I. M U
1. Lớ do chn ti:
ó t lõu, vic bi dng i tuyn hc sinh gii cỏc khi lp ó tr thnh
nhim v ca i a s cỏc trng THCS. Kt qu thi ca cỏc i tuyn hc sinh
gii phn no phn ỏnh cht lng dy v hc ca nh trng. Dy hc mụn Ng
vn vn ó nhiu vt v, nhc nhn, dy i tuyn hc sinh gii mụn Ng vn cng
nhc nhn, vt v hn. Một khó khăn lớn đối với các nhà trờng là tất cả
những học sinh có năng khiếu đều thích thi môn tự nhiên, khụng
my em mn m vi mụn Ng vn. Vì vậy việc chọn học sinh có năng
khiếu để bồi dỡng rất khó, số lợng học sinh thì ít mà các môn thi
lại nhiều. Mặt khác, do nhận thức của một số phụ huynh lại không
muốn cho con em mình tham gia đội tuyển Văn cho nên thờng
thì những học sinh có năng khiếu cả về tự nhiên và xã hội thì các
em lại không yêu thích và ham mê học Văn. Và ngợc lại, lại có những
học sinh rất thích học Văn nhng lại không có năng khiếu về văn chơng. Điều này có ảnh hởng không ít đến chất lợng của đội tuyển
Văn.
Nhng nm gn õy, ho cựng dũng chy i mi giỏo dc, i mi kim tra,
ỏnh giỏ nhm phỏt trin ton din hc sinh v kin thc, k nng, thi mụn Ng
vn lp 9 núi chung, thi hc sinh gii núi riờng cú nhiu i mi. Trong cu trỳc
thi hc sinh gii cp Tnh ca Thanh Húa nhng nm gn õy, kiu bi ngh lun
vn hc thng chim u th ln (12/20 im cho dng bi ny). Ngh lun vn hc
bao gm ngh lun v tỏc phm truyn (hoc on trớch) v ngh lun v mt on
th, bi th luụn l mt kiu bi khú i vi hc sinh lp 9 núi chung v hc sinh
gii núi riờng, quyt nh rt ln n kt qu chung ca bi thi. Bi l õy l kiu bi
ũi hi cao s hiu bit v kin thc, k nng c v vn hc v xó hi trong mt bi
thi. Vi c im vn nh vy, giỏo viờn bi dng v nht l hc sinh gp nhiu
khú khn. Thc t y t ra nhiu bn khon, trn tr i vi giỏo viờn ng i
tuyn.
Trong bi ngh lun vn hc, ngh lun v mt on th, bi th núi chung v
ngh lun v mt on th, bi th gn vi vic gii quyt mt nhn nh núi riờng
luụn chim v trớ quan trng trong thi hc sinh gii cỏc cp. Song qua thc t tri
Bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần có bố cục mạch lạc, rõ ràng; có lời
văn gợi cảm, thể hiện rung động chân thành của người viết.
1.2. Yêu cầu đối với học sinh giỏi khi viết bài nghị luận về một đoạn thơ,
bài thơ.
Bên cạnh những yêu cầu kiến thức, kĩ năng cơ bản về viết bài văn nghị luận
về một bài thơ, đoạn thơ đối với bất kì một học sinh nào thì học sinh giỏi cần thêm
những yếu tố sau:
a. Về kiến thức
- Nắm chắc, hiểu sâu, thấu đáo và toàn diện kiến thức tác phẩm: kiến thức văn
học sử, tác giả, tác phẩm, giá trị nội dung, nghệ thuật… Điều này tưởng như đơn
giản và thừa đối với học sinh giỏi. Song đôi khi do sự chủ quan cũng có học sinh
nắm chưa chắc kiến thức nên dễ hiểu sai, hiểu chưa đúng những nội dung tư tưởng
và giá trị nghệ thuật mà tác giả thể hiện nên dễ suy diễn lệch lạc.
- Tích luỹ kiến thức về lý luận văn học trong những buổi bồi dưỡng của thầy
cô. Đối với đối tượng là học sinh giỏi, được trang bị kiến thức lý luận văn học giúp
học sinh có những bình luận, đáng giá, nhận xét chuẩn xác hơn về một hiện tượng
văn học nào đó, bài viết của các em trở nên sâu sắc hơn về ý tưởng, chặt chẽ hơn về
lập luận, thuyết phục hơn khi đưa ra luận cứ.
Thực tế các kỳ thi học sinh giỏi cho thấy đề thi có liên quan đến kiến thức lý
luận văn học chiếm một tỉ lệ khá lớn, dù với những dạng khác nhau.
Có những đề thi yêu cầu trực tiếp kiến thức lý luận để giải quyết vấn đề, giải
quyết một hiện tượng văn học. Có những đề thi yêu cầu vận dụng một tỉ lệ kiến thức
lý luận nhất định… Vì vậy trong quá trình giải quyết vấn đề cần có kiến thức này để
cho bài văn thêm vững vàng về luận điểm, chặt chẽ trong lập luận, từ đó sẽ có sức
thuyết phục hơn.
- Biết so sánh đối chiếu nét tương đồng và khác biệt giữa hai tác giả, tác phẩm
ở cùng thời đại hoặc khác thời đại… Đây là kĩ năng khó. Vì vậy người viết không
chỉ cần hiểu kĩ, hiểu sâu mà cần cả độ cảm nhận sâu sắc, tinh ý để thấy được điểm
gặp gỡ tương đồng hay khác biệt ở các tác giả, tác phẩm.
b. Về kĩ năng
giỏi đề không chỉ dừng lại ở đó mà thường gắn với các vấn đề sau:
- Nghị luận về một vấn đề mang tính chất so sánh đối chiếu trong văn
học.
- Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học
+ Nghị luận về một giai đoạn văn học.
+ Nghị luận về một vần đề mang tính lý luận được đặt ra trong tác phẩm văn
học.
+ Nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn học
Ví dụ câu 3, 12 điểm trong đề thi học sinh giỏi tỉnh Thanh Hóa các năm:
Đề thi năm học 2014 - 2015:
“Tác phẩm vừa là kết tinh tâm hồn của người sáng tác, vừa là sợi dây truyền
cho mọi người sự sống mà nghệ sĩ mang trong lòng”
(Tiếng nói của văn nghệ, Nguyễn Đình Thi, Ngữ văn 9, tập 1, NXBGD 2014)
Từ cảm nhận về bài thơ Ánh trăng (Nguyễn Duy), em hãy trình bày suy nghĩ
của mình về ý kiến trên.
Đề thi năm học 2015 - 2016:
Nhận xét về nét đặc sắc làm nên giá trị của bài thơ Sang thu (Hữu Thỉnh), có
người cho rằng “đó là sự cảm nhận tinh tế của nhà thơ”; người khác thì khẳng định
“đó là cái đối ngẫu rất Đường thi”.
3
Qua bài thơ Sang thu, em hãy bàn về hai ý kiến trên.
Đề thi năm học 2016 - 2017:
Trong Tiếng nói của văn nghệ, Nguyễn Đình Thi viết:
“Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta một ánh sáng riêng…”
Hãy làm rõ ánh sáng riêng mà bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy đã rọi vào
tâm hồn em.
Đề thi năm học 2017 - 2018:
Nhà thơ Tố Hữu từng chia sẻ:
chính khóa.
- Đây là dạng bài có yêu cầu cao, đòi hỏi học sinh vừa nắm vững, cảm thụ tác
phẩm, vừa có hiểu biết về lí luận văn học, vừa phải có khả năng tư duy tổng hợp,
khả năng lập luận tốt.
- Các tài liệu hướng dẫn cũng như cách viết của dạng bài này không nhiều nên
các em chưa được tiếp cận.
4
3. Những giải pháp giúp đối tượng học sinh giỏi lớp 9 làm tốt bài nghị
luận về một đoạn thơ, bài thơ gắn với việc giải quyết một nhận định.
3.1. Rèn luyện, bồi dưỡng cho học sinh nắm chắc, hiểu sâu và toàn diện
kiến thức.
Giống như làm nhà cũng cần có nền móng vững chắc, học sinh đội tuyển cũng
phải có nền tảng kiến thức về tác phẩm. Điều này tưởng như đơn giản và thừa đối
với học sinh giỏi, song đôi khi do sự chủ quan cũng có khi do học sinh chưa nắm
chắc kiến thức nên dễ hiểu sai, hiểu chưa đúng những nội dung tư tưởng và giá trị
nghệ thuật của tác phẩm. Khi đó, các em sẽ triển khai bài viết thiếu ý, thiếu độ sâu,
thậm chí uy diễn lệch lạc dẫn đến hiệu quả làm bài không tốt. Chính vì vậy, khi bắt
đầu bồi dưỡng học sinh giỏi, khâu mà tôi đặc biệt quan tâm là cung cấp, hướng dẫn
cho các em nắm chắc và toàn diện các đơn vị kiến thức thuộc về văn bản như kiến
thức văn học sử, những thông tin chính về nhà thơ hoàn cảnh sáng tác, giá trị nội
dung và đặc sắc nghệ thuật…Có như vậy các em mới “có bột” để “gột nên hồ”.
Với đối tượng học sinh giỏi, tôi yêu cầu học sinh phải nắm vững kiến thức về
tác phẩm văn học, kiến thức về văn học sử, kiến thức lí luận văn học và cả kiến thức
văn hóa tổng hợp.
a. Kiến thức về tác phẩm văn học: Với học sinh giỏi, tôi yêu cầu các em:
* Đọc:
- Đọc nhiều, nhớ nhiều tác phẩm.
- Đọc có chọn lọc: trước hết là các tác phẩm được đưa vào chương trình, các
bước đầu các em nắm được lịch sử văn học có hệ thống. Ví dụ như các giai đoạn
phát triển của văn học trung đại, văn học hiện đại Việt Nam; mỗi giai đoạn có những
tác giả, tác phẩm tiêu biểu nào; những chủ đề chính của từng giai đoạn văn học?
Những nét chính về cuộc đời vầ sự nghiệp sáng tác của các tác giả tiêu biểu; hoàn
cảnh ra đời, nội dung tư tưởng chính của các tác phẩm…
Nắm vững văn học sử các em tiếp nhận văn học một cách có cơ bản, hệ thống,
từ đó có một cách đánh giá đúng các tác giả, tác phẩm văn học. Bởi khi phân tích
một tác phẩm nào đó, chúng ta phải xem xét không chỉ các yếu tố trong văn bản mà
còn phải căn cứ thêm nhiều yếu tố khác ngoài văn bản như cuộc đời của tác giả, bối
cảnh lịch sử xã hội, hoàn cảnh sáng tác … Những kiến thức ấy đều do văn học sử
cung cấp.
Ví dụ: khi học phần thơ hiện đại Việt Nam giai đoạn từ 1946 - 1975, học sinh
cần nắm được những kiến thức lịch sử của đất nước trong hai cuộc kháng chiến
chống Pháp và chống Mĩ thì mới thấy được vẻ đẹp trong thái độ dứt khoát, tư thế
ung dung, hiên ngang của người lính cách mạng trong hoàn cảnh chiến trường đầy
gian khổ, khốc liệt trong hai bài thơ “Đồng chí” và “Bài thơ về tiểu đội xe không
kính”; vẻ đẹp của tinh thần lạc quan, khí thế phấn chấn của những con người lao
động mới làm chủ sự giàu đẹp của thiên nhiên để xây dựng đất nước trong bài thơ
“Đoàn thuyền đánh cá”; vẻ đẹp của những người phụ nữ giàu tình yêu thương, giàu
đức hy sinh, vừa là hậu phương vững chắc, vừa trực tiếp tham gia vào cuộc kháng
chiến của dân tộc trong bài thơ “Bếp lửa”, “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng
mẹ”…
c. Kiến thức văn hóa tổng hợp:
Để viết tốt một bài văn nghị luận văn học, hoc sinh không chỉ có kiến thức về
tác phẩm mà rất cần kiến thức văn hóa tổng hợp. Vì vây học sinh cần hiểu và vận
dụng phù hợp tri thức của nhiều môn học khác như Lịch sử, Địa lí, … cả những hiểu
biết về văn hóa - đời sống, những kinh nghiệm và sự từng trải của cá nhân.
3.2. Trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về lí luận văn học
Dạng bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ gắn với việc giải quyết một nhận
định yêu cầu học sinh phải bao quát được những vấn đề cơ bản của lí luận văn học
Tôi cũng sưu tầm và cung cấp cho các em những nhận định, đánh giá về văn
chương nói chung, về thơ, giúp các em hiểu về đặc trưng, giá trị của thơ ca, biết vận
dụng vào trong các bài viết cho phù hợp.
Ví dụ:
- Cảm động lòng người trước hết không gì bằng tình cảm và tình cảm là cái
gốc của văn chương. (Bạch Cư Dị)
- Mỗi tác phẩm nghệ thuật phải là mỗi phát minh về hình thức và khám phá
mới về nội dung. (Lêonit Lêonop)
- Thiên chức của nhà văn cũng như những chức vụ cao quý khác là phải nâng
đỡ những cái tốt để trong đời có nhiều công bằng, thương yêu hơn. (Thạch Lam)
- Nghệ thuật bao giờ cũng là tiếng nói tình cảm của con người, là sự tự giãi
bày và gửi gắm tâm tư. (Lê Ngọc Trà)
- Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo. Vì vậy nó đòi hỏi phải có phong
cách, tức là phải có nét gì đó rất mới, rất riêng thể hiện trong tác phẩm của mình.
(Nguyễn Tuân)
- Thơ trước hết là cuộc đời sau đó mới là nghệ thuật. (Bêlinxki)
- Thơ là cái nhụy của cuộc sống, nên nhà thơ phải đi hút cho được cái nhụy
ấy và phấn đấu làm sao cho cuộc đời của mình cũng có nhụy. (Phạm Văn Đồng)
- Thơ hay là thơ giản dị, xúc động và ám ảnh. Để đạt được một lúc ba điều ấy
đối với các thi sĩ vẫn còn là điều bí mật. (Trần Đăng Khoa)
- Thơ là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp. (Sóng Hồng)
- Bài thơ hay là bài thơ đọc lên không còn thấy câu thơ mà chỉ còn thấy tình
người và tôi muốn thơ phải thật là gan ruột của mình.(Tố Hữu)
- Thơ là hiện thực, thơ là cuộc đời, thơ còn là thơ nữa. (Xuân Diệu)
- Thơ cũng như nhạc có thể trở thành một sức mạnh phi thường khi nó chinh
phục được trái tim của quần chúng nhân dân. (Sóng Hồng)
- Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn con người trước cuộc đời. (Tố
Hữu)
…
7
Ví dụ: Đề thi năm học 2017 - 2018:
Nhà thơ Tố Hữu từng chia sẻ:
Đọc một câu thơ hay, người ta không thấy câu thơ, chỉ còn thấy tình người
trong đó.
Từ cảm nhận về bài thơ Nói với con của Y Phương, em hãy làm sáng tỏ ý kiến
trên
- Sau khi gạch chân những từ ngữ quan trọng học sinh sẽ dễ dàng xác định
được vấn đề bàn luận của đề bài trên là: tình người trong bài thơ Nói với con của Y
Phương và những hình thức nghệ thuật đặc sắc tạo nên ấn tượng riêng của bài thơ
với bạn đọc.
- Như vậy, trước một đề bài, học sinh cần xác định được ba yếu tố cơ bản:
+ Kiểu bài: Nghị luận (thường ở các từ mệnh lệnh như suy nghĩ, ý kiến, bàn
về…)
+ Nội dung vấn đề bàn luận: dựa vào nhận định để xác định cụ thể vấn đề cần
bàn luận trong bài thơ.
+ Phạm vi kiến thức: Kiến thức bắt buộc (bài thơ theo yêu cầu của đề bài) và
kiến thức mở rộng, liên hệ.
8
b.Tìm ý
Tìm ý bằng cách đặt ra và trả lời các câu hỏi để xác định hệ thống luận điểm,
luận cứ theo yêu cầu cụ thể của đề bài.
- Những từ ngữ, những khái niệm lí luận văn học nào trong nhận định cần
phải giải thích? Ý nghĩa của nhận định trong đề bài là gì?
- Nhận định đó đề cập đến vấn đề gì? Nội dung vấn đề đó được biểu hiện như
thế nào qua tác phẩm?
- Chứng minh vấn đề ở nhận định bằng những luận điểm, luận cứ cụ thể nào ở
tác phẩm?
- Vấn đề bàn luận trong nhận định có ý nghĩa như thế nào với nhà thơ, thời
+ Khẳng định ý kiến đó đúng hay sai? cụ thể?
+ Lí giải tại sao lại nhận xét như thế? Căn cứ vào đâu để có thể khẳng định
được như vậy?
+ Điều đó được thể hiện cụ thể như thế nào trong tác phẩm, trong văn học và
trong cuộc sống? phân tích và lấy dẫn chứng trong tác phẩm văn học.
9
– Mở rộng, nâng cao, đánh giá ý nghĩa của vấn đề đó với cuộc sống, với văn
học.
* Kết bài:
- Khẳng định lại vấn đề bàn luận
- Phát biểu cảm nghĩ hoặc liên hệ bản thân từ vấn đề bàn luận.
Ví dụ: dàn ý của đề thi năm học 2017 - 2018:
Nhà thơ Tố Hữu từng chia sẻ:
Đọc một câu thơ hay, người ta không thấy câu thơ, chỉ còn thấy tình người
trong đó.
Từ cảm nhận về bài thơ Nói với con của Y Phương, em hãy làm sáng tỏ ý kiến
trên
1. Mở bài:
- Giới thiệu vấn đề bàn luận
- Trích dẫn nhận định
- Giới thiệu bài thơ Nói với con.
2. Thân bài:
2.1. Giải thích nhận định:
* Câu thơ hay: là sản phẩm lao động sáng tạo của nhà thơ, kết tinh những tư
tưởng, tình cảm mà nhà thơ muốn gửi gắm qua hình thức phù hợp.
* Đọc: là hành động tiếp nhận và thưởng thức của người đọc.
* Tình người: là tư tưởng, tình cảm, cảm xúc tạo nên giá trị nội dung của thơ.
=> Quan niệm nhấn mạnh giá trị của thơ là những tư tưởng, tình cảm được
=> Qua lời tâm tình của cha với con, nhà thơ Y Phương đã diễn tả xúc động,
thấm thía tình cha con. Tình cảm ấy đã hòa quyện với tình yêu quê hương, đất nước.
Từ đó khơi dậy mạch nguồn đạo lý truyền thống của dân tộc.
* Hình thức biểu đạt:
- Thể thơ: tự do, nhịp thơ linh hoạt.
- Từ ngữ, hình ảnh: cụ thể, mộc mạc mà có tính khái quát, giàu chất thơ, rất
tiêu biểu cho cách tư duy của người miền núi.
- Biện pháp nghệ thuật: điệp từ, điệp cấu trúc, so sánh, đối lập,...
- Giọng điệu: tâm tình, thiết tha, thấm thía.
2.4. Đánh giá
* Nói với con của nhà thơ Y Phương là một bài thơ hay. Bài thơ đã thể hiện
được tình cảm gia đình, quê hương, dân tộc chân thành, sâu sắc, thấm thía qua hình
thức nghệ thuật độc đáo, hấp dẫn.
* Bài học đối với người sáng tác và người thưởng thức, tiếp nhận:
- Người sáng tác: người làm thơ bên cạnh sự sâu sắc, mãnh liệt của tình cảm,
sự phong phú của cảm xúc cần nghiêm túc, công phu trong lao động nghệ thuật.
- Người đọc: không ngừng trau dồi tri thức để hiểu và đồng cảm với tác giả.
3.Kết bài: Khẳng định vấn đề bàn luận.
Bước thứ ba: viết thành một bài nghị luận hoàn chỉnh sau khi đã lập dàn ý
khái quát. Khi viết bài cần lưu ý:
a. Viết mở bài:
- Nhiệm vụ: Mở bài có nhiệm vụ giới thiệu được vấn đề nghị luận của bài
viết và giới hạn phạm vi vấn đề. Mở bài rất quan trọng bởi đây là phần định hướng
cho bài viết và tạo nên sự hấp dẫn lôi cuốn người đọc.
- Cách viết:
Đây là kĩ năng quen thuộc học sinh đã được rèn nhiều từ những bài học của thầy
cô. Với học sinh giỏi thường mở bài gián tiếp qua những cách: diễn dịch, quy nạp,
tương đồng, tương phản. Dù bằng cách nào, mở bài cần đảm bảo được:
+ Dung lượng của phần mở bài phải tương ứng với khuôn khổ của bài viết và
phải cân đối với phần kết bài.
Khi viết phần thân bài, với đặc trưng của đề thi học sinh giỏi: vấn đề nghị luận
được thể hiện trong một nhận định nên hệ thống luận điểm, luận cứ phải bám sát từ
ngữ, câu chữ của nhận định để làm nổi bật vấn đề nghị luận đó.
Không những thế, trong quá trình viết bài bên cạnh sự sắc bén, chặt chẽ trong
lập luận, người viết cần thể hiện những xúc động chân thành, tha thiết của bản thân
trước những hình ảnh thơ đẹp, những ý văn hay để lời văn giàu cảm xúc. Bởi như đã
nói ở trên, yếu tố biểu cảm trong bài văn nghị luận tạo nên sức ngân vang rất lớn
trong lòng người đọc.
Cần đảm bảo được kết cấu của thân bài:
- Giải thích nhận định:
+ Giải thích, cắt nghĩa các từ, cụm từ có nghĩa khái quát hoặc hàm ẩn trong đề
bài có nhận định. Để tạo chất văn, gây hứng thú cho người viết, những đề văn
thường có cách diễn đạt ấn tượng, làm lạ hoá những vấn đề quen thuộc. Nhiệm vụ
của người làm bài là phải tường minh, cụ thể hoá những vấn đề ấy để từ đó triển
khai bài viết.
+ Sau khi cắt nghĩa các từ ngữ cần thiết cần phải giải thích, làm rõ nội dung
của vấn đề cần bàn luận. Thường trả lời các câu hỏi: Ý kiến trên đề cập đến vấn đề
gì? Câu nói ấy có ý nghĩa như thế nào?
- Chứng minh nhận định bằng một tác phẩm hoặc một nhóm tác phẩm với hệ
thống luận điểm, luận cứ rõ ràng.
- Đánh giá, nâng cao vấn đề nghị luận
c.Viết kết bài:
- Nhiệm vụ:
+ Khẳng lại vấn đề nghị luận.
+ Phát biểu cảm nghĩ hoặc liên hệ bản thân từ vấn đề nghị luận.
- Cách viết:
+ Cân xứng với mở bài
+ Tạo được dư âm sâu lắng bằng cảm xúc, suy nghĩ chân thành tha thiết.
12
đến nội dung tư tưởng của văn học thời đại học sinh sẽ bàn bạc, đánh giá về vấn đề
nghị luận qua hệ thống luận điểm chặt chẽ, rõ ràng.
b. Nhận định về vấn đề trong tác phẩm văn học:
Nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn học thường là các ý kiến đánh
giá, nhận xét về một khía cạnh nào đó của tác phẩm như những giá trị nội dung,
những đặc sắc nghệ thuật, những quy luật, khám phá, chiêm nghiệm về đời sống toát
lên từ tác phẩm, những nhận xét về các nhân vật,…
Ví dụ: Có ý kiến cho rằng: "Từ một câu chuyện riêng, bài thơ Ánh trăng của
Nguyễn Duy cất lên lời tự nhắc nhở thấm thía về thái độ, tình cảm của con người
đối với những năm tháng quá khứ gian lao, tình nghĩa, đối với thiên nhiên, đất nước
bình dị, hiền hậu"
Hãy phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy (SGK Ngữ Văn 9) để làm
rõ ý kiến trên.
Để lập ý, để viết bài học sinh cần hiểu kĩ, hiểu sâu về tác phẩm, biết cách huy
động kiến thức để làm sáng tỏ vấn đề. Cụ thể như: nêu xuất xứ của vấn đề (Xuất
hiện ở phần nào của tác phẩm? Ai nói? Nói trong hoàn cảnh nào?,…), phân tích
13
những biểu hiện cụ thể của vấn đề (Được biểu hiện như thế nào? Những dẫn chứng
cụ thể để chứng minh,…). Từ đó đánh giá ý nghĩa của vấn đề trong việc tạo nên giá
trị của tác phẩm văn học.
Với đề văn, trên học sinh cần giải thích được ý kiến nhận xét về bài thơ để
thấy được vấn đề nghị luận.
Một câu chuyện riêng: câu chuyện có thật của cuộc đời tác giả - người đã
từng gắn bó với vầng trăng từ thuở nhỏ qua thời đi bộ đội; đến khi về sống ở thành
phố "quen ánh điện cửa gương" thì "vầng trăng đi qua ngõ - ngỡ người dưng qua
đường". Rồi một lần " Thình lình đèn điện tắt", trong phòng "tối om" nhà thơ "bật
tunng cửa sổ" vầng trăng tròn" từ đó, bao cảm xúc và suy ngẫm của tác giả về
những năm tháng gian lao, tình nghĩa đối với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền
+ Nội dung của một tác phẩm nghệ thuật là hiện thực cuộc sống và những
khám phá, phát hiện riêng của người nghệ sĩ.
14
+ Những khám phá, phát hiện ấy chính là điều mới mẻ góp phần quan trọng
tạo nên giá trị của một tác phẩm nghệ thuật và mang theo thông điệp của người nghệ
sĩ.
Giải thích được như vậy học sinh sẽ làm sáng tỏ “điều mới mẻ”, “lời nhắn
nhủ” mà nhà thơ Nguyễn Duy muốn đem “góp vào đời sống” trong “Ánh trăng”.
3.3.3. Một số đề nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ gắn với việc giải quyết
một nhận định và đáp án gợi ý.
a. Dạng đề nhận định về một giai đoạn văn học
Thơ hiện đại Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975, ngoài hình ảnh người chiến sĩ
trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc còn mang nhịp thở của con người lao động mới.
Bằng những hiểu biết về thơ hiện đại Việt Nam giai đoạn này, em hãy làm
sáng tỏ nhận định trên.
Với đề trên, học sinh cần huy động và thể hiện được kiến thức, hiểu biết tổng
hợp để thể hiện được những nội dung cơ bản:
1. Mở bài:
* Giới thiệu về hoàn cảnh lịch sử nước ta giai đoạn 1945 - 1975.
* Giới thiệu vấn đề bàn luận và trích dẫn nhận định.
* Giới hạn tác phẩm
2. Thân bài:
* Giải thích nhận định:
Hiện thực của đất nước ta từ 1945 đến 1975 là hiện thực của những cuộc
kháng chiến vệ quốc vĩ đại và công cuộc xây dựng cuộc sống mới đi lên chủ nghĩa
xã hội. Hiện thực đó đã tạo nên cho dân tộc Việt Nam một vóc dáng nổi bật: vóc
dáng người chiến sĩ luôn trong tư thế chủ động chiến đấu chống kẻ thù, vóc dáng
* Đánh giá, bình luận:
- Văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975 đã đáp ứng được những yêu cầu của
lịch sử và thời đại. Ở ngoài tiền tuyến khói lửa là hình ảnh của những người lính
dũng cảm, kiên cường. Nơi hậu phương là những người lao động bình dị mang nhịp
thở của thời đại mới.
- Hình ảnh người chiến sĩ và người lao động đã kết tinh thành sức mạnh của
con người và dân tộc Việt Nam thế kỉ XX. Các tác giả văn học thời kì này họ đồng
thời vừa là nhà văn, nhà thơ, vừa là người lính, người chiến sĩ, người lao động cầm
bút để ngợi ca về con người dân tộc Việt với niềm say mê và tự hào. Họ đã làm nên
vẻ đẹp và sức sống mới cho văn học Việt Nam.
3. Kết bài: Khẳng định vấn đề bàn luận.
b. Dạng đề nhận định về vấn đề trong tác phẩm văn học:
Nhận xét về bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh, có ý kiến cho rằng: “Chỉ mười
hai câu thơ năm chữ mà anh đã vẽ lên một bức tranh “sang thu” vừa đúng, vừa
đẹp, lại có tình, có chiều sâu suy nghĩ”.
(Nguyễn Xuân Lạc, Báo Giáo dục và thời đại, số 1114, ngày 22/9/2005)
Hãy phân tích bài thơ Sang thu để làm sáng tỏ nhận định trên.
1. Mở bài: Dẫn dắt và đưa được vấn đề nghị luận: Chỉ mười hai câu thơ năm
chữ mà nhà thơ Hữu Thỉnh đã vẽ lên một bức tranh “sang thu” vừa đúng, vừa đẹp,
lại có tình, có chiều sâu suy nghĩ..
2. Thân bài
2.1. Giải thích nhận định: Sang thu là bài thơ ngũ ngôn gồm 3 khổ thơ, 12
dòng thơ rất ngắn nhưng nhà thơ Hữu Thỉnh đã vẽ lên được một bức tranh sang thu
(lúc chớm thu, là lúc thiên nhiên giao mùa: mùa hè vẫn chưa hết mà mùa thu tới với
những tín hiệu đầu tiên) vừa đúng, vừa đẹp, lại có tình, có chiều sâu suy nghĩ gửi
gắm bao cảm xúc, những suy ngẫm sâu sắc của nhà thơ trước khoảnh khắc giao
mùa.
-> Nhận định vừa khái quát được giá trị nội dung tư tưởng của bài thơ, vừa
khẳng định được nét tài hoa, tinh tế cùng những suy ngẫm, chiêm nghiệm sâu sắc
của nhà thơ về con người và cuộc đời.
+ Dòng sông: được lúc dềnh dàng - dòng sông vào thu bỗng trong trẻo hơn,
tĩnh lặng hơn với dòng chảy êm đềm, như được nghỉ ngơi sau một màu hạ vất vả với
bão giông.
+ chim vội vã: những cánh chim bay về phương Nam tránh rét.
-> phép đối: dềnh dàng - vội vã làm nổi bật hai động thái trái ngược nhau của
thiên nhiên lúc giao mùa.
+ đám mây mùa hạ - vắt nửa mình sang thu: được nhân hóa vừa thực, vừa hư,
gần gũi, sinh động, vẫn là đám mây của mùa hạ với ánh nắng hè chưa tan nhưng đã
có cái chớm để thu nền trời như trong hơn, cao hơn, rộng hơn. Nhà thơ như đã tạo
nên một cây cầu đặc biệt nối những ngày cuối hạ và đầu thu. Bước đi thời gian vốn
vô hình đã trở nên hữu hình và mang đầy tâm trạng: nửa như lưu luyến mùa hạ nửa
như ngập ngừng sang thu.
- Bức tranh sang thu rất đẹp với những biến chuyển của đất trời :
+ Vẫn còn bao nhiêu nắng: nắng đầu thu vẫn còn nồng, còn sáng nhưng đã
vơi bớt cảm giác oi nồng, chói chang bởi đã có gió se về.
+ Đã vơi dần những cơn mưa, những tiếng sấm bất ngờ: sang thu, những cơn
mưa mùa hạ chợt đến, chợt đi cũng đã lùi xa.
-> Sự vận động trái chiều của hai hiện tượng tự nhiên đã tô đậm khoảnh khắc
giao mùa. Các từ chỉ mức độ: vẫn còn, vơi, bớt được sắp xếp theo trình tự giảm dần:
mùa hạ đang nhạt dần, mùa thu ngày càng rõ nét hơn. Nhà thơ đã gợi tả rất đúng, rất
đẹp bước chân của mùa thu giữa đất trời.
* Chỉ mười hai câu thơ năm chữ mà nhà thơ Hữu Thỉnh không chỉ vẽ lên một
bức tranh “sang thu” vừa đúng, vừa đẹp mà còn có tình, có chiều sâu suy nghĩ.
- Phác họa một bức tranh thiên nhiên lúc giao mùa hạ thu vừa đúng, vừa đẹp một đầu thu rất đặc trưng, rất riêng của miền Bắc không chỉ do sự cảm nhận, sự rung
động tinh tế mà thi sĩ thực sự đã mở lòng mình đón nhận sau những ngỡ ngàng hình
như thu đã về. Tâm hồn thi sĩ biến chuyển nhịp nhàng với phút giao mùa của tạo vật.
Bức tranh sang thu không chỉ được cảm nhận bằng các giác quan mà bằng cả tâm
hồn - tâm hồn nhạy cảm với tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống; tâm hồn một nhà
17
3.Kết bài: Khẳng định ngòi bút tài hoa, sự rung động tinh tế, suy ngẫm sâu sắc
của nhà thơ Hữu thỉnh đã tạo nên hương sắc riêng của Sang thu trong chùm thơ viết
về mùa thu xưa và nay.
c. Dạng đề nhận định là một vấn đề mang tính lý luận được đặt ra trong
tác phẩm văn học.
Nguyễn Đình Thi từng quan niệm:
“Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những chất liệu mượn ở thực
tại. Nhưng nghệ sĩ không ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ.
Anh gửi vào tác phẩm một lá thư, một lời nhắn nhủ, anh muốn đem một phần của
mình góp vào đời sống chung quanh”.
(Trích Tiếng nói của văn nghệ, SGK Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục,
2011, tr.12 -13).
Em hiểu thế nào là điều mới mẻ, lời nhắn nhủ trong quan niệm của Nguyễn
Đình Thi? Qua bài thơ Ánh trăng, em hãy làm rõ điều mới mẻ và lời nhắn nhủ mà
nhà thơ Nguyễn Duy muốn góp vào đời sống.
1. Mở bài
18
- Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực qua lăng kính chủ quan của các
tác giả. Cho nên đến với mỗi tác phẩm văn học người đọc không chỉ thấy được bức
tranh hiện thực mà còn thấy tâm tư, tình cảm, thấy những điều nhà văn muốn nói,
muốn gửi tới bạn đọc.
- Vì thế nhà văn Nguyễn Đình Thi viết: “ Tác phẩm…chung quanh”
Với nhận định này nhà văn muốn khẳng định vai trò của chức năng giáo dục
và cải tạo xã hội của văn học nghệ thuật.
- Soi vào Ánh trăng của nhà thơ Nguyễn Duy ta thấy nhận định ấy thật đúng.
2. Thân bài
* Giải thích
- Điều mới mẻ: là cách cảm nhận và thể hiện độc đáo của người nghệ sĩ về
của mỗi khổ thơ...
- Lời nhắn nhủ của tác giả qua bài thơ:
19
+ Bài thơ có ý nghĩa như một lời cảnh tỉnh, lời nhắc nhở chúng ta đừng quên
đi những gì đẹp đẽ đã gắn bó với con người trong quá khứ, cần phải sống tình nghĩa,
thuỷ chung. Đạo lý “uống nước nhớ nguồn” đã được gửi gắm kín đáo và tinh tế.
+ Trong cuộc sống, con người cũng cần những phút “giật mình”, nghĩa là
trạng thái thức tỉnh của lương tâm, soi lại bản thân để nhận ra sự thiếu sót, vị kỉ,
chưa hoàn thiện. Nếu không có những phút giật mình như thế, con người ta rất dễ
đánh mất chính mình, phản bội lại quá khứ ân tình, ân nghĩa.
* Đánh giá
- Chính những khám phá mới mẻ về nội dung nghệ thuật, chính thông điệp
giàu tính nhân văn đã làm nên sức sống của bài thơ và phong cách nghệ thuật của
nhà thơ Nguyễn Duy. Đó đồng thời là bản chất của sáng tạo nghệ thuật, là yêu cầu
đối với mỗi người nghệ sĩ (bài học về sáng tạo).
- Bài thơ không phải là một sản phẩm của triết lý khô khan, lời nhắn nhủ phải
được thể hiện với tính nghệ thuật mới có khả năng lay động. Điều đó cũng đòi hỏi
độc giả phải là người đồng sáng tạo để cảm nhận được những thông điệp mà người
nghệ sĩ muốn gửi tới (bài học về tiếp nhận).
3. Kết bài:
- Khẳng định lại vấn đề
- Suy nghĩ của bản thân
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Trong những năm học vừa qua, khi được giao nhiệm vụ bồi dưỡng đội tuyển
học sinh giỏi lớp 9 cấp tỉnh, tôi đã luôn học hỏi kinh nghiệm từ các đồng nghiệp đi
trước, tham khảo nhiều tài liệu về cách làm bài nghị luận văn học nói chung và nghị
luận về một đoạn thơ, bài thơ gắn với việc giải quyết một nhận định nói riêng. Trong
huyện: Báo cáo chuyên đề bồi dỡng học sinh giỏi để nâng cao
trình độ cho giáo viên và học sinh.
- V phớa giỏo viờn: luụn khụng ngng hc hi, tớch ly kinh nghim ng
thi to cho cỏc em hng thỳ hc vn, bit by t suy ngh ca mỡnh khi lm vn
ngh lun.
Trờn õy l nhng kinh nghim, suy ngh ca bn thõn tụi ỳc rỳt t thc t
ging dy cựng nhng kt qu bc u t c trong quỏ trỡnh bi dng cỏch
hc sinh gii vit bi ngh lun v mt on th, bi th gn vi vic gii quyt mt
nhn nh trao i cựng ng nghip. Chc chn, ti khụng trỏnh khi nhng
hn ch, tụi rt mong nhn c s úng gúp ca ng nghip quỏ trỡnh bi
dng hc sinh gii thờm hiu qu.
Tụi xin chõn thnh cm n !
XC NHN CA TH
TRNG N V
Thanh Hoỏ, ngy 25 thỏng 3 nm 2019
Tụi xin cam oan õy l SKKN ca mỡnh vit,
khụng sao chộp ni dung ca ngi khỏc.
Ngi thc hin
21
22