Tài liệu ôn thi ngữ văn vào lớp 10 THPT 2018 kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ - Pdf 49

“Tài liệu ôn thi Ngữ văn vào lớp 10 THPT 2018 - Kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ”

-TÀI LIỆU ÔN THI NGỮ VĂN VÀO LỚP 10 THPT 2018 -

“KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN THƠ, BÀI THƠ”
DANH MỤC TÀI LIỆU

Tóm tắt kiến thức về kiểu bài nghị luận về một đoạn
thơ, bài thơ.
Lập dàn ý chi tiết một số đề văn nghị luận về một
Phần B:
đoạn thơ, bài thơ.
Giới thiệu một số bài văn nghị luận về một đoạn thơ,
Phần C:
bài thơ.
Phần A:

Tran
g
01
02
26

(*)(*)(*)(*)(*)

Phần A:
Tóm tắt kiến thức về kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ.
1. Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ:
- Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ là trình bày nhận xét, đánh giá của mình về
nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ ấy.
- Những yêu cầu đối với bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ:

có lệnh, người viết bày tỏ ý kiến của mình về vấn đề được nêu ra trong đề bài. Sự
khác biệt trên chỉ ở sắc thái, không phải là các kiểu bài khác nhau.
---------------------------------------------

Phần B:
Lập dàn ý chi tiết một số đề văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ.
Đề số 1.
Phân tích hình ảnh anh bộ đội trong bài thơ “Đồng chí” của nhà thơ Chính
Hữu. Trước khi phân tích, hãy ghi lại theo trí nhớ bài thơ đó.
(Trích đề tuyển sinh lớp 10 – Đề chung – Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong
– Nam Định năm học 2001-2002, câu 3 (6,0 điểm))
Hướng dẫn lập dàn ý:
Để yêu cầu phân tích bài thơ có định hướng cụ thể. Vì vậy trong quá trình phân
tích phải bám vào các chi tiết, các biện pháp nghệ thuật cụ thể trong bài thơ, so sánh
hợp lý để làm nổi bật được vẻ đẹp của hình ảnh anh bộ đội giai đoạn đầu cuộc
kháng chiến chống Pháp trong thơ Chính Hữu.
a) Yêu cầu về nội dung bài văn: (5,0 điểm)
1. Giới thiệu được vài nét về hoàn cảnh sáng tác bài thơ và tác giả Chính Hữu.
(0,5 điểm)
2. Những yêu cầu cụ thể khi phân tích hình ảnh anh bộ đội trong bài thơ: (4,0
điểm)
+ Phân tích được cách giới thiệu độc đáo của bài thơ về hoàn cảnh xuất thân của
anh bộ đội – những người lính cách mạng. Cuộc kháng chiến đầy gian khổ để bảo
vệ Tổ quốc đã tạo nên cuộc gặp gỡ giữa những “người xa lạ” nhưng đã trở thành
“tri kỷ”.
+ Cảm nhận và phân tích được dụng ý nghệ thuật của nhà thơ Chính Hữu về
cách đặt nhan đề cho bài thơ “Đồng chí”. Hai tiếng “đồng chí” (đặt riêng thành một
dòng thơ) vừa giản dị gần gũi vừa thiêng liêng mới mẻ cất lên từ hiện thực cuộc
chiến tranh cách mạng do chính những anh bộ đội vốn xuất thân từ những vùng quê
nghèo tự nhận thức ra.

b) Ghi theo trí nhớ bài thơ “Đồng chí” (0,5 điểm)
Chép thuộc liên tục được 2 khổ thơ (cho 0,25 điểm), chép thuộc cả bài thơ (cho
0,5 điểm). Chép thuộc dưới 2 khổ thơ không có điểm (vì trong kỳ thi này đây chỉ là
yêu cầu thuộc bài). (0,5 điểm)
---------------------------------Hết--------------------------------Đề số 2.
Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của đoạn thơ sau:
Thuyền ta lái gió với buồm căng
Lướt giữa mây cao với biển bằng,
Ra đậu dặm xa dò bụng biển,
Dàn đan thế trận lưới vây giăng.
Cá nhụ cá chim cùng cá đé,
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe,
Đêm thở; sao lùa nước Hạ Long.
(Huy Cận, Đoàn thuyền đánh cá, SGK Ngữ văn 9, tập một, NXB GD Việt Nam)
/>
3


“Tài liệu ôn thi Ngữ văn vào lớp 10 THPT 2018 - Kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ”

(Trích đề tuyển sinh vào lớp 10 THPT tỉnh Thanh Hóa năm học 2017-2018, câu
3 (5,0 điểm)).
Hướng dẫn lập dàn ý:
*Yêu cầu về kĩ năng (0,5 điểm): Đảm bảo một bài văn nghị luận văn học hoàn
chỉnh, lập luận chặt chẽ, bố cục hợp lý; hành văn trong sáng, có cảm xúc; không
mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp…
*Yêu cầu về kiến thức (4,5 điểm): Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách
khác nhau nhưng cần đảm bảo những ý cơ bản sau:
1. Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm, đoạn thơ: (0,5 điểm)

3. Đánh giá khái quát: (0,5 điểm)
/>
4


“Tài liệu ôn thi Ngữ văn vào lớp 10 THPT 2018 - Kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ”

- Bằng bút pháp lãng mạn kết hợp với tả thực; biện pháp nhân hóa, liệt kê,
khoa trương, đoạn thơ là bức tranh đẹp, là khúc ca hùng tráng về thiên nhiên và
con người lao động, bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước cuộc sống
mới của miền Bắc trong những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. (0,25 điểm)
- Đoạn thơ nói riêng, bài thơ nói chung thể hiện sự đổi mới của phong cách
thơ Huy Cận sau cách mạng tháng Tám 1945. (0,25 điểm)
---------------------------------Hết--------------------------------Đề số 3.
Phân tích đoạn thơ sau:
“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ôi kì lạ và thiêng liêng- bếp lửa!
Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
- Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?...
(“Bếp lửa”- Bằng Việt)
Hướng dẫn lập dàn ý (đề 5,0 điểm):
I. Tiêu chí về nội dung (4,0 điểm): Bài viết cần bám sát các yêu cầu về nội

sớm” là “thói quen” nhưng đấy không phải là thói quen vô thức mà là trong ý thức
của bà. Từ “giữ” đã khẳng định điều đó.
+ Tác giả sử dụng điệp ngữ “nhóm” với những ý nghĩa khác nhau, bồi đắp cao
thêm, toả sáng dần dần: Từ nhóm bếp lửa để xua tan thời tiết giá lạnh đến nuôi
dưỡng “niềm yêu thương”; khơi dậy tình xóm láng và thắp sáng hoài bão, ước mơ
tuổi trẻ... Như vậy, bà “nhóm lửa” đâu chỉ bằng nhiên liệu ở bên ngoài mà bằng cả
tấm lòng “ấp iu nồng đượm”.
+ Nhà thơ đã cảm nhận được trong hình ảnh bếp lửa bình dị, thân thuộc sự kỳ
diệu, thiêng liêng: “Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa”. Bếp lửa luôn đi cùng hình
ảnh người bà- người phụ nữ Việt Nam muôn thuở với vẻ đẹp tảo tần, nhẫn nại và
đầy yêu thương. Bếp lửa là tình bà ấm nóng. Bếp lửa là tay bà chăm chút. Bếp lửa
gắn với những gian khổ đời bà,…
- Bếp lửa và hình ảnh người bà thân yêu đã trở thành một mảnh tâm hồn, một
phần ký ức không thể thiếu trong đời sống tinh thần của cháu.
2.3. Khổ thơ cuối thể hiện một cách đằm thắm tình thương nhớ, lòng kính
yêu, biết ơn của cháu với bà:
- Sau câu thơ tự sự “Giờ cháu đã đi xa”, ý thơ mở ra ở các chiều không gian,
thời gian, cảm xúc nhờ điệp từ “trăm” trong cấu trúc liệt kê “khói trăm tàu”, “lửa
trăm nhà”, “niềm vui trăm ngả”. Cháu đã đi xa, biết nhiều, hiểu nhiều cuộc đời đổi
thay theo hướng thật vui, thật đẹp...
- “Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:/ – Sớm mai này bà nhóm bếp lên
chưa”. Từ “Nhưng” mang ý nghĩa khẳng định, đó là lời hứa đinh ninh rằng dù ở nơi
đâu cháu vẫn không quên quá khứ, không nguôi nhớ bà, nhớ một thời ấu thơ gian
nan đói khổ mà ấm áp nghĩa tình. Mỗi chữ trong câu thơ cuối cứ hồng lên tình cảm
nhớ thương, ơn nghĩa. Đó là đạo lý uống nước nhớ nguồn, là tình cảm thuỷ chung
tốt đẹp của con người Việt Nam xưa nay...
* Khái quát: Mở ra và khép lại bằng hình ảnh “bếp lửa” vừa thực vừa mang ý
nghĩa biểu tượng, cảm xúc dạt dào, lời thơ tha thiết, hình tượng thơ độc đáo,... bài
thơ là dòng hồi tưởng, suy tưởng của người cháu về những năm tháng tuổi thơ được
/>

- Ánh trăng là đề tài quen thuộc của thi ca, là cảm hứng sáng tác vô tận cho các
nhà thơ.
- Nguyễn Duy, một nhà thơ tiêu biểu cho thế hệ trẻ sau năm 1975 cũng góp vào
mảng thơ thiên nhiên một “Ánh trăng”.
- Với Nguyễn Duy, ánh trăng không chỉ là niềm thơ mà cũng được biểu đạt một
hàm nghĩa mới, mang dấu ấn của tình cảm thời đại: Ánh trăng là biểu tượng cho quá
khứ trong mỗi đời người.
- Đối diện trước vầng trăng, người lính đó giật mình về sự vô tình trước thiên
nhiên, vô tình với những kỉ niệm nghĩa tình của một thời đã qua. Bài thơ “Ánh
trăng” giản dị như một niềm ân hận trong tâm sự sâu kín ấy của nhà thơ.
2. Thân bài.
2.1. Cảm nghĩ về vầng trăng quá khứ
- Ánh trăng gắn với những kỉ niệm trong sáng thời thơ ấu tại làng quê:
/>
7


“Tài liệu ôn thi Ngữ văn vào lớp 10 THPT 2018 - Kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ”

“Hồi nhỏ sống với rừng
Với sông rồi với biển”
- Con người khi đó sống giản dị, thanh cao, chân thật trong sự hoà hợp với thiên
nhiên trong lành: “trần trụi với thiên nhiên - hồn nhiên như cây cỏ”
- Ánh trăng gắn bó với những kỉ niệm không thể nào quên của cuộc chiến tranh
ác liệt của người lính trong rừng sâu.
“Hồi chiến tranh ở rừng
Vầng trăng thành tri kỉ
Trần trụi với thiên nhiên
Hồn nhiên như cây cỏ
Ngỡ không bao giờ quên



“Tài liệu ôn thi Ngữ văn vào lớp 10 THPT 2018 - Kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ”

+Tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” là tư thế đối mặt: “mặt” ở đây chính là vầng
trăng tròn. Con người thấy mặt trăng là thấy được người bạn tri kỉ ngày nào. Cách
viết thật lạ và sâu sắc!
- Ánh trăng đó thức dậy những kỉ niệm qúa khứ tốt đẹp, đánh thức lại tình cảm
bạn bè năm xưa, đánh thức lại những gì con người đã lãng quên.
+ Cảm xúc “rưng rưng” là biểu thị của một tâm hồn đang rung động, xao xuyến,
gợi nhớ gợi thương khi gặp lại bạn tri kỉ.
+ Nhịp thơ hối hả dâng trào như tình người dào dạt. Niềm hạnh phúc của nhà thơ
như đang được sống lại một giấc chiêm bao.
- Ánh Trăng hiện lên đáng giá biết bao, cao thượng vị tha biết chừng nào:
“Trăng cứ tròn vành vạnh
............. đủ cho ta giật mình”
+ Trăng tròn vành vạnh là hiện diện cho quá khứ đẹp đẽ không thể phai mờ. Ánh
trăng chính là người bạn nghĩa tình mà nghiêm khắc nhắc nhở nhà thơ và cả mỗi
chúng ta: con người có thể vô tình, có thể lãng quên nhưng thiên nhiên, nghĩa tình
quá khứ thì luôn tròn đầy, bất diệt.
+“Giật mình” là cảm giác và phản xạ tâm lí có thật của một người biết suy nghĩ,
chợt nhận ra sự vô tình, bạc bẽo, sự nông nổi trong cách sống của mình. Cái “giật
mình” của sự ăn năn, tự trách, tự thấy phải đổi thay trong cách sống. Cái “giật
mình” tự nhắc nhở bản thân không bao giờ được làm người phản bội quá khứ, phản
bội thiên nhiên, sùng bái hiện tại mà coi rẻ thiên nhiên.
=> Câu thơ thầm nhắc nhở chính mình và cũng đồng thời nhắc nhở chúng ta,
những người đang sống trong hoà bình, hưởng những tiện nghi hiện đại, đừng bao
giờ quên công sức đấu tranh cách mạng của biết bao người đi trước.
3. Kết luận:
- Bài thơ “Ánh trăng” là một lần “giật mình” của Nguyễn Duy về sự vô tình

nhưng cần đảm bảo những ý cơ bản sau:
1. Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm, đoạn thơ: (0,5 điểm)
- Viễn Phương là nhà thơ miền Nam trưởng thành trong kháng chiến chống
Pháp và chống Mĩ. Bài thơ Viếng lăng Bác được viết năm 1976, khi Viễn Phương
ra thăm niềm Bắc, vào lăng viếng Bác và được in trong tập Như mây mùa xuân
(1978).
- Hai khổ thơ trên nằm ở phần đầu của bài thơ, bộc lộ lòng thành kính và
niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ khi vào lăng viếng Bác.
2. Cảm nhận về vẻ đẹp của đoạn thơ:
2.1. Cảm xúc của nhà thơ về cảnh vật bên ngoài lăng: (khổ 1)
- Lời tự sự chứa đựng nhiều cảm xúc:
+ Cách xưng hô con – Bác vừa gần gũi thân thương, vừa trân trọng thành kính
như tình cảm của người con đi xa lâu ngày về thăm vị Cha già kính yêu. (0,25
điểm)
+ Cách nói giảm, nói tránh: thăm thay cho viếng giảm nhẹ nỗi đau mà vẫn
không giấu được nỗi xúc động trước hiện thực Bác đã đi xa. (0,25 điểm)
- Những cảm xúc của nhà thơ trước hình ảnh hàng tre quanh lăng:
+ Hình ảnh hàng tre vừa tả thực vừa mang tính tượng trưng, giàu ý nghĩa liên
tưởng. Cây tre là một ẩn dụ, biểu tượng cho tinh thần hiên ngang, bất khuất, sức
sống bền bỉ của dân tộc Việt Nam (Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng) (1,0 điểm).
+ Thán từ “Ôi” biểu thị niềm xúc động, tự hào về dân tộc Việt nam, về người
Cha đã làm nên lịch sử hào hùng của dân tộc. (0,25 điểm)
2.2. Niềm tôn kính của nhà thơ khi đứng trước lăng Bác: (khổ 2)
- Những suy tưởng của tác giả:
+ Hình ảnh ẩn dụ “mặt trời” (Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ) giàu sức
gợi, vừa nói lên sự vĩ đại của Bác Hồ, vừa thể hiện sự tôn kính của nhân dân, của
nhà thơ đối với Người. (0,5 điểm)
+ Màu sắc “rất đỏ” nói lên tư tưởng cách mạng và lòng yêu nước nồng nàn của
/>
10

Mà sao nghe nhói ở trong tim !
(Viếng lăng Bác - Viễn Phương)
Hướng dẫn làm bài (đề 5,0 điểm):
a) Về kĩ năng (0,5 điểm)
- Biết cách viết một bài văn nghị luận về một đoạn thơ.
- Văn phong trong sáng, có cảm xúc, lập luận chặt chẽ, bố cục mạch lạc; không
mắc lỗi chính tả, diễn đạt...
b) Về kiến thức (4,5 điểm)
Học sinh có thể sắp xếp các luận điểm theo nhiều cách khác nhau nhưng về cơ
bản, cần đảm bảo những nội dung sau:
* Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm, vị trí của đoạn thơ.
* Đến bên lăng, tác giả thể hiện tình cảm kính yêu sâu sắc của nhân dân với Bác.
/>11


“Tài liệu ôn thi Ngữ văn vào lớp 10 THPT 2018 - Kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ”

- Ngày ngày mặt trời của thiên nhiên vẫn toả sáng trên lăng, vẫn tuần hoàn tự
nhiên và vĩnh cửu.
- Từ mặt trời của tự nhiên tác giả đã liên tưởng và ví Bác như mặt trời - mặt trời
cách mạng đem đến ánh sáng cho cuộc đời, hạnh phúc cho cuộc đời, độc lập tự do
cho dân tộc - Sự vĩ đại, thể hiện sự tôn kính của nhân dân đối với Bác.
- Hình ảnh dòng người...... sự so sánh đẹp – tình cảm thương nhớ kính yêu của
nhân dân với Bác.
- Không gian trong lặng yên thiêng liêng và ánh sáng thanh khiết dịu nhẹ được
diễn tả: hình ảnh ẩn dụ vầng trăng sáng dịu hiền –nâng niu giấc ngủ bình yên của
Bác.
- Giấc ngủ bình yên: cảm giác Bác vẫn còn đó đang ngủ một giấc ngon sau một
ngày làm việc vất vả.
- Giấc ngủ có trăng vỗ về .Trong giấc ngủ vĩnh hằng có trăng làm bạn.


Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.
Khi đến trước lăng, tác giả chỉ tả chấm phá có mỗi hàng tre bên lăng: hàng tre ẩn
hiện trong sương bát ngát, màu xanh xanh, đứng thẳng hàng (2). Tả ít gợi nhiều,
tình cảm của tác giả bộc lộ ngay câu đầu “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác” chỉ
gỏn gọn như một lời thông báo nhưng lại gợi ra tâm trạng xúc động của người con
từ chiến trường miền Nam sau bao nhiêu năm mong mỏi bây giờ mới được ra viếng
Bác (3). Cách dùng đại từ xưng hô “ con” rất gần gũi, thân thiết, ấm áp tình thân
thương, cách nói giảm, nói tránh: từ “thăm” (Đến chơi để tỏ tìnhthân, sự quan tâm)
thay cho từ “viếng” (Đến trước linh cữu hoặc lăng mộ để tỏ lòng thương tiếc), giảm
nhẹ nỗi đau thương mất mát, ngụ ý Bác Hồ còn sống mãi trong tâm tưởng của mọi
người (4). Hình ảnh hàng tre vừa tả thực vừa mang tính chất ẩn dụ tượng trưng,
giàu ý nghĩa liên tưởng sâu sắc (5). Hàng tre ẩn hiện trong sương gợi không gian
rộng mà thiêng liêng (6). “Ôi!” là từ cảm thán, biểu thị niềm xúc động tự hào trước
hình ảnh hàng tre, chính là lòng tự hào dân tộc mình vừa chiến thắng oanh liệt (7).
Từ đó tác giả có những suy ngẫm sâu sắc: Hàng tre là hình ảnh hết sức thân thuộc
của làng quê, đất nước Việt Nam, đã thành một biểu tượng của dân tộc (8). Màu tre
xanh mang biểu tượng của tâm hồn thanh cao, hiền hoà (“xanh xanh Việt Nam”)
nhưng cũng mang sức sống bền bỉ, kiên cường của dân tộc ta “Bão táp mưa sa
đứng thẳng hàng” (9). Hình ảnh đẹp của hàng tre - dân tộc càng đẹp hơn khi quây
quần về đây, bên Người, canh cho giấc ngủ của Người được bình yên vĩnh hằng
(10).
Chú thích: Câu 4 là câu sử dụng thành phần biệt lập phụ chú.
---------------------------------Hết--------------------------------Đề số 8.
Cảm nhận và suy nghĩ của em về những điều người cha nói với con trong bài
"Nói với con" của Y Phương.
(Trích đề tuyển sinh vào lớp 10 THPT tỉnh Tuyên Quang năm học 2009–2010,
câu 3 (5,0điểm)

-> Nói với con những điều ấy, cha cho con hiểu những tình cảm cội
nguồn đã sinh dưỡng con để con yêu cuộc sống hơn.
b.Cha nói với con về quê hương, về "đồng mình"
1,0đ
- Cuộc sống của "người đồng mình" thương lắm bởi vất vả, gian nan.
- Nhưng người đồng mình sống đẹp: Sức sống mạnh mẽ, vất vả nhưng
khoáng đạt, gắn bó với quê hương; mộc mạc chân thật nhưng giàu ý chí,
niềm tin; mong xây dựng quê hương tốt đẹp
c.Người cha dặn dò con.
1,5đ
- Từ tình cảm gia đình, quê hương nhà thơ nâng lên lẽ sống cho con.
- Ca ngợi những đức tính cao đẹp của người đồng mình, cha mong con
sống có tình nghĩa với quê hương, biết chấp nhận gian khó và vươn lên
bằng ý chí của mình.
- Người cha muốn con hiểu, cảm thương cuộc sống còn khó khăn của quê
hương, tự hào với truyền thống quê hương để vững bước trên đường đời.
3. Đánh giá: Bằng những từ ngữ, hình ảnh giàu sức gợi cảm; cách nói
cụ thể, mộc mạc có tính khái quát,Y Phương giúp ta hiểu thêm về sức 1,0đ
sống và vẻ đẹp tâm hồn của một dân tộc miền núi, gợi nhắc tình cảm gắn
bó với truyền thống, với quê hương và ý chí vươn lên trong cuộc sống.
---------------------------------Hết--------------------------------Đề số 9.
Có ý kiến cho rằng: Bài thơ “Nói với con”, bằng những từ ngữ, hình ảnh giàu
sức gợi cảm, qua lời nhắn nhủ thiết tha với con, nhà thơ Y Phương đã thể hiện tình
cảm gia đình ấm cúng, ca ngợi truyền thống cần cù, sức sống mạnh mẽ của quê
hương và dân tộc mình.
Phân tích bài thơ để làm nổi bật sức hấp dẫn của nội dung đó.

/>
14


cho hoa, Con đường cho những tấm lòng). Chú ý phân tích hình ảnh vừa 0,5
cụ thể vừa biểu tượng hoa, tấm lòng; điệp từ cho thể hiện vẻ đẹp thiên
nhiên hào phóng mà yêu thương của rừng núi quê hương đối với con
người.
Từ đó, làm nổi bật nhắn nhủ của người cha; mong con biết nâng niu
trân trọng những giá trị gia đình, quê hương, dân tộc mình.
2) Ca ngợi truyền thống cần cù, sức sống mạnh mẽ của quê hương 1,0đ
và dân tộc, mong con kế thừa xứng đáng truyền thống ấy (Phân tích
đoạn II của bài thơ).
a) Ca ngợi người đồng mình sống vất vả mà mạnh mẽ, khoáng đạt, bền
bỉ, gắn bó với quê hương dẫu quê hương còn cực nhọc, đói nghèo. Từ đó
cha mong con sống nghĩa tình, chung thủy với quê hương, nguồn cội, biết
chấp nhận và vượt qua gian nan thử thách bằng nghị lực, niềm tin. Phân
tích đoạn thơ từ Người đồng mình....cực nhọc. Học sinh trong khi làm rõ
/>15


“Tài liệu ôn thi Ngữ văn vào lớp 10 THPT 2018 - Kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ”

nội dung trên phải biết bám sát các yếu tố: giọng thiết tha trìu mến thể
hiện ở lời gọi mang ngữ điệu cảm thán Người đồng mình thương lắm con
ơi thấm đượm niềm tự hào về quê hương và tha thiết yêu con: cách sử
dụng những hình ảnh vừa cụ thể vừa giàu ý nghĩa biểu tượng kết hợp với
điệp cấu trúc, so sánh Sống trên đá không chê đá gập ghềnh- Sống trong
thung không chê thung nghèo đói- Sống như sông như suối- Lên thác
xuống ghềnh- Không lo cực nhọc...thể hiện chân dung tâm hồn con người
xứ sở và tình cảm của người cha.
b) Ca ngợi người đồng mình mộc mạc, hồn nhiên nhưng giàu niềm tin
và chí khí. Họ có thể thô sơ da thịt nhưng không nhỏ bé về tâm hồn, ý chí 1,0đ
và mong ước xây dựng quê hương (ở đoạn thơ trên, nhà thơ đã từng



“Tài liệu ôn thi Ngữ văn vào lớp 10 THPT 2018 - Kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ”

Đề số 10.
Cảm nhận về lời tâm tình của người cha với con trong đoạn thơ sau:
Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục
Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con.
(Nói với con - Y Phương)
Hướng dẫn lập dàn ý (4,0 điểm)
A. Yêu cầu về kĩ năng:
- Học sinh thể hiện được sự cảm thụ sâu sắc, diễn đạt thành một bài văn hoàn
chỉnh có bố cục ba phần.
- Nêu được đức tính cao đẹp của người đồng mình và mong ước của người cha
- Biết phân tích kết hợp giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật. Văn viết trong
sáng, có cảm xúc.
- Biết trình bày suy nghĩ về trách nhiệm của thế hệ trẻ ngày hôm nay đối với việc
giữu gìn bản sắc văn hóa dân tộc…
B. Yêu cầu về kiến thức:
Bài viết cần làm rõ:
- Những đức tính cao đẹp của người đồng mình: có chí khí mạnh mẽ; sống thủy
chung tình nghĩa; phóng khoáng, đầy nghị lực; giàu lòng tự trọng; yêu quê hương
và giàu khát vọng xây dựng quê hương.(học sinh kết hợp phân tích các giá trị nghệ
thuật để làm nổi bật những đức tính cao đẹp)

Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu.
(Hữu Thỉnh, Sang thu)
(Trích đề tuyển sinh vào lớp 10 THPT - Thanh Hóa năm 2015-2016, câu 3(5,0
điểm)).
Hướng dẫn bài làm:
Yêu cầu:
Về kĩ năng (0,5 điểm): Đảm bảo một bài văn nghị luận văn học hoàn chỉnh, lập
luận chặt chẽ, bố cục hợp lý; hành văn trong sáng, có cảm xúc; không mắc lỗi chính
tả, dùng từ, ngữ pháp cơ bản…
Về kiến thức (4,5 điểm): Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác
nhau nhưng cần đảm bảo những ý cơ bản sau:
1. Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm và đoạn trích: (0,5 điểm)
- Hữu Thỉnh thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ.
Ông viết nhiều và viết hay về con người và cuộc sống ở nông thôn.
- Sang thu được viết cuối năm 1977, in trong tập Từ chiến hào đến thành
phố, xuất bản năm 1991.
- Đoạn trích là cảm nhận tinh tế của Hữu Thỉnh về thời khắc giao mùa nhẹ
nhàng mà rõ rệt qua các hình ảnh giàu sức biểu cảm.
2. Cảm nhận về vẻ đẹp của đoạn trích:
2.1. Khổ 1:
- Dấu hiệu của sự chuyển mùa được thể hiện qua hình ảnh: hương ổi /phả vào
trong gió se. Cái tinh tế của nhà thơ là ở chỗ cảm nhận mùa thu vừa bằng khứu
giác (hương ổi), xúc giác (phả), cảm giác (se lạnh) vừa như bằng vị giác và gợi
thị giác. Qua mùi thơm của hương ổi mà cảm nhận được vị chua chua, ngọt ngọt
và cả màu vàng ươm của quả ổi, Sự rung động, sự xao xuyến, bồi hồi của thi sĩ
/>
18


hình dung một bức tranh thiên nhiên sinh động, gợi cảm, đầy sức sống vào thời
điểm giao mùa từ hạ sang thu ở vùng nông thôn Bắc Bộ. Những câu thơ của Hữu
Thỉnh như có một chút gì đó vừa hồn nhiên, vừa thâm trầm, kín đáo. Nó giúp ta
cảm nhận được tình cảm thiết tha, tâm hồn tinh tế của nhà thơ giàu lòng yêu
thiên nhiên và cuộc sống. (0,25 điểm)
- Với thể thơ năm chữ mộc mạc, ngôn ngữ giản dị mà ý nghĩa sâu sắc, hình
ảnh đẹp và gợi cảm, đoạn thơ đem đến cho người đọc nhiều rung cảm và suy tư,
chiêm nghiệm trước cuộc đời. (0,25 điểm)
---------------------------------Hết--------------------------------Đề số 12.
Vẻ đẹp của bức tranh mùa thu lúc giao mùa trong bài Sang thu của Hữu Thỉnh.
Hướng dẫn bài làm (đề 5,0 điểm)
1.Mở bài:
/>
19


“Tài liệu ôn thi Ngữ văn vào lớp 10 THPT 2018 - Kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ”

- Mùa thu là đề tài muôn thuở của thơ ca. Biết bao nhà thơ đã dành tình yêu cho
mùa thu của đất trời, của lòng người. (0,25đ)
- Hữu Thỉnh viết bài thơ Sang Thu năm 1977, cũng viết về đề tài mùa thu nhưng
lại là thời khắc giao mùa từ hạ sang thu. (0,25đ)
- Cảm nhận về vẻ đẹp của cảnh sắc mùa thu lúc giao mùa từ hạ sang thu qua
tình cảm thiết tha và tâm hồn tinh tế của nhà thơ. (0,5đ)
2. Thân bài:
- Vẻ đẹp của đất trời trong thời khắc giao mùa từ hạ sang thu: (0,15đ)
+ Sự biến đổi của đất trời từ lúc sang thu: Tác giả nhận ra những tín hiệu hạ đang
qua và thu đang tới bằng sự chuyển mùa của ngọn gió se và bằng hương thơm của
ổi chín.
Từ Bỗng diễn tả sự đột nhiên nhận ra sự thay đổi của đất trời vao thời khắc giao


“Tài liệu ôn thi Ngữ văn vào lớp 10 THPT 2018 - Kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ”

3. Kết bài:
- Tác giả sử dụng thành công một số biện pháp tu từ nghệ thuật như nhân hóa,
ẩn dụ,…các biện pháp nghệ thuật có tác dụng nhấn mạnh vẻ đẹp của dịu dàng êm ả
của đất trời khi sang thu (0,5đ)
- Qua bài thơ, ta thấy lòng yêu thiên nhiên, yêu vẻ đẹp rất riêng của thời khắc
giao mùa và thấy được tâm trạng suy ngẫm của nhà thơ trước đất trời, trước cuộc
đời. (0,5đ)
---------------------------------Hết--------------------------------Đề số 13.
Cảm nhận về vẻ đẹp của người lính lái xe Trường Sơn thời chống Mĩ trong bài
thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật.
(Trích đề tuyển sinh môn Ngữ văn vào lớp 10 THPT– Tỉnh Long An năm học 20152016, câu 5,0 điểm).
Hướng dẫn bài làm:
A. Yêu cầu về kĩ năng:
- Biết vận dụng kĩ năng nghị luận về một bài thơ.
- Bố cục rõ ràng, diễn đạt lưu loát, ít sai lỗi về chính tả, dùng từ, ngữ pháp; chữ
viết rõ ràng, …
B. Yêu câu về kiến thức:
Trên cơ sở những hiểu biết về nhà thơ Phạm Tiến Duật và hình ảnh người lính lái
xe trong bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính, thí sinh có thể diễn đạt và trình
bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần làm rõ các ý cơ bản sau:
I. MỞ BÀI: (0,5 đ)
- Giới thiệu tác giả Phạm Tiến Duật, tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không 0,2
kính.
5
- Giới thiệu khái quát luận đề.
0,2
5

được bước chân người lính, không làm lung lạc ý chí chiến đấu giải
phóng miền Nam. (Không có kính, rồi xe không có đèn…Chỉ cần trong
xe có một trái tim).
2. Nghệ thuật:
- Thể thơ tự do; giọng điệu tự nhiên, trẻ trung tinh nghịch, ngang tàng,
mạnh mẽ, hào hùng; cấu trúc lặp (ừ thì, chưa cần).
- Nhiều điệp ngữ (không có kính, lại đi, nhìn,…), hình ảnh thơ độc đáo
(những chiếc xe không kính),… đã góp phần khắc họa đậm nét những
người lính lái xe ở Trường Sơn, làm nổi bật giá trị tư tưởng của bài thơ.
III. KẾT BÀI: (0,5 đ)
- Qua hình ảnh những chiếc xe không kính, tác giả khắc họa hình tượng
người lính lái xe Trường sơn trẻ trung, hiên ngang dũng cảm, chiến đấu vì
một lí tưởng cao cả, ...
- Họ chính là hình ảnh tiêu biểu cho cả thế trẻ Việt Nam thời kì chống Mĩ
cứu nước của dân tộc ta.
C. Cách chấm điểm:
- Điểm 5,0: Bài viết đáp ứng đầy đủ các yêu cầu nêu trên; sáng tạo
trong cảm nhận; bố cục rõ ràng, lời văn mạch lạc, lập luận chặt chẽ, thuyết
phục.
- Điểm 4,0 - 4,5: Bài viết đáp ứng các yêu cầu nêu trên; bố cục rõ
ràng, lời văn mạch lạc; lập luận thuyết phục.
- Điểm 3,0 - 3,5: Đáp ứng 2/3 yêu cầu về nội dung kiến thức; bố cục
rõ ràng, diễn đạt tương đối mạch lạc.
- Điểm 2,5: Đáp ứng 1/2 yêu cầu về nội dung kiến thức, bố cục
tương đối rõ, còn mắc một vài lỗi về diễn đạt.
- Điểm 1,5 – 2,0: Bài làm sơ sài, chưa cảm nhận được vẻ đẹp của
người lính lái xe Trường Sơn; mắc nhiều lỗi về diễn đạt, chính tả, dùng từ.
- Điểm 0,5 - 1,0: Bài làm xa đề, diễn xuôi thơ; diễn đạt lủng củng, bố
cục của bài văn không rõ ràng.
- Điểm 00: Bài làm lạc đề.

Dù là khi tóc bạc.”
(Ngữ văn 9, tập II, nhà xuất bản giáo dục, năm 2007).
Hướng dẫn bài làm (đề 5,0 điểm):
a. Mở bài: (0,5 điểm)
+ Dẫn dắt giới thiệu vấn đề (tác giả, tác phẩm, đoạn trích…)
+ HS không phải chép lại đoạn thơ.
b. Thân bài: (4 điểm) Phân tích làm nổi bật giá trị nội dung, nghệ thuật của đoạn
thơ.
Từ cảm xúc về mùa xuân của thiên nhiên, đất nước, mạch thơ chuyển một cách
tự nhiên sang bày tỏ suy nghĩ và tâm niệm của nhà thơ.
* Hai ý (luận điểm) cần làm sáng tỏ
1. Khát vọng, mong ước được sống ý nghĩa, được cống hiến cho đất nước, cho
cuộc đời của tác giả.
2. Ước nguyện ấy được thể hiện một cách chân thành, gián dị, khiêm nhường.
Một số phân tích cụ thể:
* Khổ 1: (2 điểm)
- Điều tâm niệm của nhà thơ được thể hiện một cách chân thành trong những
hình ảnh tự nhiên, giản dị và đẹp. Phân tích các hình ảnh: con chim hót, một cành
hoa, một nốt trầm xao xuyến… để thấy ước nguyện của Thanh Hải.
- Con chim hót, một cành hoa, đó là những hình ảnh đẹp của thiên nhiên. Ở phần
đầu bài thơ, vẻ đẹp của mùa xuân thiên nhiên đã được miêu tả bằng hình ảnh một
bông hoa tím biếc, bằng âm thanh của tiếng chim chiền chiện hót chi mà vang trời.
Đến khổ thơ này, tác giả lại mượn những hình ảnh ấy để nói lên ước nguyện chân
thành của mình: Đem cuộc đời mình hòa nhập và cống hiến cho đất nước…Giữa
bản hòa ca tươi vui đầy sức sống của cuộc đời, nhà thơ xin làm một nốt trầm xao
xuyến => Hiểu mối quan hệ riêng chung sâu sắc: Chỉ xin làm một nốt trầm trong
bản hòa ca chung.
- Điệp từ ta làm…, ta nhập vào… diễm tả một cách tha thiết khát vọng được hòa
nhập vào cuộc sống của đất nước được cống hiến phần tốt đẹp – dù nhỏ bé của cuộc
đời mình cho cuộc đời chung, cho đất nước.

- Học sinh tóm lại vấn đề (khẳng định giá trị của đoạn thơ, nêu cảm nghĩ của bản
thân).
---------------------------------Hết--------------------------------Đề số 15.
Đọc “ Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải, có ý kiến cho rằng: “Bài thơ
không chỉ có hình tượng đẹp mà còn đầy ắp chất nhạc, chất thơ.”
Em có đồng ý với nhận định trên?
(Trích đề tuyển sinh môn Ngữ văn vào lớp 10 THPT chuyên Nguyễn Trãi, tỉnh
Hải Dương năm học 2014-2015, câu 5,0 điểm).
Hướng dẫn bài làm:
1. Giải thích ý kiến:
- Hình tượng đẹp là hình ảnh mang tính tượng trưng khái quát, có khả năng gợi
liên tưởng sâu xa tới những ý nghĩa cao đẹp.
- Ý kiến trên nhấn mạnh đến tài năng của Thanh Hải trong việc xây dựng hình
tượng và tạo chất nhạc, chất thơ để thể hiện nội dung, tư tưởng chủ đề của tác phẩm.
Chú ý cặp từ “không chỉ”, “mà còn” thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố
này.
/>
24


“Tài liệu ôn thi Ngữ văn vào lớp 10 THPT 2018 - Kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ”

2. Học sinh bình luận được về nhận định trên, phân tích được bài thơ làm
sáng tỏ những vấn đề cơ bản:
- Mùa xuân là hình tượng đẹp và xuyên suốt bài thơ. Từ hình ảnh tả thực mùa
xuân - mùa khởi đầu của một năm, thời gian vạn vật sinh sôi nảy nở - Thanh Hải đã
mang lại cho hình tượng nhiều ý nghĩa, mà nghĩa nào cũng thật gợi cảm, thật đáng
yêu.
+ Gợi vẻ đẹp của thiên nhiên đất trời: từ những hình ảnh dung dị của mùa xuân,
tác giả đã tái hiện lên một bức tranh thiên nhiên xứ Huế trong sáng thơ mộng và



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status