SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BẮC NINH
TRƯỜNG THPT Yên Phong số 2
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài:
Cách tiếp cận linh hoạt, sáng tạo để
giảng dạy kiểu bài Nghị luận về một
hiện tượng đời sống có hiệu quả
Giáo viên: Nguyễn Thị Hòa
Tổ: Văn
Trường: THPT Yên Phong số 2
Năm học: 2013- 2014
Yên Phong,tháng 12 năm 2014
1
PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. Mục đích của sáng kiến:
Mục đích của đề tài là tạo ra cách tiếp cận linh hoạt, sáng tạo để người dạy kiểu
bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống đạt hiệu quả cao, khắc phục việc truyền
thụ kiến thức lí thuyết Làm văn khô cứng, tạo nên tâm lí nhàm chán đối với người
học. Người dạy Làm văn cần hướng đến mục đích cuối cùng: Là giúp học sinh thể
hiện (nói hoặc viết) những suy nghĩ (tư tưởng, quan điểm); tình cảm (vui hay buồn,
căm ghét hay yêu thương); thái độ (đồng tình hay phản đối, ca ngợi hay phê phán)
của mình trước một hiện tượng đời sống . . . . Có nghĩa là giúp cho học sinh cách
nghĩ và cách trình bày suy nghĩ của mình trước một hiện tượng đời sống có ý nghĩa
xã hội tích cực hay hiện tượng tiêu cực.
Phương pháp thực hiện đề tài: mô tả, tái hiện lại đề tài, từ công việc tiếp cận của
giáo viên, thiết kế bài dạy đến kết quả áp dụng đề tài tại đơn vị.
Đề tài giới hạn trong phân môn Làm văn. Cụ thể, áp dụng cho kiểu bài Nghị
luận về một hiện tượng đời sống (Ngữ văn 12). Đối tượng áp dụng của đề tài là học
sinh Trung học phổ thông, bổ túc Trung học phổ thông.
Có thể kể ra rất nhiều nguyên nhân dẫn tới trình trạng ấy và để khắc phục phần
nào trình trạng ấy, tôi đã rút ra được kinh nghiệm trong thực tiễn giảng dạy và
Để xây dựng phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng, linh hoạt và sáng tạo
đạt hiệu quả cao cần xác định kĩ ba vấn đề.
Vấn đề thứ nhất : Đối tượng học sinh của tôi đang nghiên cứu là bổ túc Trung
học phổ thông, có những đặc điểm riêng như :
Nhiều độ tuổi khác nhau, đối tượng học sinh phân luồng sau Trung học
phổ thông.
Nghỉ học lâu năm, lâu ngày, kiến thức không liên tục, chắp nối.
Học sinh đa số học lực yếu, kém.
Vấnđề thứ hai : Phân môn Làm văn có đặc thù riêng : là môn học vốn kết tinh
đầy đủ nguyên lí kết hợp Học với Hành, nghĩa là vừa có tính lý thuyết vừa rèn
luyện kĩ năng thực hành cao, đòi hỏi học sinh phải biết tích hợp kiến thức nhiều
môn học khác nhau như Văn học, Tiếng việt, . . . . nhiều kênh thông tin khác nhau
để vận dụng trong kĩ năng thực hành làm văn, viết (nói) bài làm văn nghị luận. Vì
vậy, từ mức độ ấy đòi hỏi tâm lí tiếp nhận của người học rất quan trọng.
Vấn đề thứ ba : Trong thực tiễn sống, con người thường thấy hiện ra trước mắt
mình những câu hỏi, những băn khoăn mà mình vẫn muốn, vẫn chờ mong được
giải đáp, nhưng lại khó giải đáp, và do đó mà thường khi vẫn được giải đáp theo
nhiều cách khác nhau. Đó chính là vấn đề. Nghị luận về một hiện tượng đời sống
nhằm trả lời câu hỏi ấy và rèn luyện cho học sinh ý thức quan tâm, có thái độ và
4
nhận thức đúng đắn trước hiện tượng đời sống đang xảy ra. Đề tài nghị luận là các
hiện tượng đời sống đáng được suy nghĩ, nghiền ngẫm trong cuộc sống thường
ngày, đặc biệt là các hiện tượng liên quan trực tiếp đến thanh niên học sinh, các
hiện tượng này thường có ý nghĩa xã hội tích cực và có hiện tượng tiêu cực.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
Căn cứ vào các vấn đề trên, giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ đối tượng học
sinh, tạo tâm lí hứng thú cho học sinh tiếp nhận phân môn làm văn nói chung và
kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống nói riêng một cách tự nguyện. Để
làm được điều đó, đòi hỏi giáo viên linh hoạt, sáng tạo tình huống dạy học bằng:
- Hình ảnh, tư liệu về những con người giàu nghị lực trong cuộc sống.
số vấn đề mới về văn nghị luận như : Tìm hiểu các yếu tố biểu cảm, miêu tả và tự
sự trong văn nghị luận.
Lớp 9 : Văn nghị luận tiếp tục được học thêm các nội dung mới như : Các
phép lập luận diễn dịch, quy nạp, phân tích, tổng hợp; Nghị luận xã hội và nghị
luận văn học (chủ yếu là loại văn bình luận, đòi hỏi vận dụng tổng hợp các thao
tác nghị luận).
Văn nghị luận được học trong chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn THPT
(từ lớp 10 cho đến lớp 12).
Lớp 10 : Ôn lại các kiểu văn bản đã học ở THCS và học thêm một số nội
dung mới. Các kiểu văn bản ôn luyện bao gồm bốn kiểu văn bản: tự sự, miêu tả,
biểu cảm, thuyết minh. Các nội dung mới bao gồm hình thành và rèn luyện năng
lực liên tưởng, tưởng tượng, khả năng quan sát, thể nghiệm đời sống; biết suy nghĩ,
phát hiện vấn đề từ đời sống; biết đọc và tích luỹ kiến thức, . . . .
Lớp 11 : Tập trung ôn lại và mở rộng, nâng cao các tri thức và kĩ năng về
kiểu văn bản nghị luận xã hội và nghị luận văn học, mà trọng tâm là giới thiệu và
6
luyện tập bốn thao tác lập luận chưa được học ở các lớp dưới: phân tích, so sánh,
bác bỏ, bình luận.
Lớp 12 : Tiếp tục hoàn thiện về văn nghị luận mà trọng tâm là các dạng bài
nghị luận, luyện tập kết hợp các thao tác và hoàn chỉnh kĩ năng viết bài (bố cục, mở
bài, kết luận, diễn đạt và hoàn chỉnh bài văn . . .).
Tính tích hợp đồng tâm nâng cao theo chiều dọc của chương trình phân môn
Làm văn trong sách giáo khoa Ngữ văn từ THCS đến THPT giúp cho giáo viên có
cái nhìn toàn diện về chương trình Làm văn để nhận thấy: Kiến thức làm văn
THPT chủ yếu viết dưới dạng tổng kết lại một số kiến thức và kĩ năng làm văn đã
học ở các lớp dưới ở mức độ nâng cao. Vì thế, khi dạy giáo viên cần tận dụng và
phát huy tối đa những hiểu biết của học sinh về vấn đề đã học để tìm hiểu bài.
Ví dụ:
Khi thiết kế bài dạy Nghị luận về một hiện tượng đời sống, GV cần lưu ý tính
tích hợp như:
1. Về kiến thức.
- Giúp học sinh hiểu được cách làm bài văn nghị luận về một hiện tượng đời
sống.
2. Về kĩ năng
- Nâng cao kĩ năng làm văn nghị luận xã hội.
3. Về tư tưởng, thái độ
- Có nhận thức, tư tưởng, thái độ và hành động đúng đắn trước những hiện
tượng đời sống hàng ngày.
B . Nội dung, phương pháp, phương tiện
Nội dung Phương pháp Phương tiện
-Khái niệm.
+Nhận thức đúng đắn
về những hiện tượng
đời sống.
-Vấn đáp, đàm thoại.
-Phát hiện và giải quyết
vấn đề.
-Lí thuyết tình huống
-Chiếu slide câu chuyện
về tấm gương giàu lòng
nhân ái của chị Trần
Mai Anh.
-Bảng viết.
-Chiếu slide hình ảnh về
hiện tượng ô nhiễm môi
trường hiện nay.
-Cách làm bài văn
nghị luận về một hiện
tượng đời sống.
-Thảo luận
- GV chiếu slide sau: Tấm gương giàu lòng nhân ái của chị Trần Mai Anh.
(theo lời kể của chị Trần Mai Anh)
10
"Tháng 7.2006, em đọc báo, rất
xúc động về trường hợp của cháu Hồ
Thiện Nhân mới sinh được 72 giờ
tuổi, bỏ rơi trong một khu vườn bị
súc vật cắn xé mất một chân phải và
bộ phận sinh dục, được bệnh viện Đa
khoa Quảng Nam cứu sống.
Cuối năm 2007, em cùng một số bạn lên nhà Nhân thăm cháu. Khi gặp cháu,
chúng em không cầm được nước mắt. Một cháu bé thông minh, nhạy cảm và phải
chịu thiệt thòi như vậy nhưng không được chăm sóc y tế, chăm sóc nhiều mặt như
những đứa trẻ khác. Tương lai của cháu đã khác biệt, sẽ cần khác biệt hơn so với
các cháu bé đồng lứa nếu cháu sinh sống trong môi trường hiện tại. Lúc đó, em
khát khao được làm mẹ để chăm sóc cho cháu.
Tình thương lớn hơn những khó khăn mà em đã lường trước sẽ diễn ra sau này,
nên em đã quyết định sẽ xin cháu về làm con của mình. Và rồi sự thôi thúc phải
chăm sóc, chạy chữa cho cháu càng nhanh càng tốt giúp em quyết định rất nhanh.
Sau nhiều ngày phải hoàn thành các thủ tục pháp lý, chúng em về nhà bà ngoại của
Nhân để đón cháu".(Báo Lao động; tháng 4 năm 2008)
- GV nêu câu hỏi: Hiện tượng đời sống trên có ý nghĩa xã hội tích cực hay tiêu
cực ? Các em có đồng tình với quyết định của chị Trần Mai Anh nhận cháu Hồ
Thiện Nhân về làm con nuôi không ? vì sao ?
- Học sinh (HS): trình bày suy nghĩ của mình về hiện tượng trên.
- Trên cơ sở sự trình bày của học sinh, giáo viên chốt ý, ghi bảng.
Cháu Hồ Thiện Nhân khi còn ở
nhà bà ngoại (Núi Thành, Quảng Nam).
11
Hiện tượng có ý nghĩa xã hội tích cực và đồng tình với quyết định của chị Trần
luận, . . . .
- GV chiếu slide và nêu vấn đề: Các em hãy quan sát những đề bài sau đây và
trả lời câu hỏi.
Đề bài 1: Sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập một, trang 66. Chia chiếc bánh của
mình cho ai ?
Đề bài 2: Hãy bày tỏ ý kiến của mình về hành động dũng cảm Quên mình cứu
bạn sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 29-5-2009, em Vũ Văn Ðức cùng bốn bạn là Vũ
Hồng Bản, Ðỗ Ngọc Thành, Nguyễn Trung Hiếu và Nguyễn Công Minh đều là
học sinh lớp 6A rủ nhau đi tắm biển tại khu vực Cái Xà Cong thuộc phường Hà
Phong (TP Hạ Long). Ðến khoảng 16 giờ, Ðức và một số bạn đang lên bờ thì nghe
thấy Ðỗ Ngọc Thành kêu cứu, chới với giữa dòng nước xoáy, không chút đắn đo
Vũ Văn Ðức lao ra cứu bạn. Ðến khi dìu được bạn vào bờ thì Ðức đã kiệt sức và bị
chết đuối.
Trung ương Ðoàn truy tặng danh hiệu: "Tuổi trẻ dũng cảm" cho em Vũ Văn
Ðức, vì hành động dũng cảm quên mình cứu bạn.
(Báo Lao động.com.vn; ngày 3-6-2009)
Đề bài 3: Ngày 29/10/2008, sau hơn một tháng nhập học vào trường ngày
17/09/2008, trên đường đi học về Nguyễn Hữu Dũng đã nhặt được một chiếc cặp.
Trong cặp đựng rất nhiều tài liệu và một khoản tiền tương đương 10 triệu đồng Việt
Nam. Thiết nghĩ, với số tiền 10 triệu đồng đó Dũng có thể giữ lại để trang trải chi
phí được ít nhất 6 tháng học tại Đài Loan thậm chí nếu biết tiết kiệm thì có thể đủ
chi tiêu cho cả một năm học. Nhưng không, Dũng đã không làm như vậy mà quyết
định mang nộp cho Ban Giám hiệu nhà trường. Chiếc cặp được mở ra với sự chứng
kiến của các thầy cô giáo Ban Giám hiệu nhà trường. Lúc đó một giáo sư lên tiếng:
“Đúng là chiếc cặp của tôi rồi. Tôi vô cùng xúc động và xin cảm ơn em Dũng - một
15
sinh viên đến từ Việt Nam – đã xứng đáng với danh hiệu tấm gương người tốt việc
tốt: nhặt được của rơi, trả người đánh mất.”
(Báo Nhân dân.com.vn; ngày 29-10-2008)
Hữu Ân: dạy học ở các lớp tình thương, giúp đỡ người tàn tật có hoàn cảnh neo
đơn, tham gia phong trào tình nguyện…
- Một số việc làm đáng phê phán của thanh niên học sinh: bỏ học ra ngoài chơi
điện tử, đánh bi a, tham gia đua xe…
Thao tác lập luận
- Phân tích, Chứng minh, Bình luận, Bác bỏ.
Hoạt động 3: - GV gợi mở và nêu vấn đề : cách làm bài văn nghị luận về một
hiện tượng đời sống, không chỉ có lập luận mà phải biết kết hợp vận dụng nhiều
thao tác lập luận với nhau. Vậy các em hãy nhắc lại ở lớp 11 đã học các thao tác lập
luận nào ? GV gọi một vài HS trình bày khái niệm về các thao tác lập luận (mục
đích làm cho HS nhớ lại kiến thức đã học và biết vận dụng làm bài nghị luận).
Thao tác lập luận Nội dung
Phân tích
Phân tích là chia nhỏ đồi tượng thành các yếu tố bộ
phận để xem xét nội dung, hình thức và mối quan hệ
bên trong cũng như bên ngoài của chúng, rồi khái
quát, phát hiện ra bản chất của đối tượng.
So sánh
So sánh là đối chiếu hai sự vật, hiện tượng để thấy
được sự giống và khác nhau giữa hai sự vật, hiện
tượng đó.
Bình luận
Đánh giá, xác định vấn đề: đúng – sai; hay - dở và
bàn bạc mở rộng vấn đề một cách sâu sắc, có sức
thuyết phục cao.
Dùng lí lẽ, dẫn chứng đúng đắn, khoa học để chỉ rõ
17
Bác bỏ những sai lầm, lệch lạc, thiếu khoa học của một
quan điểm, ý kiến nào đó.
- GV tiến hành chia nhóm thảo luận (mỗi nhóm 4HS), thời gian 5 phút, tiến
thống Lá lành đùm lá rách, tinh thần tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau của cha
ông xưa.
+ Hiện tượng Nguyễn Hữu Ân tiêu biểu cho lối sống đẹp, tình yêu thương con
người của thanh niên ngày nay.
+ Một số tấm gương tương tự.
- Bình luận:
+ Đánh giá chung về hiện tượng: Đa số thanh niên Việt Nam có ý thức tốt với
việc làm của mình, có hành vi ứng xử đúng đắn, có tấm lòng nhân đạo, bao dung.
Không chỉ vì một số ít thanh niên có thái độ và việc làm không hợp lí mà đánh giá
sai toàn bộ thanh niên.
+ Phê phán: Một vài hiện tượng tiêu cực “lãng phí chiếc bánh thời gian” vào
những việc vô bổ, không làm được gì cho bản thân, gia đình, bạn bè, những người
cần được quan tâm, chia sẻ.
+ Kêu gọi: Thanh niên, học sinh ngày nay hãy noi gương Nguyễn Hữu Ân để
thời gian của mình không trôi đi vô ích.
Kết bài
- Bày tỏ suy nghĩ riêng của người viết đối với hiện tượng.
Hoạt động 2 :
19
- GV cho HS đọc phần Ghi nhớ sách giáo khoa và tiến hành chia nhóm thảo
luận (mỗi nhóm 4HS), thời gian 10 phút, tiến hành lập dàn ý đề bài 2, 3. GV kiểm
tra, quan sát định hướng. Sau đó, cho các nhóm trình bày và nhận xét. GV chốt ý,
ghi bảng.
3. Nội dung 3 : Luyện tập.
Hoạt động 1 :
- GV hướng dẫn HS về nhà làm bài tập 1 sách giáo khoa, trang 67, 68 theo định
hướng.
a. Nguyễn Ái Quốc bàn về hiện tượng:
- Sự lãng phí thời gian của thanh niên An Nam. Hiện tượng ấy diễn ra vào
những năm đầu thế kỉ XX. Với hoàn cảnh xã hội nước ta ngày nay, hiện tượng ấy
+ Nguồn thức ăn
+ Bầu không khí
+ Rừng
22
Sau khi HS trình bày những yếu tố của môi trường sống, GV yêu cầu HS về nhà
lập dàn ý đề bài : Hãy trình bày suy nghĩ của mình về tác dụng của môi trường
sống đối với con người.
Hoạt động 3: GV củng cố kiến thức Ghi nhớ SGK và tiến hành chia nhóm 4
HS/ nhóm, yêu cầu về nhà tìm hiểu và viết một bài nghị luận về tấm gương Người
tốt, việc tốt; tấm gương giàu lòng nhân ái (chăm sóc người già, neo đơn, người tàn
tật, người bệnh nặng . . . .). Bài viết khoảng 400 từ. Tuần sau lớp chúng ta thực
hành, mỗi nhóm trình bày bài viết của mình, các nhóm nhận xét, GV chấm điểm.
3. Thực hiện trên lớp
Sau khi xây dựng hoàn thành thiết kế bài học, GV tiến hành thực hiện trên lớp.
Tiến hành theo từng nội dung đã xây dựng trong thiết kế bài học.
Lưu ý :
Đây là bài học kết hợp Công nghệ Thông tin với trình bày bảng nên giáo viên
cần kết hợp linh hoạt giữa viết bảng và trình chiếu.
23
Chương 4: Kiểm chứng các giải pháp đã được triển khai
1. Tính hiệu quả của đề tài.
- Quá trình ứng dụng đề tài vào dạy học trong năm học 2013 – 2014 cho các
lớp: 12A5; 12A6, 12A7 đạt một số hiệu quả sau :
Đáp ứng được phương pháp dạy học tích cực.
Tạo được hứng thú, phản ứng nhanh nhạy cho học sinh hiểu rõ, hiểu sâu,
hiểu đúng bản chất của từng hiện tượng đời sống.
Tránh sự nhàm chán trong quá trình tiếp nhận tri thức của học sinh. Vì thiết
kế bài học GV sử dụng hình ảnh, những câu chuyện người thật việc thật mang
tính thời sự, gần gũi đang được xã hội quan tâm chia sẻ, đặc biệt là ở lứa tuổi thanh
niên và học sinh.