skkn hướng dẫn nhận diện đề và cách làm bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống - Pdf 23

MỤC LỤC
Trang
PHỤ LỤC 1
PHẦN I - MỞ ĐẦU 3
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Mục đích nghiên cứu 4
3. Mục tiêu nghiên cứu 4
4. Đối tượng nghiên cứu 4
5. Phạm vi nghiên cứu 4
6. Phương pháp nghiên cứu 4
7. Đóng góp mới của đề tài 4
PHẦN II - NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ VIỆC HƯỚNG DẪN NHẬN
DIỆN ĐỀ VÀ CÁCH LÀM BÀI BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN
TƯỢNG ĐỜI SỐNG 5
I. Cơ sở của việc chọn sáng kiến 5
1. Cơ sở lí luận 5
2. Cơ sở thực tiễn 5
II. Đặc điểm nghiên cứu 6
1. Tình hình nghiên cứu 6
2.
Đặc điểm đối tượng, địa bàn nghiên cứu và đánh giá thực trạng 6
III. Hệ thống lí thuyết làm văn nghị luận về một hiện tượng đời sống 8
1. Khái niệm 8
2. Các thao tác lập luận cơ bản 8
3. Nội dung cơ bản 8
CHƯƠNG 2. HƯỚNG DẪN NHẬN DIỆN ĐỀ VÀ CÁCH LÀM BÀI VĂN
NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG 9
1. Nhận diện đề 9
1
2. Thực hành tìm ý và lập dàn ý 10

đời sống, tránh cách làm bài máy móc, chung chung. Ví dụ: cùng liên quan đến
một hiện tượng đời sống như “Internet” đối với thanh niên - học sinh hiện nay,
tùy theo yêu cầu cụ thể của đề bài mà xác định “liều lượng” của các ý. Chẳng
hạn đề bài yêu cầu trình bày suy nghĩ về vai trò của Internet, cần nhấn mạnh tác
dụng, vai trò quan trọng của Internet. Trong khi đó, lại phải chú ý nhiều hơn đến
mặt hạn chế, tác động tiêu cực của nó đối với đề bài có yêu cầu trình bày trước
hiện tượng “nghiện” Internet trong thanh niên – học sinh hiện nay…
Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy rằng học sinh chưa chú ý đến
dạng đề bài này đồng thời các em chưa biết cách nhận dạng yêu cầu của đề bài,
cũng như chưa biết cách làm bài văn về một hiện tượng đời sống. Sau một thời
gian nghiên cứu tìm tòi và thể nghiệm, qua đề tài khiêm tốn này tôi muốn đề
3
xuất một phương án nhằm hướng dẫn học sinh nhận dạng đề và cách làm bài
văn về một hiện tượng đời sống.
2. Mục đích nghiên cứu.
- Giúp giáo viên nhận thấy việc hướng dẫn học sinh nhận diện đề và
phương pháp làm bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống là hợp lý và cần
thiết
- Giúp học sinh nhận diện được đề và có phương pháp làm bài văn nghị
luận về một hiện tượng đời sống có hiệu quả cao.
3. Mục tiêu nghiên cứu.
Nghiên cứu cách hướng dẫn học sinh nhận diện đề và cách làm bài văn nghị
luận về một hiện tượng đời sống.
4. Đối tượng nghiên cứu.
Môn Ngữ văn lớp 9 ; Học sinh khối 9.
5. Phạm vi nghiên cứu:
* Giới hạn đối tượng nghiên cứu : Chỉ nghiên cứu về việc giúp học sinh
nhận diện đề và cách làm bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống.
* Giới hạn địa bàn nghiên cứu : Khối lớp 9, trường Phổ thông Dân tộc nội
trú Tây Nguyên.

thuyết khi làm bài cho HS, từ đó có thể phát huy tính tự giác tích cực của học
sinh.
Qua thực tiễn giảng dạy tôi thấy rằng việc hướng dẫn các em nhận diện đề
và cách làm bài văn về một hiện tượng đời sống ngay từ cấp Trung học cơ sở
(THCS) sẽ tạo tiền đề để khắc sâu kiến thức, làm bước đệm vững chắc cho các
em ở cấp Trung học phổ thông (THPT).
2. Cơ sở thực tiễn.
Trong thực tế, văn nghị luận nói chung và nghị luận về một hiện tượng
đời sống nói riêng được đưa vào chương trình phổ thông ở cả hai cấp học
(THCS và THPT) với vị trí trọng yếu trong thể loại văn bản, được lựa chọn đưa
vào tìm hiểu và rèn luyện kỹ năng thành lập.
Nhưng nhìn chung, chương trình THCS chỉ mang tính giới thiệu và thực
hành ở mức độ sơ giản, chưa tập trung vào việc khắc sâu tri thức và rèn luyện
5
kỹ năng làm bài dạng nghị luận này. Đến cấp THPT, chương trình lớp 11 có tập
trung vào nghị luận về một hiện tượng đời sống nhưng chỉ mang tính tích hợp
cho đến lớp 12 mới chỉ tái hiện lại cách làm bài qua hai bài lý thuyết. Vì thế,
trong quá trình dạy học cả hai cấp học, tôi nhận thấy thực tế đến lớp 12 học sinh
vẫn còn rất mơ hồ với việc nhận diện dạng đề và phương pháp làm một bài văn
nghị luận về một hiện tượng đời sống, vì vậy để các em nắm vững kiến thức về
cách nhận diện đề và cách làm bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống
nhằm làm bước đệm vững chắc cho các em học ở chương trình THPT, trong quá
trình giảng dạy bộ môn Ngữ văn lớp 9, tôi mạnh dạn áp dụng ý tưởng của mình
về việc giúp các em nhận diện đề và phương pháp làm bài văn nghị luận về một
hiện tượng đời sống và bước đầu đã có hiệu quả.
II. Đặc điểm nghiên cứu.
1. Tình hình nghiên cứu
Cùng hướng với đề tài này đã có một số đề tài, sách đề cập tới như:
Hướng dẫn ôn thi tốt nghiệp THPT phần nghị luận xã hội - NXB Giáo
dục 2008 - Nguyễn Hoàng Vinh

Tổng số 100,0
Về độ tuổi sau khi khảo sát thống kê:
(Bảng phân bố phần trăm độ tuổi học sinh được nghiên cứu)
(%)
Độ tuổi %
15 55,4
16 38,3
17 4,2
18 2,1
Tổng số 100,0
Số học sinh có độ tuổi 15 chiếm tỉ lệ cao nhất (55,4%), độ tuổi 16 đứng thứ
2 (38,3%), độ tuổi tương đối lớn đối với học sinh lớp 9 là 17chiếm tỉ lệ ( 4,2%).
Ngoài ra, HS ở độ tuổi 18 chiếm tỉ lệ thấp (2,1%). Có sự khác biệt độ tuổi của
học sinh do đặc điểm có nhiều em đi học muộn, chủ yếu các em là dân tộc thiểu
số. Đặc điểm về độ tuổi cũng ảnh hưởng tới khả năng tiếp thu bài của học sinh.
Về học lực học kì 1: học lực chiếm đa số đó là học sinh có mức học TB
(48,0%), Số học sinh còn yếu chiếm tới 33,3%, Học sinh khá chiếm tỉ lệ 13,7%,
học sinh giỏi chỉ đạt 1,0%. Tỷ lệ học sinh trung bình và yếu còn cao, vẫn còn
học sinh kém.
(Bảng phân bố phần trăm học lực học kì I của học sinh được nghiên cứu)
(%)
Học lực %
Giỏi 1,0%
Khá 13,7
Trung bình 48,0
Yếu 33,3
Kém 3,9
Tổng số 100,0
7
Về hạnh kiểm học kì 1 :

8
- Phân tích mặt đúng, mặt sai, mặt tích cực, mặt tiêu cực, mặt lợi, mặt hại
…của hiện tượng đời sống .
- Chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến của người viết về hiện
tượng xã hội đó.
CHƯƠNG 2. HƯỚNG DẪN NHẬN DIỆN ĐỀ VÀ CÁCH LÀM BÀI VĂN
NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG
1. Nhận diện đề.
Trước bất cứ đề nghị luận nào, giáo viên đều phải hướng dẫn học sinh đọc
kỹ, gạch chân những từ quan trọng và tự đặt ra câu hỏi.
- Vấn đề đặt ra trong đề bài là gì?
- Cần sử dụng thao tác nào để nghị luận ?
Đối với đề bài dạng nghị luận về một hiện tượng đời sống có ba dạng :
- Dạng 1 : Dạng đề bài bàn về một hiện tượng đời sống có tính chất tiêu
cực.
- Dạng 2 : Dạng đề bài bàn về một hiện tượng đời sống có tính chất tích
cực.
- Dạng 3 : Dạng đề bài bàn về một hiện tượng đời sống có cả tính chất tích
cực và tiêu cực.
Vì vậy, việc giúp các em nhận diện được đề bài yêu cầu thuộc dạng nào là
rất quan trọng.
2. Thực hành tìm ý và lập dàn ý.
Thực hành tìm ý và lập dàn ý sẽ định hướng cho nội dung bài viết một
cách đầy đủ, logic, khoa học, giúp người viết làm chủ nội dung và thời gian.
Đối với mỗi dạng, mỗi đề bài có một cách tiến hành tìm ý và lập dàn ý
khác nhau. Tùy thuộc vào mỗi dạng đề bài để có dàn ý khái quát cho phù hợp.
9
a. Mở bài
- Giới thiệu hiện tượng đời sống cần nghị luận.
- Xác định vấn đề đặt ra cần nghị luận trong hiện tượng.

+ Phấn : Phấn đấu, bày tỏ thái độ của bản thân về hiện tượng đời
sống đã nghị luận.
3. Hướng dẫn cụ thể.
3.1 Gợi ý dạng đề bài bàn về một hiện tượng đời sống có tính chất
tiêu cực.
Đề bài : Ý kiến của anh / chị về nạn bạo hành trong xã hội.
* Gợi ý :
- Miêu tả hiện tượng :
+ Nạn bạo hành – sự hành hạ, xúc phạm người khác một cách thô bạo, làm
ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần của người khác.
+ Nạn bạo hành thể hiện ở nhiều góc độ, nhiều phương diện của đời sống xã
hội : Không chỉ là sự hành hạ thể xác người khác bằng bạo lực mà còn hành hạ
về tinh thần. Nạn bạo hành diễn ra trong gia đình, trường học, xã hội ; phụ nữ,
trẻ em thường là nạn nhân của nạn bạo hành.
- Nguyên nhân của hiện tượng :
+ Do bản tính hung hăng, thiếu kiềm chế của một số người.
+ Do ảnh hưởng của phim ảnh mang tính bạo lực ( nhất là tầng lớp thanh
thiếu niên).
+ Do áp lực cuộc sống.
+ Do sự thiếu kiên quyết trong việc xử lí nạn bạo hành.
- Tác hại to lớn của hiện tượng.
+ Làm tổn hại tới sức khỏe, tinh thần của con người.
+ Làm ảnh hưởng tới tâm lí, sự phát triển nhân cách, đặc biệt là tuổi trẻ.
- Ý kiến, thái độ của bản thân.
+ Cần lên án đối với nạn bạo hành.
11
+ Cần xử lí nghiêm khắc hơn với những người trực tiếp thực hiện hành vi
bạo hành.
+ Cần quan tâm, giúp đỡ kịp thời đối với nạn nhân của bạo hành.
3.2 Gợi ý dạng đề bài bàn về một hiện tượng đời sống có tính chất

bệnh khá trầm trọng và phổ biến hiện nay. Nó thể hiện qua một số biểu hiện
chính sau:
• Xin điểm, chạy điểm.
• Mua bằng cấp.
• Xin chạy cho con vào trường chuyên, lớp chọn.
• Thi hộ, thi thuê.
• Chạy chức, chạy quyền…
+ Bệnh thành tích trong giáo dục:
• Báo cáo không đúng thực tế.
• Bao che khuyết điểm để lấy thành tích.
• Coi trọng số lượng chứ không coi trọng chất lượng.
• HS: Học để lấy bằng cấp, phát biểu chỉ để được cộng điểm…
• Số Giáo sư, Tiến sĩ, các nhà khoa học nhiều nhưng ít có những cải tiến
sáng tạo.
- Phân tích đúng, sai, lợi, hại.
+ Lợi: trước mắt cho cá nhân - không cần bỏ công sức nhiều nhưng vẫn
đạt kết quả cao.
+ Hại: để lại hậu quả nghiêm trọng và lâu dài.
• Các thế hệ học sinh được đào tạo ra không có đủ trình độ để tiếp cận
với công nghệ hiện đại, đất nước ít nhân tài.
• Tạo thói quen cho học sinh ngại học, ngại thi, ngại sáng tạo.
• Tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội.
- Nguyên nhân của hiện tượng.
+ Do gia đình: Không muốn con vất vả mà vẫn đạt kết quả cao.
+ Do nhà trường: Muốn học sinh có thành tích cao để báo cáo.
+ Do xã hội: Hệ thống luật chưa nghiêm, chưa cụ thể, chưa thực sự coi
trọng nhân tài, nhận thức của nhiều người còn hạn chế…
13
- Cách khắc phục.
+ Phải giáo dục nhận thức cho học sinh và toàn thể xã hội để họ nhận thức

một hiện tượng đời sống giúp các em trong quá trình ôn tập, kiểm tra, nhận diện
14
được yêu cần của đề bài nhanh hơn, làm bài đạt kết quả cao hơn. Sau khi hướng
dẫn học sinh cách nhận diện đề và cách làm bài văn về một hiện tượng đời sống,
kết quả về khả năng nhận diện đề của học sinh như sau:
( Bảng phân bố phần trăm kết quả khảo sát của giáo viên về khả năng nhận diện đề đối với
học sinh)
( %)
Mức độ nhận diện %
Nhận diện và làm bài nhanh 68,8
Nhận diện và làm bài chậm 25,2
Không nhận diện được đề và
không biết cách làm bài
5,0
Tổng số 100,0
2. Khảo nghiệm tính khả thi.
Nếu trong tiết học, giáo viên có hướng dẫn tỉ mỉ học sinh cách nhận diện
đề và cách làm bài thì học sinh sẽ cảm thấy nắm vững cách nhận diện đề và
cách làm bài ở mức độ:
( Bảng phân bố phần trăm ý kiến học sinh về mức độ nắm kiến thức và nhận diện đề)-( %)
Ý kiến %
Nhiều 74,0
Trung bình 15.0
Ít ( lơ mơ) 11,0
Không 0,0
Tổng số 100,0
Như vậy, giáo viên đã hướng dẫn học sinh cách nhận diện đề và làm bài
văn về một hiện tượng đời sống, nhưng theo các em vẫn còn 11% ý kiến về mức
độ nhận diện đề và biết cách làm bài đang còn lơ mơ và qua kết quả khảo sát có
5% học sinh không nhận diện được đề, không làm được bài. Giáo viên cần tăng

1. Kết luận.
Tóm lại, đối với học sinh nằm ở lứa tuổi 15 - 16 về tâm sinh lí chưa phát
triển toàn diện, khả năng suy luận chưa cao, vì vậy việc cung cấp các bài lí
thuyết này không phải dễ dàng. Do đó, đối với giáo viên đứng lớp phải sáng tạo
trong cách dạy, phải bằng mọi phương pháp hình thành trong nhận thức của các
em, giúp cho các em sau khi học xong phần văn nghị luận về một hiện tượng đời
sống có sự hình dung dạng văn nghị luận này khác với các dạng văn khác mà
các em đã học.
Vì vậy, việc hướng dẫn các em nhận diện đề và cách làm bài văn nghị
luận về một hiện tượng đời sống hiệu quả cũng là một quá trình giáo dục về
nhân cách cho các em, giúp các em thấy yêu văn thơ hơn
Trên đây là kết quả tìm tòi nghiên cứu và khảo nghiệm về một vấn đề
mang tính cấp thiết, tìm hướng đi hiệu quả cho việc hướng dẫn các em có thể
làm bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống có hiệu quả tốt nhất. Đặc biệt,
đây là một phần hết sức quan trọng trong rèn luyện kỹ năng thành lập văn bản,
đặc biệt đây là một phần không thể thiếu trong bài thi tốt nghiệp THPT sau này
của học sinh.
Chính vì thế, ngay từ cấp THCS việc hướng dẫn các em nhận diện đề và
cách làm bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống sẽ làm bước đệm vững
chắc và khắc sâu kiến thức cho các em sau này.
2. Kiến nghị.
* Đối với giáo viên.
Sự tích lũy kiến thức xã hội của học sinh là một quá trình lâu dài và chậm
chạp, không thể tích lũy một sớm một chiều mà là cả một quá trình trải nghiệm,
tiếp nhận kiến thức. Vì thế nói hướng dẫn tích lũy kiến thức xã hội trong một
thời gian ngắn quả là điều không tưởng. Tuy vậy, giáo viên phải biết định hướng
vùng kiến thức để các em kịp thời xâu chuỗi, bổ sung thông qua sách vở, các
phương tiện thông tin đại chúng, bạn bè, người thân, thầy cô…
17
Trong thời điểm hội nhập quốc tế và kinh tế thị trường nảy sinh nhiều vấn

6. Hạnh kiểm:……………………………………………………
B.NHẬN THỨC – THÁI ĐỘ - HÀNH VI CỦA HỌC SINH ĐỐI VỚI VIỆC
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN NHẬN DIỆN ĐỀ VÀ CÁCH LÀM BÀI VĂN
VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG
I. NHẬN THỨC - THÁI ĐỘ
7. Theo em việc giáo viên hướng dẫn nhận diện đề và cách làm bài văn về một
hiện tượng đời sống có cần thiết cho em trong quá trình học và làm văn không?
a-Có
b-Không
8. Nếu có thì việc giáo viên hướng dẫn cách nhận diện đề và làm bài văn về một
hiện tượng đời sống sẽ giúp em những gì trong quá trình học? (Xếp thứ tự từ
giúp ích nhiều nhất đến giảm dần)
a-Có sự say mê học môn văn .
b-Tự tin trong khi làm bài khi gặp các dạng đề khác nhau
c- Yêu thích và thường xuyên sưu tầm tư liệu về các vấn đề xã hội .
d-Kiến thức xã hội ngày càng phong phú.
19
Thông tin học sinh được phỏng vấn:
1. Họ và tên HS được PV: ……………………………
2.Tuổi:…………………………………………………
3. Giới tính:……………………………………………
4. Dân tộc: …………………………………………….
e-Có kết quả học tập tốt
f-Hoàn thiện hệ thống kiến thức chương trình THPT
9. Theo em yếu tố quan trọng trước tiên tạo nên một bài làm văn có hiệu quả
phụ thuộc vào?
a-Viết dài
b-Viết ngắn
c- Đúng trọng tâm đề
d- Liên hệ thực tế

theo em giáo viên cần làm gì ? Phụ lục 2
21
GỢI Ý MỘT SỐ ĐỀ NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG
Đề 1: Có ý kiến cho rằng: Phải vào đại học mới có tương lai. Suy nghĩ của anh
chị về vấn đề này.
- Tầm quan trọng của bậc học đại học.
+ Đối với đất nước, xã hội.
+ Đối với cá nhân.
- Vào đại học là có tương lai: Đại học là con đường lí tưởng dẫn đến thành công.
+ Đại học không phải là con đường duy nhất đưa đến thành công.
- Lí luận.
- Dẫn chứng.
- Liên hệ:
Là học sinh đang đứng trước những kì thi căng thẳng em xác đinh thái độ, tâm lí
và hành động như thế nào?
Đề 2: Suy nghĩ về hiện tượng nghiện Karaoke và Internet trong một bộ phận
giới trẻ hiện nay.
+ Giải thích:
- Nghiện
- Karaoke
- Internet
+ Vai trò, ý nghĩa của Karaoke và Internet đối với đời sống của con người, nhất
là của giới trẻ.
- Bối cảnh xã hội: kỉ nguyên của công nghệ.

+ Khái niệm môi trường.
+ Vai trò của môi trường đối với đời sống con người.
+ Thực trạng:
- Thế giới
- Việt Nam
+ Hậu quả:
- Cản trở sự phát triển kinh tế
- Gây ra những căn bệnh hiểm nghèo, đe doạ nghiêm trọng đời sống con người.
23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập 1, tập 2 – NXB Giáo dục – năm 2009.
2. Sách giáo viên Ngữ văn 12, tập 1, tập 2 – NXB Giáo dục – năm 2009.
3. Sách giáo khoa Ngữ văn 9, tập 2, tập 2 – NXB Giáo dục – năm 2009.
4. Sách giáo khoa Làm văn 9, tập 2 – NXB Giáo dục – năm 2009.
5. Sách giáo viên Làm văn 9, tập 2 – NXBGiáo dục – năm 2009.
6. Sách giáo khoa Làm văn 12, tập 2 dành cho ban xã hội – NXB Giáo dục –
1996.
7. Rèn luyện kỹ năng nghị luận – Bảo Quyến – NXB Giáo dục – 2003.
8. Muốn viết được bài văn hay – Nguyễn Đăng Mạnh – NXB Giáo dục – 1994.
9. Văn bồi dưỡng học sinh năng khiếu - Nguyễn Đăng Mạnh , Đỗ Ngọc Thống –
NXB Giáo dục – 1997.
10. Dạy văn ở trường phổ thông – Nguyễn Thị Thanh Hương – NXB ĐHQG Hà
Nội – 2001.
11. Từ điển tiếng Việt điện tử: - http://www.informatik.uni-leipzig.de/
12. Từ điển tiếng Việt điện tử : - http://vnthuquan.net/
13. Một số bài viết trên các tạp chí điện tử:
- http://phongdiep.net/;
- http://phanthanhvan.vnweblogs.com/
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status