rèn một số kĩ năng cơ bản khi làm bài nghị luận về tác phẩm truyện ( hoặc đoạn trích) cho hs lớp 9 - Pdf 24

A - ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LỜI MỞ ĐẦU.
Như chúng ta đã biết Tập làm văn là phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng
trong môn Ngữ văn. Nó thể hiện được sự đánh giá kết quả học tập thông qua hệ
thống các bài tập tạo lập văn bản cũng như thực hành sử dụng Tiếng Việt. Môn Tập
làm văn rèn cho học sinh sự diễn đạt phong phú, hình ảnh và mạch lạc; biết nhìn
nhận các vấn đề của cuộc sống một cách toàn diện và có chiều sâu. Nó là sản phẩm
cuối cùng của sự kết hợp tri thức 3 phân môn : Văn, Tiếng Việt và Tập làm văn;
đạt đến đích của giáo dục là rèn cho học sinh có những kiến thức và kĩ năng cơ bản
trong cách làm văn, giúp cho học sinh có thể thể hiện được sự sáng tạo, tư tưởng
trong bài văn của mình.
Trong chương trình Ngữ văn THCS, song song với việc tìm hiểu các văn bản tự
sự, trữ tình, miêu tả, biểu cảm, nghị luận trong giờ Đọc - hiểu văn bản, các em sẽ
được học cách tạo lập các kiểu văn bản này trong giờ Tập làm văn. Với quan điểm
chú trọng tới việc rèn luyện, nâng cao kĩ năng thực hành tao lập văn bản nói và viết
tiếng Việt, phân môn Tập làm văn đã xây dựng nội dung theo cấu trúc lặp lại và
nâng cao ở các lớp khác nhau cho hầu hết các kiểu văn bản. Đối với văn nghị luận
được chia làm hai loại là Nghị luận xã hội và Nghị luận văn chương. Riêng Nghị
luận xã hội khi học làm văn thì sẽ song song được học các văn bản nghị luận tương
ứng. Còn nghị luận văn chương thì không được sắp xếp như vậy ( do yêu cầu của
môn đọc - hiểu không phù hợp ). Trong 2 kiểu nghị luận văn chương thì Nghị luận
về một tác phẩm truyện ( hoặc đoạn trích ) được học trước, có vai trò tạo tiền đề cho
Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ - được đánh giá là khó hơn - ngay sau đó.
Tuy các em đã được học những kiến thức cơ bản về văn nghị luận nói chung và
bước đầu đã biết nêu cảm nghĩ về tác phẩm văn học thông qua kiểu văn biểu cảm,
nhưng có thể nói, khi làm bài Nghi luận về tác phẩm truyện ( hoặc đoạn trích ), học
sinh phải vận dụng tổng hợp rất nhiều kĩ năng, đòi hỏi một tư duy ở mức độ cao hơn
hẳn các kiểu làm văn đã học trước đó. Vì thế, có thể xem Nghị luận về tác phẩm
truyện là thể loại khó, vì nó yêu cầu thể hiện những nhận xét, đánh giá của bản thân
1
trước một tác phẩm văn học. Những nhận xét, đánh giá đó phải được thể hiện một

thức và kinh nghiệm giảng dạy. Vì vậy nhiều giáo viên còn lúng túng về phương
pháp, chưa coi trọng đúng mức việc rèn kĩ năng cho học sinh …dẫn đến giáo viên
thường dạy qua loa, nặng về lý thuyết. Trong khi đó, bài văn nghị luận về tác phẩm
truyện (hoặc đoạn trích) cùng với Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ là hai kiểu bài
chủ đạo ( tự luận vận dụng cao ), chiếm một dung lượng thời gian lớn cũng như
thang điểm cao trong các kì thi cuối kì, cuối năm, thi vào cấp 3 cũng như tuyển vào
các trường chuyên của tỉnh.
Về phía người học : nhiều năm dạy lớp 9, tôi nhận thấy rằng, khi làm kiểu bài
này, học sinh thường mắc một số lỗi cơ bản như sau:
Một là, diễn đạt tràn lan, bài văn thiếu luận điểm, luận điểm chưa phù hợp. Có
HS trong cả phần thân bài chỉ viết có một đoạn và không tìm thấy một luận điểm
nào.
Hai là các em chưa biết trình bày nhận xét, đánh giá, hầu như sa vào kể lại
truyện, hoặc tóm tắt các sự việc chính. Một số em đã biết chọn lọc và phân tích dẫn
chứng, lập tức lại chuyển sang phân tích một luận điểm khác mà không biết tổng
hợp, khái quát sau mỗi luận điểm ( Thao tác tổng hợp )
Ba là, học sinh chưa biết nhận xét đánh giá về yếu tố nghệ thuật, viết bài văn
nghị luận chưa hoàn chỉnh
Bốn là, việc diễn đạt của phần lớn học sinh còn yếu. Ngôn ngữ quá nôm na, đưa
cả ngôn ngữ nói vào ngôn ngữ viết. Lối diễn đạt lan man, luẩn quẩn làm cho giáo
viên chấm bài khá vất vả không biết cho điểm thành phần như thế nào cho phù hợp.
Đó là chưa kể đến các lỗi liên kết câu, đoạn, lỗi dùng từ đặt câu, lỗi chính tả…cũng
là nỗi vất vả không nhỏ của giáo viên dạy văn. Bởi việc chấm bài không chỉ chỉ ra
lỗi mà còn giúp các em sửa lỗi để viết tốt hơn ở những lần sau.
2. Kết quả của thực trạng
Thống kê kết quả bài viết Tập làm văn số 6 của học sinh lớp 9 trong năm học
2006 - 2007, 2007 - 2008 như sau :
3
Năm
học

1. Hướng dẫn học sinh nắm vững cốt truyện, các giá trị cơ bản, đặc sắc về nội dung và
nghệ thuật.
Có một thực tế là, học sinh khi bắt tay vào làm văn nghị luận - tức là đánh giá,
nhận xét về tác phẩm nghệ thuật mà chưa hề nắm vững cốt truyện, không nhớ truyện
có những sự việc gì, diễn biến tâm lý của nhân vật ra sao, đâu là yếu tố nghệ thuật
làm nên giá trị của truyện…Cho nên tôi cho rằng dạy các em làm văn nghị luận về
tác phẩm truyện ( hoặc đoạn trích ) thì trước hết là phải hướng dẫn các em nắm vững
cốt truyện, sau đó là phải hiểu tường tận tác phẩm ( đoạn trích ) mình đang nghị
luận. Điều này phải nhờ vào thời gian, cách tổ chức học tập giờ Đọc - hiểu văn bản.
Giáo viên cần phải hướng dẫn học sinh tìm hiểu thấu đáo các nội dung của văn bản,
cụ thể là : biết tóm tắt truyện, nắm vững tình huống truyện, tính cách, phẩm chất của
nhân vật chính, giá trị nội dung mà truyện hướng đến người đọc, những thành công
về nghệ thuật…Để đạt được tất cả các nội dung trên, trong khoảng 1-2 tiết học thì
4
cần hai yếu tố: một là giáo viên phải nhuần nhuyễn kiến thức, chuẩn bị bài thật chu
đáo. Hai là học sinh phải đọc văn bản thật kĩ ở nhà, soạn bài chu đáo, có thái độ học
tập tích cực. Muốn đạt điều này, giáo viên cần phải yêu cầu cao, buộc học sinh phải
chuẩn bị bài ở nhà thật tốt . Chẳng hạn, để học sinh có thói quen tóm tắt truyện và
rèn kĩ năng tóm tắt truyện thì trong giờ Đọc - hiểu văn bản, việc tóm tăt văn bản
xem như là một yêu cầu bắt buộc, giáo viên có thể yêu cầu bất kì một em nào tóm tắt
văn bản. Có thể khuyến khích bằng cách cho điểm và cũng nên phạt thông qua con
điểm. Như vậy, học sinh buộc phải đọc kĩ văn bản ở nhà, tránh soạn bài đối phó
bằng cách chép tài liệu hưóng dẫn. Trường hợp kĩ năng tóm tắt của học sinh quá yếu
thì giáo viên phải hướng dẫn chu đáo thao tác này ( Thậm chí cần thiết phải cho học
sinh ghi những sự việc chính của truyện ). Chỉ có nắm vững nội dung cốt truyện thì
mới nhận xét, đánh giá được nó. Đây là tiền đề để làm tốt kiểu bài nghị luận truyện,
nếu giáo viên lơ là ở khâu này thì dù các em có nắm vững cách làm kiểu bài thì đầu
óc vẫn rỗng tuếch không thể viết “ thành văn” được.
2.Hướng dẫn học sinh nắm vững bản chất của kiểu bài và cách làm bài.
2.1 Hướng dẫn học sinh nắm vững bản chất của kiểu bài.

quan trọng. Các bài văn mẫu dùng để hướng dẫn học sinh tìm hiểu kiểu bài và
hướng dẫn cách làm bài đều chủ yếu tập trung phân tích ( hoặc suy nghĩ, cảm nhận )
về một nhân vật văn học. Tuy nhiên đề cho kiểu bài này lại tương đối phong phú và
đa dạng, Có thể nhóm lại các dạng chính như sau :
- Nghị luân về toàn bộ tác phẩm truyện ( hoặc đoạn trích).
- Nghị luận về nhân vật văn học.
- Nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn học.
- Nghị luận về một vấn đề có liên quan đến tác phẩm văn học.
- Nghị luận về một chi tiết, một yếu tố nghệ thuật.
- Nghị luận riêng về các yếu tố nghệ thuật trong tác phẩm …
Do sự đa dạng của đề bài, giáo viên luôn phải hướng dẫn HS xác định cụ thể yêu
cầu, phạm vi, tính chất của đề bài để từ đó có hướng làm bài phù hợp. Đặc biệt học
sinh phải quan tâm đến các từ lệnh của đề. Nếu đề yêu cầu phân tích thì lần lượt
6
phân tích các giá trị nội dung và nghệ thuật để làm rõ vấn đề; đề yêu cầu suy nghĩ thì
phải có thêm những nhận xét đánh giá riêng của người viết; hoặc đề yêu cầu cảm
nhận thì phải thể hiện rõ những tình cảm, thái độ, cảm xúc của người viết đối với
vấn đề nghị luận; nếu là đề mở thì đương nhiên không chỉ dừng lại ở phân tích mà
phải có cả suy nghĩ, cảm nhận của người viết. Các từ lệnh chỉ có tính chất định
hướng cho sắc thái riêng của bài viết, còn về cơ bản không thể bỏ qua thao tác phân
tích, đánh giá. Vì chúng đều có dạng chung: Nghị luận về một tác phẩm truyện
(hoặc đoạn trích ).
Có thể nói rằng, trước một đề văn, việc hỏi để học sinh xác đinh rõ yêu cầu đề
bài định hướng tìm ý là cần thiết.
VD : Đề văn : Cảm nhận về tình cha con trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh
qua trích đoạn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng.
? Xác định thể loại, phạm vi của đề bài bằng cách gạch chân các từ ngữ quan trọng?
? Với yêu cầu cảm nhận, em có địng hướng gì khi làm bài?
- Phân tích rồi nêu cảm nhận.
- Phân tích lồng cảm nhận.

sống nông thôn, hầu như chỉ viết về sinh hoạt làng quê và cảnh ngộ người nông dân.
Khi nghi luận về tác phẩm Chiếc lược ngà thì luôn phải đặt vào thời điểm ra đời của
tác phẩm
( năm 1966 ), cách chọn và khai thác đề tài…Về ý thứ hai của phần mở bài, tức là
nêu vấn đề nghị luận - cũng chính là luận điểm bao quát của cả bài - thì phải căn cứ
vào đề bài. Nếu đề cho sẵn một nhận xét thì cần trích dẫn lời nhận xét đó làm vấn
đề nghị luận . Nếu đề bài chưa có yêu cầu cụ thể, học sinh cần xác định rõ vấn đề
nghị luận bám sát yêu cầu đề bài. Chẳng hạn đề bài yêu cầu phân tích nhân vật Ông
Hai ( Làng, Kim Lân ) thì vấn đề nghị luân chính là nét tính cách nổi bật của nhân
vật Ông Hai…
Sau khi học sinh đã biết làm đúng yêu cầu của phần mở bài, giáo viên nên gợi
mở cho các em các cách vào đề hay, gây ấn tượng, tạo cảm xúc cho người đọc. Có
rất nhiều cách mở bài như :
8
- Đi từ vai trò, vị trí của nhà văn trong nền văn học dẫn đến vấn đề nghị luận ( Tất
nhiên để tránh sáo rỗng thì cách này chỉ phù hợp với các nhà văn lớn như Nguyễn
Du, Nam Cao, Nguyễn Minh Châu…)
- Đi từ ấn tượng cảm xúc của người đọc về tác phẩm đến vấn đề nghị luân ( Phù
hợp hơn cho dạng đề cảm nhận )
- Đi từ đề tài chung đến vấn đề nghị luận.
- Đi từ hình tương chung đến vấn đề cụ thể…
Có thể cho các em tham khảo một số mở bài khác nhau để các em học tập. Các
mở bài này được lấy trong tài liệu tham khảo hoặc bài làm của học sinh giỏi các
khoá trước mà giáo viên tích luỹ được.
- Thân bài.
Cần giúp học sinh biết cách thiết lập hệ thông luận điểm, cách triển khai từng
luận điểm, trong đó chú trọng kĩ năng diễn đat, lập luận; kĩ năng sắp xếp và liên kết
đoạn.
( Yêu cầu này sẽ được trình bày cụ thể ở phần sau )
- Kết bài.

ra điểm mới của tác phẩm.
Ví dụ : Phân tích truyện ngắn Làng của Kim Lân:
- Giới thiệu tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm ; khái quát những giá trị cơ
bản về nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn Làng ( Mở bài )
- Giới thiệu tình huống truyện ( hai tình huống ), tập trung vào tình huống gay
cấn có ý nghĩa thử thách tình cảm của nhân vật: Ông Hai nghe tin làng Chợ Dầu
theo giặc
- Tập trung phân tích diễn biến tâm trạng Ông Hai để khẳng định : tình yêu làng
quê hoà quyện trong tình yêu nước và tinh thần kháng chiến của người nông dân
được thể hiện chân thực, sâu sắc.
- Phân tích những thành công về mặt nghệ thuật : Cách chọn và khai thác đề tài ,
cách xây dựng và miêu tả tâm lý nhân vật, ngôn ngữ, cách tạo tình huống…
10
- Khái quát chung, chỉ ra nét mới có sự thay đổi về chất trong việc diễn tả tình cảm
của người nông dân. Điều đó chỉ xuất phát từ sự am hiểu, gắn bó thiết tha của người
viết đối với người lao động.
Học sinh cần căn cứ vào tác phẩm ( đoạn trích ) cụ thể để có những phân tích
tiêu biểu, có thể mỗi tác phẩm có những đặc sắc riêng. Chẳng hạn, nếu phân tích
Làng phải chú ý đến tình huống thì phân tích Lặng lẽ Sa Pa lại quan tâm đến chất
trữ tình - yếu tố góp phần làm nên sức hấp dẫn của truyện…
Khi phân tích tác phẩm ( hoặc đoạn trích ) thì phải phân tích một cách toàn diện
tất cả các giá trị nổi bật, những vấn đề đặt ra của tác phẩm. Để làm sáng tỏ được tất
cả các vấn đề trên trong một thời gian có hạn thì việc sắp xếp, chọn lựa các ý phải
linh hoạt và khoa học, nếu không sẽ sa vào phân tích nhân vật hoặc rơi vào tình
trạng “Đầu voi đuôi chuột”.
3.2. Nghị luận về một nhân vật văn học.
Đây là dạng đề phổ biến nhất.Trong tác phẩm tự sự, nhà văn “nói” qua nhân
vật. Nhân vật chính là nơi mang trở nội dung phản ánh, tư tưởng, chủ đề của tác
phẩm, là nơi kí thác quan niệm về con người, về nhân sinh của nhà văn. Bởi thế,
phân tích nhân vật trở thành con đường quan trọng để đi đến những giá trị của tác

( Thời đại, cách nhìn, cách đánh giá từ các nhân vật khác…)
- Yếu tố nghệ thuật nào góp phần thể hiện rõ tính cách, phẩm chất nhân vật
3.3. Nghị luận về một vấn đề liên quan đến tác phẩm văn học ( Dạng đề tổng
hợp )
Đây là dạng đề khó, yêu cầu khả năng nắm bắt, tư duy và khái quát cao. Đềlại
tương
đối đa dạng, đề cập đến nhiều vấn đề trong cuộc sống. Các dạng đề này thường là từ
một nhân vật khái quát về cả một lớp người cùng thời đại; từ một hoặc hai tác phẩm
(đoan trích ) khái quát lên phong cách sáng tác, tài năng nghệ thuật hoặc vấn đề xã
hôi có liên quan… Đề loại này thường ra cho đối tượng học sinh giỏi. Mặc dù vậy,
giáo viên cũng nên cho học sinh làm quen và hướng dẫn cho các em hướng làm bài.
12
Ví dụ : Suy nghĩ về thân phận người phụ nữ dưới xã hội cũ qua nhân vật Vũ
Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ.
Với đề bài trên có thể định hướng cho học sinh cách làm bài :
Cách 1: Phân tích nhân vật Vũ Nương, sau đó nêu suy nghĩ về người phụ nữ trong
xã hội cũ.
Cách 2: Nêu suy nghĩ về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ, sau đó chứng
minh qua nhân vật Vũ Nương.
Cách 3: Phân tích nhân vật Vũ Nương xen lẫn với những nhận định, đánh giá về
thân phận người phụ nữ.
3.4. Nghị luận về một yếu tố, một chi tiết nghệ thuật.
Đây là kiểu bài nghị luận ngắn, với thang điểm trung bình ( Khoảng 2-3 điểm/
10 ). Tuy nhiên kiểu bài này đòi hỏi những nhận định khá sâu sắc, với khả năng
phân tích đánh giá cao mà không phải học sinh nào cũng làm tốt bài. Tuy chỉ là một
yếu tố hay chi tiết nghệ thuật nhưng hiểu hết được giá trị của nó phải đặt trong toàn
bộ văn bản, được soi sáng bởi các giá trị của tác phẩm. Trong tiết đọc - hiểu, do
dung lượng thời gian có hạn, giáo viên cũng chỉ hưóng dẫn những vấn đề cơ bản,
trọng tâm, có tính chất định hướng, nêu vấn đề. Vì vậy, làm kiểu đề này hoàn toàn
dựa vào năng lực cảm thụ của học sinh, đòi hỏi người làm bài phải hết sức nhạy cảm

thôi.
+ Chứng kiến những sa sút của quê hương, nhân vật tôi hi vọng những đổi thay
cho quê hương nghèo. Con đường không phải tự nhiên mà có mà do con người làm
ra, do nhiều người làm ra. Tuy ban đầu có thể gặp khó khăn, trông gai, thử thách
nhưng chắc chắn sẽ thành công ( Người ta đi mãi thì thành đường thôi ). So sánh hi
vọng như con đường để khẳng định nếu cố gắng, hi vọng sẽ trở thành sự thực.
+ Từ một hình ảnh thực, tác giả khái quát lên một quy luật : Không phải mọi thứ
đều tự nhiên sinh ra mà phải do bàn tay con người tạo nên. Con đường còn có nghĩa
là con đường đời, con đường tự do hạnh phúc, no ấm, đủ đầy ; con đường mới cho
quê hương không còn những hủ tục, cách bức, ti tiện, đói nghèo. Đó là con đường
tốt đẹp do nhiều người chung tay tạo nên.
14
+ Đây cũng là một mơ ước và hi vọng hết sức trách nhiệm, thể hiện tình cảm sâu
nặng của nhân vật tôi đối với quê hương ( cũng là của tác giả Lỗ Tấn )
+ Hình ảnh con đường góp phần làm cho giá trị câu truyện thêm sâu săc và giàu tính nhân
đạo.
+ Con đường đã trở thành lẽ sống, mục tiêu phấn đấu cho đến tận hôm nay của
người dân Trung Quốc nói riêng và cho tất cả mọi người nói chung…
Tóm lại, đề nghị luận văn học nói chung, nghị luận về tác phẩm truyện ( hoặc
đoạn trích) nói riêng vốn rất đa dạng, xoay quanh nhân vật, chủ đề, tình huống, nghệ
thuật…Trên đây mới chỉ điểm qua một vài dạng tiêu biểu mà học sinh thường xuyên
phải làm. Những định hướng làm bài trên đây cũng mới mang tính gợi mở các ý nên
làm, không phải là công thức bắt buộc. Hơn nữa, viết văn không bao giờ là bắt
buộc theo công thức, cần tôn trọng những sáng tạo của các em miễn là có lý. Vì thế
rất cần một sự linh hoạt của thầy, cô giáo để đánh giá đúng công sức của học trò,
tránh để các em có những thiệt thòi không đáng có.
4. Rèn kĩ năng thiết lập và triển khai luận điểm.
4. 1. Rèn kĩ năng thiết lập luận điểm.
Có thể xem, trong một bài văn nghị luận , hệ thống luận điểm được chia thành
hai loại: Luận điểm thành phần và luận điểm tổng quát. Luận điểm tổng quát bao

phẩm chất tiêu biểu, không nhất thiết phải theo thứ tự kể của tác giả trong truyện.
4.2. Rèn kĩ năng triển khai luận điểm.
Có thể nói, biết cách xây dựng luận điểm mới được “bộ khung” của một bài
văn, giống bộ khung của một cơ thể sống. Muốn bài văn trở thành một cơ thể hoàn
chỉnh, sống động và linh hoạt thì việc triển khai luận điểm là vô cùng quan trọng.
Nó đòi hỏi nhiều vào trí tuệ, thái độ học tập và một phần năng khiếu của người viết
văn. Muốn làm rõ luận điểm thì phải có luận cứ ( lí lẽ, dẫn chứng ) tiêu biểu, nghĩa
là phải đầy đủ, chặt chẽ, chính xác có tình có lý. Có luận cứ rồi thì phải lập luận, tức
là sắp xếp, trình bày luận cứ trở thành căn cứ vững chắc làm sáng tỏ luận điểm, có
sức thuyết phục người đọc, người nghe. Có được sự thuyết phục này không giản đơn
16
là sự phân tích khô khan lạnh lùng mà xuất phát từ sự thấu hiểu tác phẩm, sự thông
cảm, đồng cảm đối với nhân vật…
Để đạt được các yêu cầu trên đối với học sinh THCS quả không dễ dàng gì. Cần
phải hướng dẫn các em từng thao tác, kĩ năng nhỏ. Mỗi kĩ năng, thao tác cần có mẫu
minh hoạ để các em học tập theo mâu. Mẫu phải đa dạng để các em không máy móc
theo mẫu, lại phải gợi mở để các em hình dung tưởng tượng tư duy đa dạng không
dập khuôn theo những điều có sẵn. Trước hết, cần tập cho học sinh triển khai 1 luận
điểm cụ thể. Chẳng hạn, với luận điểm Nỗi đau đớn, dằn vặt của ông Hai khi nghe
tin làng Chợ Dầu theo giặc, đầu tiên cho HS tìm chọn dẫn chứng. Dẫn chứng cho
luận điểm này rất nhiều, khi nghe tin- trên đường trở về- về đến nhà… Nếu chọn quá
tham sẽ mất nhiều thời gian. Vì vậy, nên gợi ý cho các em chọn ít nhưng tiêu biểu,
có ở tất cả các chặng. Cụ thể là : Khi nghe tin dữ cổ ông lão nghẹn ắng lại, da mặt
tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được, giọng lạc hẳn đi…Trên
đường về trái hẳn với sự háo hứng khi đi ông cúi gằm mặt xuống mà đi. Về nhà ông
nằm vật ra giường, nước mắt cứ giàn ra… Dẫn chứng cho bài Nghị luận truyện
không nhất thiết phải dẫn trực tiếp mà có thể dẫn gián tiếp như những suy ngẫm của
ông Hai về những người làng Chợ Dầu, không khí căng thẳng của gia đình ông Hai.
Nỗi sợ hãi của ông khi nghe tiếng mụ chủ nhà, của mọi người nói chuyện…Tìm
được dẫn chứng rồi phải dùng lí lẽ để dẫn dắt, liên kết, phân tích đồng thời đánh giá

phẩm nghệ thuật duy nhất trong cuộc đời. Tác phẩm ấy trở thành vô giá bởi nó là
sản phẩm của tình yêu con vô bờ của người cha.
Để tập cho học sinh biết bình giá chi tiết, ngay từ tiết đọc- hiểu, giáo viên nên
lưu ý tập cho các em kĩ năng này.
* Rèn kĩ năng liên hệ, mở rộng.
Khi triển khai luận điểm, giáo viên cũng cần hướng dẫn các em kĩ năng liên hệ,
đối chiếu, mở rông, nâng cao ( Thường ở luận điểm khái quát của bài ). Có thể liên
hệ với cuộc đời và phong cách sáng tác của chính tác giả, với hoàn cảnh ra đời của
tác phẩm; hoặc với các tác phẩm khác cùng chủ đề. Nếu là đoạn trích thì phải đặt
trong mối quan hệ với toàn bộ tác phẩm. Luôn có sự nhìn nhận vấn đề trong từng
18
giai đoạn của lịch sử, trong sự liên hề với nhiều người hoặc với bản thân người
viết…
* Rèn kĩ năng chuyển đoạn và liên kết đoạn.
Cần rèn cho HS thói quen chuyển đoạn sau mỗi ý và mỗi luận điểm. Giữa các đoạn
cần có sự liên kết.Việc liên kết phải đảm bảo nối ý của đoạn trước với đoạn sau để
văn bản là một khối liền mạch thông suốt. Tập cho các em dùng các từ nối có tác
dụng liên kết như : nếu…thì; bên cạnh đó…còn; không những…mà còn; tóm lại…
Ví dụ : Cùng với tình cảm mãnh liệt của bé Thu dành cho cha thì ông Sáu cũng
là người cha dành cho con những tình cảm vô cùng sâu đậm.
Tuy nhiên cũng phải lưu ý là, việc liên kết không phải có một cách duy nhất là
dùng từ nối
,mà còn dựa vào ý tứ câu văn, đoạn văn. Nếu bài văn chỉ liên kết bằng các quan
hệ từ cũng
chưa phải là bài văn hay, thâm chí sẽ bị "cứng" . Học sinh cần linh hoạt khi làm bài.
* Rèn kĩ năng diễn đạt .
Học sinh làm bài thông thường theo thói quen, việc sửa lỗi được thực hiện chậm
. Lỗi diễn đạt, trình bày là một trong các lỗi phổ biến nhất là đối với HS trung bình
đến kém. Với đối tượng này, tốt nhất yêu cầu các em tập viết câu ngắn. Trong
trường hợp học sinh diễn đạt vòng vèo, không rõ nghĩa phải yêu cầu học sinh sửa lại

cầu về cảm xúc. Với yêu cầu như vậy, cần có sự giúp đỡ thực sự hiệu quả từ phía
các thầy, cô giáo. Hơn nữa, cùng với quan điểm đổi mới cách kiểm tra đánh giá hiện
nay người ra đề quan tâm nhiều hơn với dạng đề mở. Rèn cho các em các kĩ năng
cần thiết tức là trang bị cho các em một tâm thế tự tin có thể làm tốt bất cứ một đề
văn nào. Điều này không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với dạng Nghị luận về một
tác phẩm truyện ( hoặc đoạn trích ) mà còn có ý nghĩa cho tất cả các kiểu bài làm
văn khác.
Sau một vài năm vân dụng kinh nghiệm đã trình bày ở trên vào việc rèn cho các
em kĩ năng làm văn Nghị luận về tác phẩm truyện ( hoặc đoạn trích ), tôi thấy chất
lượng làm bài của các em trong hai năm gần đây đã tiến bộ rõ rệt
2. Kết quả đạt được.
20
Năm
học
Tổng
số HS
Tên bài
kt
Điểm
0 - <2
Điểm
2 - <5
Điểm
5<6,5
Điểm
6,5- <8
Điểm
8 - 10
Điểm
> TB

định hướng làm bài, huy động kiến thức cần thiết rồi mới bắt tay vào việc lập dàn
bài ; chú trọng rèn kĩ năng thiết lập và triển khai luận điểm khi làm văn nghị
luận.
5. Phải động viên, khuyến khích kịp thời trước mỗi sáng tạo của học trò và uốn
nắn ngay và triệt để khi các em mắc lỗi.
Những điều suy nghĩ của tôi trên đây chắc chắn còn nhiều điểm hạn chế và
không tránh khỏi thiếu sót. Rất mong sự góp ý, phê bình của các cấp lãnh đạo và các
thầy, cô giáo đồng nghiệp.
Phúc Thịnh, ngày 31/3/2011
21
Giáo viên
Hoàng Văn Minh 22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status