MỤC LỤC
Trang
I. Tóm tắt
2
II. Giới thiệu
3
III. Phương pháp
III.1. Khách thể nghiên cứu
4
III.2. Thiết kế nghiên cứu
4
III.3. Quy trình nghiên cứu
5
III.4. Đo lường và thu thập dữ liệu
6
IV. Phân tích dữ liệu và bàn luận kết quả
6
Trăn trở trước những đều đó, người viết đã mạnh dạn chọn đề tài Một số biện
pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy kiểu bài Nghị luận về một tư tưởng đạo lí tại
Trung tâm GDTX Văn Bàn. Chọn đề tài này người viết nhằm đóng góp chút công
sức nhỏ bé của mình đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học kiểu
bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí.
2
Trải qua quá trình tìm hiểu về đặc điểm về khả năng nhận thức, lứa tuổi của
học viên Trung tâm GDTX Văn Bàn. Đồng thời nghiên cứu về kiểu bài nghị luận về
một tư tưởng đạo lí. Người viết đã mạnh dạn đề xuất một số cách thức biện pháp nâng
cao hiệu quả giảng dạy nghị luận về một tư tưởng đạo lí. Thể hiện thông qua việc giáo
viên hướng dẫn học viên tìm hiểu đề, lập dàn ý và hướng dẫn viết bài theo những cách
riêng nhằm đơn giản hóa cách làm bài cho học viên mà vẫn đáp ứng được yêu cầu cơ
bản về kiến thức, kĩ năng làm văn. Cụ thể là
- Phần tìm hiểu đề, lập dàn ý: Giáo viên hướng dẫn học viên có thể nhận diện
được kiểu bài, biết được yêu cầu về nội dung , hình thức và phạm vi sử dụng tư liệu…
của đề bài một cách nhanh nhất, đúng nhất.
- Phần hướng dẫn học viên viết bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí theo ba
phần như sau:
+ Phần mở bài: Trực tiếp, ngắn gọn (2 - 3câu).
+ Phần thân bài: Trả lời các câu hỏi: Giáo viên hướng dẫn viết này bằng cách
đơn giản hóa bằng các câu hỏi. Học viên triển khai các luận điểm của bài viết theo
trình tự câu hỏi đó.
/Giải thích: Nó là gì? Có ý nghĩa gì?
/ Bình luận: Đúng hay sai (hoặc vừa đúng vừa sai)? Tại sao? Chứng minh.
/ Thái độ trước vấn đề đó như thế nào? (đồng tình hay phê phán)…
/ Là học sinh/ công dân phải làm gì?
+ Phần kết bài: Nêu cảm nghĩ và khái quát vấn đề.
phục vụ cho việc xác định mục đích, lí do chọn đề tài, xây dựng cơ sở lí thuyết nền
tảng vững chắc cho việc đề xuất hệ thống các biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả
của giảng dạy kiểu bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí.
- Phương pháp thống kê, so sánh, phân loại.
4
Từ các số liệu thu thập được trong quá trình khảo sát, điều tra, tiến hành so
sánh để rút ra các kết luận khoa học làm tiền đề lí luận cho đề tài cũng như so sánh
kết quả đã đạt được với những hạn chế thực tế đã xảy ra trước đó nhằm chứng minh
cho tính khả thi của đề tài
III.1. Khách thể nghiên cứu
Khách thế tham gia trong nhóm thực nghiệm là học viên lớp 12 (gồm 12A1 và
12A3 ) tại Trung tâm GDTX Văn Bàn với đặc điểm:
- Khoảng 96 % là học viên dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng sâu vùng xa – nơi
có điều kiện kinh tế còn khó khăn trình độ dân trí còn thấp, có nhiều học viên nói
tiếng phổ thông chưa rõ.
- Học viên Trung tâm GDTX Văn Bàn rất đa dạng về lứa tuổi khoảng từ 18
đến 48 tuổi, lứa tuổi này không đồng đều như học sinh Trường THPT( tuổi từ 16 đến
18 tuổi). Hơn nữa đa phần học viên GDTX không chỉ có nhiều tuổi, họ vừa học vừa
làm, tư duy trí tuệ không còn là giai đoạn tốt nhất để dành cho việc học và nhiều học
viên yếu, kém.
- Học viên Trung tâm GDTX nhiều học viên có học lực yếu kém, chưa mạnh
dạn, chưa dám thể hiện ý kiến và suy nghĩ của mình .Cũng từ đó mà việc tiếp cận, đọc
hiểu cảm nhận và tiếp thu một tác phẩm văn học đã khó việc vận dụng kĩ năng thực
hành lại càng khó hơn vì đặc điểm của kiểu bài nghị luận tư tưởng đạo lí đòi hỏi cần
phải có không chỉ kiến thức xã hội phong phú mà còn cần phải biết vận dụng khéo léo
kĩ năng làm bài khi đánh giá nhận định một tư tưởng, đạo lí nào đó.
III. 2. Thiết kế nghiên cứu
Số HV
Kết quả thu được
làm bài
0 -
02
Tỉ lệ %
100%
33.3 %
36.0 %
21.3 %
6.7 %
2.7 %
Chia ra
Dưới TB chiếm
69.3 %
6
Từ TB trở lên chiếm
30.7%
Từ bảng số liệu cho thấy rằng kết quả thu được số bài khá, giỏi rất ít (7 bài –
9.4 %) và tổng số bài từ trung bình trở lên chỉ có 23/75 bài ( chiếm 30.7%) còn khi
điểm dưới TB lại rất nhiều: 52/75 bài (69.3 %). Trong đó chia ra điểm từ 0 - < 3 là
25/75 bài (33.3%) và điểm từ 3- < 5 là 27/75 bài (36%).
Kết quả thu được
làm bài
0 -
Tỉ lệ %
100%
11.7%
16.9%
42.8%
18.2%
10.4 %
Chia ra
Dưới TB chiếm
Từ TB trở lên chiếm
28.6 %
71.4 %
Nhìn vào bảng số liệu đã cho thấy những con số “biết nói” sau khi áp dụng thể
nghiệm đề tài.
- Lớp 12A1: Đây là lớp học viên học đúng độ tuổi, dù là nhiều học viên học lực yếu
Nhưng với việc nắm chắc được các bước làm bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí.
Kết quả thu được sau khi khảo sát đạt được kết quả có số bài trên TB là 18/27 ( 66.7
77
(28.6 %)
(71.4 %)
8
Từ thực trạng chính giảng dạy bộ môn tại chính đơn vị mình, sau khi nghiên
cứu, tìm hiểu đối tượng và lựa chọn cách thức, áp dụng đế tài, kết quả thu được là khả
quan và đã có những chuyển biến tích cực. Từ bảng tổng hợp cho thấy tỉ lệ đươi TB
giảm từ 69.3 % xuống 28.6 % và tỉ lệ trên TB tăng từ 30.7 % đến 71.4%. Điều đó
chứng minh cho tính hiệu quả của đề tài.
Trong quá trình giảng dạy, thể nghiệm đề tài, người viết nhận thấy rằng học
viên ở lớp học viên đúng độ tuổi hay học viên có tuổi việc nhận diện và biết cách làm
bài một cách dễ dàng hơn rất nhiều. Và khi học sinh đã thấy đơn giản hơn trong quá
trình tiếp cận đề bài văn tức là việc lựa chọn cách thức hướng dẫn học sinh là phù hợp
với đối tượng học viên. Đồng thời người dạy cũng đã lựa chọn được cách thức dạy
học tích cực và hiệu quả.
V. Kết luận và khuyến nghị
V.1 Kết luận:
Đổi mới phương pháp dạy học là nội dung quan trọng luôn được đề cập đến
trong bất kì một cuộc hội thảo, cuộc sinh hoạt chuyên môn nào. Trước một bài giảng
giáo viên cần phải lựa chọn những cách thức tổ chức, phương pháp dạy học tích cực
sao cho phù hợp với đối tượng người học nhằm làm cho con đường từ học sinh đến
kiến thức ngắn nhất. Việc lựa chọn phương pháp chung cho cả phân môn hay nhóm
bài luôn được giáo viên chú trọng.
Song việc đi vào tìm hiểu chi tiết cụ thể cho từng kiểu, dạng bài thì nội dung
cao hiệu quả môn Ngữ văn.
10
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách Ngữ văn 12- Tập một – Phan Trọng Luận (chủ biên) - NXB Giáo dục 2007.
2. Phương pháp dạy học văn- Phan Trọng Luận (Chủ biên) – NXB Đại học quốc gia
Hà Nội 2005.
3. Sách giáo viên Ngữ văn 12 – tập 1- Phan Trọng Luận (Chủ biên) – NXB Giáo dục
-2008.
4. Hướng dẫn làm bài văn Nghị luận xã hội – Chu Thị Hảo (Chủ biên) – NXB Giáo
dục 2010.
5. Hướng dẫn ôn thi tốt nghiệp THPT, Đại học, Cao đẳng môn Văn –Nguyễn Đức
Hùng (Chủ biên) - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội - 2010.
6. Phân loại và hướng dẫn Giải đề thi Đại học Cao đẳng môn Ngữ văn – Triệu Thị
Huệ (Chủ biên)- NXB Giáo dục - 2011.
7. Tài liệu bồi dưỡng phát triển năng lực giáo viên: Nâng cao năng lực hiểu biết về
GDTX và đối tượng của GDTX (Module 2,3,4). – Thái Thị Xuân Đào, Hoàng Thị
Kim Thúy (Chủ biên) – NXB Giáo dục và NXB Sư phạm - 2013.
11
PHỤ LỤC
1.Đề bài khảo sát.
“Đường tuy gần không đi không bao giờ đến, việc tuy nhỏ không làm không
bao giờ nên”- Tuân Tử.
Anh/chị hãy viết một bài văn không quá (400 từ) trình bày suy nghĩ về ý kiến
trên.
/Vai trò của người là la vô cùng to lớn đối với con
/ Thật hạnh phúc khi những ai sinh đã có mẹ ở bên và đươc bên mẹ trong
những năm tháng trong cuộc đời.
/ Song thực tế cuộc sống vẫn có những người mẹ vì quá yêu thương mà lại biến
con minh thành một thứ “tầm gửi”, sống ích kỉ, dự dẫm vào người khác....(dẫn
chứng). Hoặc lại có những người con không biết kính trọng, yêu thương mẹ của
mình...
/ Trách nhiệm bổn phận của con cái đối với những người đã sinh thành ra mình
đặc biệt là mẹ....
13
*Vẫn từ đề bài của ví dụ 2 kết bài cần khái quát khẳng định vai trò của người
mẹ, sự dạy dỗ của mẹ là trường học lớn nhất của mỗi con người.
Ví dụ 3: Với đề bài : Anh /chị hãy bàn luận về câu: Thất bại là mẹ thành công.
Có thế mở bài như sau:
Trong cuộc sống không phải lúc nào ta làm một việc gì đó cũng thành công ngay
mà cũng có khi ta ta thất bại. Điều quan trọng là khi thất bại ta rút ra được những bài
học kinh nghiệm để tiếp tục đứng lên theo đuổi ước mơ của mình. Nên mới có câu:
“Thất bại là mẹ của thành công”.
3. Ví dụ tại phần hướng dẫn viết bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí
Ví dụ 4: Đề bài.
Ích kỉ và vị tha anh/chị chọn lối sống nào?
Trong phần thân bài khi trả lời các câu hỏi như đã nêu giáo viên định
hướng cho học viên cho đề bài này như sau:
- Giải thích: Nó là gì? Ý nghĩa như thế nào?
+ Ích kỉ: là chỉ biết đến mình, luôn coi trọng lợi ích của bản thân mà không
quan tâm, coi trọng lợi ích của người khác.
+ Vị tha: là vì người khác, đề cao lợi ích của người khác hơn quyền lợi của bản
thân