS .
1.3 .Thực trạng dạy và học lập ý cho học sinh ở kiểu bài NL về một HTĐS.
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
Chƣơng 2: Rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiếu bài NL về một HTĐS cho học
sinh qua hệ thống bài tập
2.1. Một số vấn đề chung.
2.2. Miêu tả hệ thống bài tập.
2.3. Phương hướng sử dụng hệ thống bài tập.
Chƣơng 3: Thể nghiệm sƣ phạm
Chương này nhằm kiểm tra, đánh giá khả năng thực thi, hiệu quả của
tập thể người cùng sống, gắn bó với nhau trong quan hệ sản xuất và các
quan hệ khác. Cũng có thể hiểu “ xã hội” là những gì thuộc về quan hệ giữa
người và người về các mặt chính trị, kinh tế, triết học, lịch sử, văn học, ngôn
ngữ… Từ đó có thể hiểu NLXH là thể văn hướng tới phân tích, bàn bạc các
vấn đề liên quan đến các mối quan hệ của con người trong đời sống xã hội.
Mục đích cuối cùng của nó là tạo ra những tác động tích cực đến con người
và những mối quan hệ giữa người với người trong xã hội [43,5].
SGK Làm văn 10 cho rằng: NLXH bàn đến mối quan hệ giữa con người
với con người. Những lời bàn này góp phần làm cho đời sống tinh thần của
con người thêm phong phú, tạo cho mỗi người ý thức chăm sóc cuộc sống
tinh thần của bản thân mình và xây dựng cho mối quan hệ trong xã hội ,
trong cộng đồng mỗi này một văn minh, tốt đẹp hơn [21,40].
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu , Lê A thì: NLXH lấy đề tài từ các lĩnh vực
chính trị, xã hội, đạo đức làm nội dung bàn bạc nhằm làm sáng tỏ cái đúng,
sai, tốt, xấu, phải trái của vấn đề được nêu ra. Nội dung ấy thường được cô
đúc trong các câu tục ngữ, danh ngôn hoặc một lời nhận xét khái quát nào
đấy. Các vấn đề đặt ra trong NLXH thường rất rộng: là những quan niệm
đối nhân xử thế cách sống hay nói cách khác đó là mối quan hệ giữa con
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
người với con người. Có thể vấn đề đặt ra cũng có thể rất hẹp như: nên tập
thể dục buổi sáng như thế nào, học sinh cần đi học đúng giờ…
Nói chung NLXH là dùng lí lẽ, dẫn chứng bàn bạc về các vấn đề xã hội,
chính trị, đạo đức để chỉ ra các mặt trái- phải, đúng- sai, tốt- xấu của những
vấn đề ấy. Trong nhà trường THPH thì NLXH thường xoay quanh các vấn
đề về tư tưởng, đạo đức, lối sống gần gũi với tuổi trẻ hay bày tỏ ý kiến, suy
nghĩ về một hiện tượng tốt hoặc xấu trong đời sống xã hội. Và, trong những
bài văn nghị luận ở nhà trường các em cần phát biểu những suy nghĩ
nghiêm túc, chín chắn của mình về một vấn đề có ý nghĩa xã hội đặt ra cho
Dạng bài này thường nêu lên một hiện tượng có thật trong đời sống. Đó có
thể là một hiện tượng tích cực nhưng cũng có thể là một hiện tượng tiêu cực
trong xã hội hoặc một hiện tượng có cả mặt tích cực lẫn tiêu cực…Như thế
đòi hỏi người viết phải thể hiện được chủ kiến của bản thân hoặc ca ngợi,
biểu dương cái tốt- cái thiện và lên án , vạch trần cái xấu- cái ác…Những
hiện tượng đời sống nêu lên trong các đề văn dạng này vừa phải gần gũi với
tuổi trẻ học đường vừa phải có ý nghĩa lớn lao đối với cả cộng đồng dân tộc
và thế giới.[43,12]
c. Dạng bài nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn
học
Đây là dạng đề tổng hợp, đòi hỏi học sinh kiến thức về cả hai mảng văn học
và đời sống, cũng đòi hỏi kĩ năng phân tích văn học và kĩ năng phân tích,
đánh giá các vấn đề xã hội. Nghĩa là có thể kiểm tra người viết cả về kiến
thức văn học và kiến thức đời sống. Đề thường xuất phát từ một vấn đề xã
hội giàu ý nghĩa có trong một tác phẩm văn học nào đó để yêu cầu học sinh
bàn bạc rộng ra vấn đề xã hội đó. Vấn đề xã hội được bàn bạc có thể rút ra
từ một tác phẩm văn học đã học trong chương trình nhưng cũng có thể từ
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
một câu chuyện chưa được học ( thường là một câu chuyện ngắn gọn, giàu
ý nghĩa).[43,15]
Ví dụ : Trong tác phẩm “ Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu
nếu đặt ra vấn đề về bạo lực gia đình thì lúc này là bàn về lĩnh vực thuộc NL
về một HTĐS. Còn nếu đưa ra vấn đề quan niệm về cái đẹp của nghệ sĩ thì
lúc này lại bàn về lĩnh vực thuộc NL về một TTĐL. Như vậy, cùng là một
tác phẩm nhưng vấn đề được trích ra thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo lí thì nó
thuộc loại NL về một TTĐL còn vấn đề được trích ra thuộc lĩnh vực hiện
tượng đời sống thì nó thuộc NL về một HTĐS.
Nghị luận về một hiện tƣợng đời sống
đồng cũng như cuộc sống của chính lứa tuổi học sinh. Ví dụ như các vấn đề
sau: ô nhiễm môi trường, tai nạn giao thông, căn bệnh HIV/AIDS, các tệ
nạn xã hội, hút thuốc lá,quay cóp bài trong học hành thi cử, phong trào
thanh niên tình nguyện,những tấm gương hiếu thảo,vượt khó của thanh
niên…Khi phản ánh thực trạng, người viết cần đưa ra những con số, những
thông tin cụ thể tránh lối nói chung chung, mơ hồ để tạo sự thuyết phục với
người nghe.
b.Phân tích và bình luận nguyên nhân- kết quả ( hậu quả) của vấn đề
được nêu ra trong đề bài
Sau khi xác định rõ thực trạng, cần phân tích hiện tượng ở các mặt nguyên
nhân, hậu quả và cố gắng tìm các giải pháp để giải quyết thực trạng đó. Việc
này không quá khó. Chỉ cần chú ý một chút tới cách nói của các phóng viên,
bình luận viên trên các báo, đài, chú ý quan tâm đến dư luận xã hội và chịu
khó tìm hiểu cuộc sống xung quanh mình là HS sẽ làm được. Tuy nhiên, khi
nghe và tiếp nhận thông tin, dư luận, cần có sự tỉnh táo để xem xét, chọn lọc
và xử lí đích đáng trên cơ sở hiểu biết và cố gắng xây dựng một lập trường
tư tưởng vững vàng, tránh chạy theo dư luận không chính thống mà dẫn tới
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
chủ quan, hồ đồ khi phân tích, đánh giá hiện tượng. Lưu ý là khi phân tích
nguyên nhân, nên chú ý đến các mặt khách quan – chủ quan. Chẳng hạn, với
hiện tượng tai nạn giao thông thì nguyên nhân khách quan là do hệ thống
giao thông còn nhiều bất cập (cách phân luồng, phân tuyến, hệ thống biển
báo chỉ dẫn, chất lượng của phương tiện tham gia giao thông…), nguyên
nhân chủ quan là người tham gia giao thông chưa ý thức đầy đủ về trách
nhiệm, chưa nắm vững luật pháp, chưa có ý đúng mức tới vấn đề an toàn…
Khi đánh giá hậu quả, cần phải xem xét ở các phạm vi cá nhân – cộng đồng,
hiện tại – tương lai… Ví dụ: hiện tượng nghiện Internet không chỉ làm hao
tổn về sức lực, tiền của, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhân cách cá nhân
phải được đưa vào một sự sắp xếp, vào một bố cục cụ thể.
1.2.1.2.Mô hình ý trong kiểu bài NL về một HTĐS
Mô hình ý là kết quả của quá trình lập ý được đưa vào bố cục ba phần của
văn bản. Có thể hình dung mô hình ý trong bài văn nghị luận nói chung qua
phác thảo của nhà nghiên cứu Đỗ Ngọc Thống sau đây:
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
15
Mở bài: Nêu luận đề khái quát.
Thân bài:
Luận điểm I
Luận cứ 1
Luận cứ 2 Làm sáng tỏ cho luận điểm I
Luận cứ 3
Làm sáng tỏ
cho luận đề ở
mở bài
Luận điểm II
- Luận điểm 3: Bình luận, nhận xét về hiện tượng. Đánh giá hiện tượng
tốt, xấu, lợi, hại như thế nào
+ Luận cứ 1
+ Luận cứ 2
+…
- Luận điểm 4: Nêu phương hướng hành động
+ Luận cứ 1
+ Luận cứ 2
+ …….
Kết bài: Từ hiện tượng đời sống rút ra bài học tư tưởng đạo lí
1.2.2. Kĩ năng lập ý trong kiểu bài NL về một HTĐS
1.2.2.1. Quan niệm về kĩ năng lập ý trong kiểu bài NL về một HTĐS
Nhìn chung khái niệm ý trong bài văn nghị luận được hiểu khá thống nhất.
Ý, đó là những những nội dung chính tạo nên nội dung cơ bản của một bài
viết. Và nếu quan niệm ý là những nội dung chính cần trình bày trong bài
văn thì lập ý là một quá trình suy nghĩ (có ý thức) nhằm định ra các nội
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
17
dung cơ bản của bài viết trước khi diễn đạt thành văn. Như vậy ý là kết quả
của những dự định sẽ trình bày ra bằng lời được hình thành trong quá trình
tư duy có định hướng. Vì thế lập ý là định ra trong đầu óc những nội dung
chính, những ý cơ bản sẽ được thể hiện ra bằng lời (bằng chữ) theo một
trình tự hợp lý; là giai đoạn tiền văn bản.
Đối với HS THPT lập ý cho đề văn là một quá trình suy nghĩ trong một
tình huống có vấn đề (đề văn tạo nên tình huống có vấn đề này) nhằm đưa
ra, lựa chọn và sắp xếp những nội dung chính, những ý cơ bản mà học sinh
dự định sẽ triển khai vào bố cục ba phần của bài văn. Việc lập ý giúp cho
HS bao quát được những nội dung chủ yếu, những ý cơ bản cần triển khai
cũng như xác định được phạm vi nghị luận và mức độ triển khai các ý cơ
- Kĩ năng lập dàn bài
- Kĩ năng diễn đạt, trình bày
- Kĩ năng kiểm tra, hoàn chỉnh bài viết
Trong 5 kĩ năng trên, mỗi kĩ năng có một vai trò và vị trí riêng nhưng
chúng có liên quan chặt chẽ với nhau. Xét trong sự sắp xếp trình tự các kĩ
năng đó ta nhận thấy kĩ năng lập ý đứng ở vị trí thứ 2 sau kĩ năng tìm hiểu
đề, xác định yêu câu bài viết và đứng trước kĩ năng lập dàn ý, kĩ năng diễn
đạt, trình bày và kĩ năng kiểm tra, hoàn chỉnh bài viết.
Có thể thấy rằng mỗi kĩ năng có một vai trò riêng và nếu thiếu 1 trong 5 kĩ
năng trên thì bài văn sẽ thiếu chính xác, thiếu sự đầy đủ. Chúng ta cũng
không thể nói kĩ năng nào là quan trọng nhất bởi mỗi kĩ năng có một chức
năng riêng tạo thành một mắt xích trong quá trình viết một bài văn nghị
luận.
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
19
a. Quan hệ với kĩ năng tìm hiểu đề, xác định yêu cầu bài viết
Để lập được ý trong bài văn nghị luận nói chung và trong bài văn nghị
luận về một HTĐS nói riêng thì chúng ta phải dựa vào kết quả của kĩ năng
tìm hiểu đề, xác định yêu cầu bài viết.
b.Quan hệ với kĩ năng lập dàn ý
Dàn ý chính là sự sắp xếp các ý vào bố cục ba phần theo một trình tự lôgic
để tạo sự mạch lạc, liên kết, thống nhất trong bài văn. Có ý thì mới lập được
dàn ý. Như vậy, trong quan hệ với lập dàn ý thì lập ý là cơ sở để lập dàn ý
xây dựng kết cấu của bài văn. Ngược lại, lập dàn ý lấy kết quả của lập ý làm
tư liệu cho mình.
c. Quan hệ với kĩ năng diễn đạt, trình bày
ngoài. Còn thực nghiệm của Skiner đã tăng cường được tính chủ động tích
cực của chủ thể không phụ thuộc bên ngoài. Trong quá trình tìm kiếm chủ
thể có thể có kết quả sai nhưng bằng kinh nghiệm, tự lực tìm kiếm cuối cùng
chủ thể tìm đến kết quả đúng. Ta có thể khẳng định rằng tất cả các hiện
tượng tâm lí đều có cơ sở sinh lí là phản xạ có điều kiện. Chính vì vậy hoạt
động học cũng là phản xạ có điều kiện. Dạy học chính là dạy phản xạ có
điều kiện. Trong hoạt động dạy học thì chủ thể học sinh phải tích cực, chủ
động hoạt động tìm kiếm kiến thức. Phải làm đi làm lại nhiều lần một hoạt
động nào đó thì mới tạo thành đường hằn trong vỏ não và từ đó mới hình
thành được kĩ năng mình mong muốn một cách thành thục.
Cũng như vậy, muốn hình thành kĩ năng làm văn nghị luận về một HTĐS
thì cá nhân phải chủ động tích cực rèn luyện. Ngoài việc tiếp thu, áp dụng
những kiến thức về lí thuyết đã được giáo viên truyền đạt thì điều quan
trọng hơn là học sinh phải được làm được thực hành nhiều. Quá trình thực
hành ấy phải được tiến hành ở nhiều hình thức khác nhau như: Đọc những
bài văn mẫu của những tác giả có uy tín; tham khảo nhiều dạng đề khác
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
21
nhau; làm nhiều loại bài tập khác nhau. Những hoạt động đó được làm đi
làm lại nhiều lần dần dần thành thục và tạo thành kĩ năng. Tuy nhiên, những
hoạt động đó phải được chủ thể chủ động làm, làm một cách say mê, không
gò bó ép buộc cũng không phải đi chép lại của người khác thì mới tạo thành
kĩ năng được.
Như vậy, cơ sở của việc hình thành kĩ năng nói chung và kĩ năng lập ý nói
riêng ở kiểu bài NL về một HTĐS chính là bằng cách tiến hành các hoạt
động tích cực chủ động có định hướng lặp đi lặp lại nhiều lần thông qua hệ
thống bài tập thực hành như một phương tiện chủ yếu.
1.3. Thực trạng dạy và học lập ý cho học sinh ở kiểu bài NL về một
HTĐS