SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LÀO CAI
TRUNG TÂM GDTX VĂN BÀN
ĐỀ TÀI NCKHSPƯD
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIẢNG DẠY KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN
TƯ TƯỞNG ĐẠO LÍ
TẠI TRUNG TÂM GDTX VĂN BÀN
Họ tên: Hoàng Thị Kim Cúc
Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn
Tổ chuyên môn: Khoa học xã hội
Đơn vị: Trung tâm GDTX Văn Bàn – Lào Cai
Văn Bàn, ngày 20 tháng 4 năm 2014
Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
I.
Lý do chọn đề tài
Dạy học môn Ngữ văn trong trong nhà trường THPT không chỉ là việc
giúp cho học sinh nắm được kiến thức của tác phẩm văn học mà quan trọng hơn
là giúp học sinh biết vận dụng kiến thức tổng hợp của liên môn vào cảm thụ,
nhận xét, đánh giá, phân tích và bình luận những áng văn hay; rèn cho học sinh
khả năng tự mình đi vào thẩm thấu thế giới của văn chương.Từ đó, tiếp tục rèn
luyện kĩ năng lập luận hành văn trong sáng, mạch lạc, kĩ năng đặt câu dùng từ
đúng, trúng, có thần, có sức gợi để viết được những bài nghị luận văn học có giá
trị.
Đáp ứng yêu cầu của thực tiễn chương trình chỉnh lí sách giáo khoa hiện
III. Đối tượng nghiên cứu
- Học viên lớp 12A1 và 12A3 tại Trung tâm GDTX Văn Bàn
- Từ quá trình nghiên cứu, kiểm chứng thực tế tại trung tâm GDTX Văn Bàn,
đề tài hướng tới đối tượng nghiên cứu: Một số cách thức tổ chức nâng cao
hiệu quả giảng dạy kiểu bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí tại Trung tâm
GDTX Văn Bàn .
IV. Giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu
- Một số vấn đề lí luận về phương pháp, cách thức dạy học Ngữ văn, đặc biệt là
phương pháp dạy học Làm văn.
- Một số vấn đề phương pháp, cách thức về cách làm bài nghị luận về một tư
tưởng đạo lí.
- Thực trạng giảng dạy Làm văn nói chung và kiểu bài nghị luận tư tưởng, đạo lí
nói riêng tại Trung tâm GDTX Văn Bàn.
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy kiểu bài nghị luận về
một tư tưởng, đạo lí tại Trung tâm GDTX Văn Bàn.
V.Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp một số vấn đề về lí luận liên quan đến nội dung của đề tài: phương
pháp dạy học, đặc điểm loại hình kiểu bài làm văn, một số thuật ngữ văn học liên
quan, tâm lí lứa tuổi, lôgic học...
- Tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn trong giảng dạy Làm văn nói chung và
kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí nói riêng đối với cả giáo viên và học
viên tại Trung tâm GDTX Văn Bàn.
3
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của giờ dạy học kiểu bài
Nghị luận về một tư tưởng đạo lí tại đơn vị.
VI. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết.
Lôgíc học là một môn khoa học nghiên cứu về tư duy con người, các quy
tắc hoạt động, các qui luật và hình thức của tư duy nhằm nhận thức đúng đắn thế
giới khách quan. Phép suy luận lôgíc là hình thức cơ bản nhất của tư duy nhằm
phản ánh chân thật hiện thực khách quan.
Vì vậy việc coi lô gíc học là một trong những tiền đề của việc làm văn là
hoàn toàn có cơ sở. “Lí luận và tư duy lôgíc là đặc trưng nổi bật của văn nghị
luận” , “Nghị luận là vận dụng tư duy và ngôn ngữ. Khoa học về tư duy là lôgíc
học, khoa học về ngôn ngữ là ngôn ngữ học. Song không nhất thiết phải giỏi
lôgíc mới suy nghĩ đúng và phải thạo ngôn ngữ mới nói viết tốt… Tuy vậy, cũng
cần biết qua một vài thao tác chính của văn nghị luận” Bởi vậy gắn với tư duy
lôgíc là nguyên tắc nổi bật của bộ môn làm văn. Tư duy sắc sảo sẽ giúp người
viết phân tích thấu đáo, cặn kẽ và khái quát đầy đủ, chính xác đồng thời thể hiện
khả năng làm chủ, kiến giải và xử lí vấn đề của mình.
I.1.2. Về tâm lí học lứa tuổi
Mục đích của việc dạy học không chỉ dừng lại ở việc cung cấp kiến thức
khoa học mà còn phát triển năng lực tư duy, hình thành kĩ năng, kĩ xảo cho học
sinh bởi “phương pháp dạy học hiện đại không phải là đưa cho học sinh đáp số
mà phải chỉ cho học sinh con đường ngắn nhất đến đáp số”. Nếu chỉ cung cấp
cho học sinh kiến thức về văn học thì chưa đủ mà cần thiết phải kết hợp rèn rũa
kĩ năng vận dụng thực hành cho học viên. Vấn đề là dạy học phải đáp ứng nhu
cầu học sinh và chú trọng đến tính vừa sức đối với lứa tuổi học viên GDTX.
Với đặc điểm học viên Trung tâm GDTX Văn Bàn lứa tuổi rất đa dạng
khoảng từ 18 đến 48 tuổi, lứa tuổi này không đồng đều như học sinh Trường
THPT( tuổi từ 16 đến 18 tuổi). Hơn nữa đa phần học viên GDTX không chỉ có
nhiều tuổi, họ vừa học vừa làm, tư duy trí tuệ không còn là giai đoạn tốt nhất để
dành cho việc học và nhiều học viên yếu, kém. Cũng từ đó mà việc tiếp cận, đọc
5
hiểu cảm nhận và tiếp thu một tác phẩm văn học đã khó việc vận dụng kĩ năng
Đề văn nghị luận xã hội là đề yều cầu trình bày những hiểu biết những
lĩnh vực trong đời sống xã hội, tư tưởng đạo lí. Viết bài này tức là người ra đề
muốn “kiểm tra” sự hiểu biết của người viết về vấn đề mà đề bài yêu cầu, từ đó
giáo dục kĩ năng sống cho học sinh.
Ví dụ:
- Suy nghĩ của anh/chị về hiện tượng ô nhiễm môi trường hiện nay?
- Suy nghĩ của anh/ chị về câu nói sau: “Mất tiền bạc mất it, mất danh dự mất
nhiều, mất niềm tin là mất tất cả”.
Yêu cầu về hình thức, phạm vi tư liệu không phải lúc nào cũng được nêu
trong đề. Đối với dạng đề mở, người viết phải tự xác định phương thức biểu đạt
chính, phạm vi sử dụng tư liệu phục vụ cho yêu cầu của đề.
III.3.2. Các loại đề văn nghị luận xã hội
Căn cứ vào đề tài bàn luận Kiểu bài nghị luận xã hội có có thể chia đề văn
nghị luận xã hội thành 3 loại như sau:
- Nghị luận về một hiện tượng trong đời sống: Đối tượng của kiểu bài này là
những hiện tượng xảy ra trong đời sống, đặc biệt là các hiện tượng liên quan đến
giới trẻ. Trong những hiện tượng đời sống đó có hiện tượng tích cực, có hiện
tượng tiêu cực đến con người. Đối với loại bài này giúp cho học sinh có ý thức
quan tâm và có thái độ đúng đắn trước các hiện tượng đang xảy ra xung quanh.
Ví dụ: Suy nghĩ của anh/chị về hiện tượng nghiện Game oline trong giới
trẻ.
- Nghị luận về một vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học: Đối tượng kiểu bài
này là ý nghĩa xã hội nào đó đặt ra trong tác phẩm văn học. Giải quyết đề văn
này, học sinh có cơ hội được bộc lộ năng lực đọc – hiểu tác phẩm, những hiểu
biết, những kiến thức về xã hội.
Ví dụ: Trong truyện ngắn “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành, cụ Mết
nói: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo mác!”. Phải chăng đó là chân
lí của đời sống.
Phương án này được thay thế cho cấu trúc đề trước đây là cấu trúc đề thi
tốt nghiệp Bổ túc THPT ghi đề thi gồm 03 câu (Theo cuốn cấu trúc đề thi môn
Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Ngoại ngữ năm 2009 – NXB Giáo dục do Nguyễn An
Ninh chủ biên, môn Ngữ văn quy định):
8
+ Câu 1 (2,0 điểm): Tái hiện kiến thức về giai đoạn văn học, tác giả, tác phẩm
văn học Việt Nam và tác giả, tác phẩm văn học nước ngoài.
+ Câu 2 (3,0 điểm): Vận dụng kiến thức xã hội và đời sống để viết bài nghị luận
xã hội.
+ Câu 3 (5,0 điểm): Vận dụng kĩ năng đọc hiểu và kiến thức văn học biết bài văn
nghị luận văn học.
Từ cấu trúc đề thi mới cho thấy nghị luận xã hội là một phần rất quan
trọng mà trong đó cần vận dụng kĩ năng làm bài nhuần nhuyễn với kiến thức đa
dạng, phong phú mà chính học sinh qua trải nghiệm mà có được để tích hợp vào
bài viết của mình. Bên cạnh kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống thì
không thể không kể đến kiểu bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí.
- Về chương trình: Theo phân phối chương trình GDTX cấp THPT (do Sở Giáo
dục và đào tạo Lào Cai biên soạn ) môn Ngữ văn thực hiện từ năm học 2011 –
2012 thì tới lớp 12 nghị luận xã hội mới chính thức được đưa thành bài học và
hướng dẫn cách thức làm bài, cụ thể như sau:
- Nghị luận về một hiện tượng đời sống: 02 tiết (Trong đó 01 tiết lí thuyết, 01
tiết thực hành)
- Nghị luận về một tư tưởng đạo lí: 02 tiết (Trong đó 01 tiết lí thuyết, 01 tiết thực
hành)
- Nghị luận về một vấn đề bàn về văn học: 0 tiết
Từ số tiết ít ỏi đó cho thấy, bài học nghị luận xã hội rất quan trọng nhưng
số tiết được giảng dạy rất ít mà trong các đề thi, bài kiểm tra luôn có những câu
cả nguyên lí học đi đôi với hành và phân môn bộc lộ rõ nét hơn cả nhân cách
học sinh thì cũng lại là phân môn đang chịu bạc bẽo…” [67,213].
Về phía giáo viên, xem thường giờ Làm văn. Hiện tượng học vẹt, giờ lên
lớp đơn điệu, giáo viên vẫn nặng về giảng giải còn học sinh thụ động ngồi nghe
và ghi chép vẫn là phổ biến. Giáo viên thường coi nhẹ, ngại dạy Làm văn vì
“khó, khô, khổ”. trong đó có nghị luận xã hội, thậm chí còn có hiện tượng giáo
viên quá sa đà vào giảng dạy tác phẩm văn học, đôi khi còn lấn sang giờ học của
làm văn. Chính điều này người dạy đã khiến cho học sinh không có điều kiện
được tèn luyện kĩ năng làm bài Làn văn nói chung và nghị luận xã hội nói riêng
và quan trọng hơn là học viên không có điều kiện được thực hành vận dụng kiến
thức, kĩ năng tổng hợp vào viết bài văn, khi đó giáo viên cũng không biết học
viên nắm được bài đến đâu và như thế nào.
10
Về phía học viên, nhìn chung có xu hướng không coi trọng môn văn, học
cốt chỉ để thi tốt nghiệp hoặc có học viên lại cho rằng không cần rèn luyện,
không cần có kiến thức vẫn có thể làm bài tốt....Đa số các em chỉ tập trung học
các môn khoa học tự nhiên: Toán , Lý, Hoá,… Đặc biệt các em không hứng thú
và tập trung trong giờ học Làm văn, nên chỉ học một cách khiên cưỡng, thậm chí
dùng giờ học này để học các môn khác hoặc làm việc riêng vì thế kết quả học
tập môn này không cao. Mặt khác, phần lớn các em học viên Trung tâm GDTX
Văn Bàn chưa đảm bảo được mặt bằng kiến thức ở các cấp học trước, không
đồng đều về lứa tuổi. Cho nên giáo viên rất khó áp dụng phương pháp giảng dạy
mới để phát huy tính tích cực, chủ động học viên trong các giờ học nghị luận
văn học, đặc biệt là nghị luận xã hội.
II. 2.2. Thực trạng dạy học Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí tại Trung
tâm GDTX Văn Bàn.
* Thực trạng dạy học kiểu bài Nghị luận về một tư tưởng đạo lí tại Trung
tâm GDTX Văn Bàn.
- Về phía học viên.
Tại trung tâm GDTX Văn Bàn có khoảng 95 % học viên là người dân tộc
thiểu số, sinh sống ở những bản làng vùng sâu vùng xa, có những nơi đặc biệt
khó khăn, trình độ dân trí thấp. Có nhưng học viên “đọc chưa thông, viết chưa
thạo” vẫn đi học là một nỗ lực lớn của học viên. Nhưng cũng chính các em chưa
thành thạo nói, viết việc nắm được kiến thức cơ bản của cách làm bài nghị luận
cũng đã là một việc cố gắng không ngừng.
Việc làm bài tốt nghị luận về tư tưởng, đạo lí là một thách thức lớn đối
với phần lớn học viên trong khi kiểu bài này vừa yêu cầu cần giải thích được
các khái niệm, thuật ngữ mà cần có kiến thức đa dạng của đời sống với tư duy lô
gíc... Không đáp ứng được yêu câu đó cho nên giờ học nghị luận tư tưởng đạo lí
thường “ngán ngẩm” đối với học viên, không phát huy được tính tích cực của
học viên.
* Bảng phân tích số liệu kết quả dạy học kiểu bài Nghị luận về một tư
tưởng đạo lí (khi chưa áp dụng đề tài). Khi giáo viên ra đề bài như sau:
12
“Đường tuy gần không đi không bao giờ đến, việc tuy nhỏ không làm
không bao giờ nên”- Tuân Tử.
Anh/chị hãy viết một bài văn không quá (400 từ) trình bày suy nghĩ về ý
kiến trên.
Kết quả thu được ở 02 lớp 12A1 và 12A3 cụ thể như sau:
Lớp
Sĩ số
Số HV Kết quả thu được
làm bài
47
14
18
09
04
02
Tổng số
75
25
27
16
05
02
Tỉ lệ %
100%
lượng cho thấy kết quả là rất thấp, học viên không hiểu bài, giáo viên chưa cảm
thấy“nặng nề ” khi ra khỏi lớp sau mỗi giờ học Nghị luận về một tư tưởng, đạo
lí phần vì bản thân chưa có đủ kiến thức xã hội phần vì chưa biết nên làm như
thế nào cho học viên hiểu bài và có thể viết bài tốt khi gặp đề bài này.
13
Trăn trở trước thực trạng dạy học Nghị luận xã hội nói chung, Nghị luận
về một tư tưởng, đạo lí nói riêng, thiết nghĩ cần phải có sự nhìn nhận, đánh giá
thực chất vấn đề. Từ đó thay đổi phương pháp dạy học sao cho phù hợp với đối
tượng học viên và nâng cao hiệu quả dạy học kiểu bài này. Trải qua thời gian
tìm hiểu, nghiên cứu và kiểm nghiệm thực tế giảng dạy, bản thân đã bước đầu
thấy hiệu quả giờ học có sự chuyển biến tích cực, thông qua đề tài người viết
muốn đề xuất một số cách thức dạy học nâng cao hiệu quả giảng dạy kiểu bài
Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
Chương III:
14
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY KIỂU BÀI
NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG ĐẠO LÍ TẠI TRUNG TÂM GDTX
VĂN BÀN.
Một trong những nguyên tắc quan trọng cần được chú ý trong giảng dạy Làm
văn là làm sao thông qua bài học tạo điều kiện cho học viên được thực sự được
bộc lộ ý kiến, quan điểm của mình trước những vấn đề xã hội.
Dạy học kiểu bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí cũng được tiến hành theo
trình tự giờ học nghị luận xã hội nói chung, đề tài không chủ đích đi sâu theo
tiến trình tổ chức giờ học mà chú trọng sự hướng dẫn của giáo viên đối với học
bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
- Yêu cầu về nội dung: Con người là kết tinh vẻ đẹp tinh túy nhất.
- Yêu cầu sử dụng các thao tác lập luận: giải thích, chứng minh, bình
luận
- Yêu cầu về phạm vi tư liệu: Đời sống xã hội...
Đối với đặc thù đối tượng học viên có sự khác biệt về vùng miền, văn hóa
và lứa tuổi... giáo viên nhất thiết phải hướng dẫn tìm hiểu đề và xem đó là một
khâu quan trọng nhất là với những đề luyện tập đầu tiên. Thực tế việc làm này
đã được định hình trong quá trình tìm hiểu ngữ liệu khi học lí thuyết, tuy nhiên
nó chưa được gọi tên một cách rõ ràng và mạch lạc, học viên khó hình dung. Vì
thế khi bắt đầu luyện tập học viên cần nắm bắt được một cách chắc chắn và đó
là những thao tác đầu tiên khi nhận được đề bài.
Hơn nữa đề bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí luôn có bài học sâu sắc, ý
nghĩa đối với cuộc sống, với đa số học viên hiểu biết xã hội còn hạn chế nếu
giáo viên không hướng dẫn việc tìm hiểu đề thì việc việc hiểu trúng, hiểu đúng
đề bài thì sẽ rất khó khăn cho học sinh tiếp cận đúng đề. Và nếu không hiểu hết
các tầng hàm nghĩa của tư tưởng, đạo lí sẽ dẫn đến bài viết trở nên nông cạn, hời
hợt, thiếu sức thuyết phục.
III.1.2. Lập dàn ý
Sau khi tìm hiểu đề cũng như phương pháp chung của một bài văn nghị
luận giáo viên hướng dẫn học viên tìm dàn ý cơ bản cho bài viết nhằm tạo ra bộ
khung kiến thức cho ba phần: Mở bài, thân bài và kết bài
* Với phần mở bài giáo viên định hướng cho học viên giới thiệu vấn đề
nghị luận. Ở phần này, với đối tượng học viên (với đặc điểm đã trình bày ở trên),
16
nên hướng dẫn học viên mở bài một cách trực tiếp, giới thiệu vào thẳng vấn đề
và thật sự ngắn gọn, trúng ý.
Ví dụ 2:
/ Mẹ truyền cho ta đời sống tinh thần: biết yêu thương, buồn, vui... (dẫn
chứng)
/Con là máu thịt của mẹ, với mẹ con là tất cả
/Vai trò của người là la vô cùng to lớn đối với con
/ Thật hạnh phúc khi những ai sinh đã có mẹ ở bên và đươc bên mẹ trong
những năm tháng trong cuộc đời.
/ Song thực tế cuộc sống vẫn có những người mẹ vì quá yêu thương mà lại
biến con minh thành một thứ “tầm gửi”, sống ích kỉ, dự dẫm vào người
khác....(dẫn chứng). Hoặc lại có những người con không biết kính trọng,
yêu thương mẹ của mình...
/ Trách nhiệm bổn phận của con cái đối với những người đã sinh thành ra
mình đặc biệt là mẹ....
* Kết bài là đánh giá khái quát ý nghĩa tư tưởng đạo lí được bàn tới.
Vẫn từ đề bài của ví dụ 2 kết bài cần khái quát khẳng định vai trò của
người mẹ, sự dạy dỗ của mẹ là trường học lớn nhất của mỗi con người.
Việc hướng dẫn học viên kĩ lưỡng lập dàn ý cho một đề bài cụ thể, ban đầu sẽ
mất khá nhiều thời gian vì khi mới được làm quen để tìm ra hướng giải quyết đề
bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí học viên còn lúng túng chưa biết nên làm
như thế nào và bắt đầu từ đâu. Để vừa có thể tiết kiệm được thời gian vừa có thể
giải quyết vấn đề nhanh gọn giáo viên cần có sử dụng các phương pháp, kĩ thuật
dạy học tích cực phù hợp với từng lớp, từng đối tượng nhằm huy nhiều học viên
tham gia cùng tìm hiểu đề và lập dàn ý. Giáo viên có thể sử dụng phương pháp
dạy học tích cực: thảo luận nhóm, kĩ thuật khăn trải bàn, đắp bông tuyết.... nhằm
làm cho giờ học làm văn trở nên sinh sinh động, dễ hiểu hơn đối với học viên.
III.2. Hướng dẫn học viên viết bài nghị luận về một tu tưởng đạo lí.
Khi học viên đã hiểu được yêu cầu của đề bài và bước đầu đã có được những
luận điểm của bài viết, tức là học viên đã định hình được hướng đi của bài viết
của mình. Tuy nhiên phần việc quan trọng là lắp ráp hệ thống ý đó thành một
bài văn hoàn chỉnh. Để có thể thành thạo và nhuần nhuyễn ngay đối với học
sinh giỏi còn là một thách thức thì với đối tượng là học viên GDTX còn nhiều
III.2.2. Phần thân bài:Trả lời câu hỏi.
Theo hướng dẫn chung cách làm bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí, phần
thân bài gồm ba luận điểm lớn, là phần trọng tâm kiến thức và yêu cầu vận dụng
19
đa dạng các thao tác lập luận và hiểu biết phong phú của đời sống vào bài viết.
Đồng thời, phần này cũng là phần khó khăn nhất đối với học viên vi không chỉ
yêu cầu đảm bảo được kiến thức mà còn cần tư duy lôgíc, lập luận chặt chẽ
thuyết phục người đọc...
- Giải thích: Nó là gì? Có ý nghĩa như thế nào?
- Bình luận, chứng minh:
+ Câu nói (ý kiến) đúng hay sai (hoặc vừa đúng vừa sai)? Vì sao?(nếu là
một ý kiến/ câu nói/ quan điểm )
+ Biểu hiện của nó như thế nào? Chứng minh
+ Đồng tình, trân trọng hay lên án, phê phán...? Chứng minh
- Là học sinh/ công dân phải làm gì trước những vấn đề đó?
Điều hạn chế của học viên khi viết bài thường chỉ giải thích, bình luận hời
hợt nông cạn, chưa thấu đáo, thậm chí hiểu sai lệch vấn đề cũng có khi biết kiểu
bài này được bộc lộ quan điểm của mình thì nói quá lên không có tác dụng giáo
dục của đề bài mà người ra đề hướng tới. Cũng có trường hợp học viên khi bình
luận chỉ đi theo một chiều (hoặc là tích cực hoặc là tiêu cực) lại không biết nhìn
nhận đánh giá sự việc một cách đa chiều, đa diện. Vì đề nghị luận về một tư
tưởng, đạo lí có những vấn đề đúng, có vấn đề sai, cũng có những câu nói, ý kiến
vừa đúng vừa sai.
Việc đặt ra những câu hỏi mang tính công thức như vậy sẽ giúp cho học
viên dễ dàng trong quá trình triển khai các luận điểm trong phần thân bài. Trả lời
được các câu hỏi đó một cách tuần tự và đầy đủ chắc chắn bài viết của học viên
sẽ được cải thiện và nâng cao lên. Trong quá trình giảng dạy mặc dù giáo viên đã
cố gắng hướng dẫn học viên giải thích, bình luận... nhưng đa phần học viên cũng
trọng, đề cao lợi ích của bản thân mình (ngay cả khi lợi ích của người
khác có mâu thuẫn với lợi ích của bản thân); Đó là lối sống tốt đẹp, đáng
ca ngợi, trân trọng; Nhờ sống vị tha mà cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn,
con người xích lại gần nhau.
- Thái độ và hành động:
+ Ca ngợi những người có lối sống vị tha, phê phán những người ích kỉ;
Với người vị tha cần tránh lạm dụng lòng tốt của họ.
+Chọn lối sống vị tha, tuy nhiên lòng tốt cần được đặt đúng chỗ....
21
Với việc hướng dẫn học viên viết phần thân bài bằng việc trả lời các câu
hỏi để triển khai các luận điểm phần thân bài. Chắc chắn học viên sẽ cảm thấy
phần thân bài dễ dàng hơn và có thể đáp ứng những yêu cầu cơ bản nhất của
phần thân bài đặt ra. Và hiệu quả này đã được chứng minh tại Trung tâm GDTX
Văn Bàn.
III.2.3. Phần kết bài: Nêu cảm nghĩ và khái quát vấn đề.
Về phần kết bài giáo viên cần định hướng cho học viên nêu suy nghĩ và
khái quát ý nghĩa của đề bài đặt ra. Đồng thời cũng qua phần này cần nêu được
giá trị tư tưởng mà đề bài đề cập và nêu suy nghĩ của bản thân trước vấn đề đó.
Để có được một giờ giảng dạy nghị luận về một tư tưởng đạo lí đạt hiệu
quả, phát huy được tính tích cực của học viên tại Trung tâm GDTX Văn Bàn
nhiều năm qua người viết trăn trở và mạnh dạn tìm hiểu, nghiên cứu và kiểm
nghiệm. Có thể với học sinh THPT có những điều đề tài đề cập không còn mới
mẻ. Thậm chí với học sinh THPT tương đối đồng đều về lực học và lứa tuổi...
việc viết được một văn nghị luận xã hội nói chung và nghị luận về một tư tưởng,
đạo lí nói riêng có thể dễ dàng.
Nhưng với đối tượng học viên GDTX có những đặc thù riêng về trình độ
nhận thức, lứa tuổi... Người viết đã trăn trở và cố gắng tìm ra một số cách thức tổ
làm bài
0 -
100%
11.7%
16.9%
42.8%
18.2%
10.4 %
Chia ra
Dưới TB chiếm
Từ TB trở lên chiếm
28.6 %
71.4 %
Nhìn vào bảng số liệu đã cho thấy những con số “biết nói” sau khi áp
dụng thể nghiệm đề tài.
- Lớp 12A1: Đây là lớp học viên học đúng độ tuổi, dù là nhiều học viên học lực
yếu
Nhưng với việc nắm chắc được các bước làm bài nghị luận về một tư tưởng đạo
lí. Kết quả thu được sau khi khảo sát đạt được kết quả có số bài trên TB là 18/27
23
Sau khi áp dụng ĐT
77
(28.6 %)
(71.4 %)
Từ thực trạng chính giảng dạy bộ môn tại chính đơn vị mình, sau khi
nghiên cứu, tìm hiểu đối tượng và lựa chọn cách thức, áp dụng đế tài, kết quả thu
được là khả quan và đã có những chuyển biến tích cực. Từ bảng tổng hợp cho
thấy tỉ lệ đươi TB giảm từ 69.3 % xuống 28.6 % và tỉ lệ trên TB tăng từ 30.7 %
đến 71.4%. Điều đó chứng minh cho tính hiệu quả của đề tài.
Trong quá trình giảng dạy, thể nghiệm đề tài, người viết nhận thấy rằng
học viên ở lớp học viên đúng độ tuổi hay học viên có tuổi việc nhận diện và biết
cách làm bài một cách dễ dàng hơn rất nhiều. Và khi học sinh đã thấy đơn giản
hơn trong quá trình tiếp cận đề bài văn tức là việc lựa chọn cách thức hướng dẫn
học sinh là phù hợp với đối tượng học viên. Đồng thời người dạy cũng đã lựa
chọn được cách thức dạy học tích cực và hiệu quả.
Phần thứ 3: Kết luận và ý kiến đề xuất, kiến nghị
1. Ý nghĩa:
Đổi mới phương pháp dạy học là nội dung quan trọng luôn được đề cập
đến trong bất kì một cuộc hội thảo, cuộc sinh hoạt chuyên môn nào. Trước một
bài giảng giáo viên cần phải lựa chọn những cách thức tổ chức, phương pháp
24
dạy học tích cực sao cho phù hợp với đối tượng người học nhằm làm cho con
đường từ học sinh đến kiến thức ngắn nhất. Việc lựa chọn phương pháp chung
cho cả phân môn hay nhóm bài luôn được giáo viên chú trọng.